Phân tích thành phần hóa học thực vật và xác định khả năng chống oxy hóa và kháng khuẩn của dịch chiết từ lá của cây khôi nhung (Ardisia silvestris Pitard)

28  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
Phytochemical analysis of Ardisia silvestris leaf extracts and their antioxidant and  
antibacterial activities  
Biet V. Huynh1∗, Phuong N. T. Nguyen2, Nga T. T. Nguyen3,4  
Toan Q. Truong1, & Hong C. V. Phung1  
,
1Research Institute for Biotechnology and Environment, Nong Lam University, Ho Chi Minh City, Vietnam  
2Faculty of Applied Science, Ton Duc Thang University, Ho Chi Minh City, Vietnam  
3Department of Biotechnology, Nong Lam University, Ho Chi Minh City, Vietnam  
4Faculty of Agriculture, Vietnam National University of Forestry (Dong Nai Campus), Dong Nai, Vietnam  
ARTICLE INFO  
ABSTRACT  
Research Paper  
The phytochemical analysis and antibacterial and antioxidant activity  
of Ardisia silvestris extracts were carried out. The bioactive compounds  
Received: December 16, 2019  
Revised: February 10, 2020  
of Ardisia silvestris leaves were extracted with petroleum ether, ethyl  
acetate, ethanol and water by immersion and microwave method. The  
Accepted: May 13, 2020  
DPPH method was used to determine the antioxidant activity of Ar-  
disia silvestris extracts. The antibacterial properties of Ardisia silvestris  
tested against of Staphylococcu saureus, Samonella sp., and Escherichia  
coli were determined by using agar diffusion method. The agar diffu-  
sion method was used to determine the antibacterial effects of both  
plant extracts on the test organisms. The results showed that Ardisia  
silvestris leaves contained compounds such as essential oils, fats, alka-  
loids, flavonoids, coumarins, tannins, anthocyanoids, carotenoids, organic  
acids, reducing agents, proanthocyanidins, saponins and anthraquinones.  
Ardisia silvestris leaves had a total polyphenol content of 0.26% dry mat-  
ter, tannin of 8.8%, and a total flavonoid of 1.44 mg/g. The ethyl acetate  
extract and water extract of the leaves had the antioxidant activity and  
were 4.2 and 4.4 times lower than ascorbic acid, respectively. The ethyl  
acetate extract of Ardisia silvestris had the highest oxidative activity.  
The zone of inhibition of the plant extract diameters at the concentra-  
tion of 100 l/ml ranged between 9.67mm and 20.67mm for ethyl acetate  
and ethanol extracts, respectively on E.coli. Similarly, the zones of in-  
hibitionof ethyl acetate and ethanol extracts diameters were 14.67 and  
15.33 mm, respectively on Samonella sp., however, it was not shown for  
Staphylococus aureus.  
Keywords  
Antibacterial activities  
Antioxidant  
Ardisia silvestris  
Phytochemical analysis  
∗Corresponding author  
Huynh Van Biet  
Email: hvbiet@hcmuaf.edu.vn  
Cited as: Huynh, B. V., Nguyen, P. N. T., Nguyen, N. T. T., Truong, T. Q., & Phung, H. C.  
V. (2020). Phytochemical analysis of Ardisia silvestris leaf extracts and their antioxidant and  
antibacterial activities. The Journal of Agriculture and Development 19(4), 28-35.  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(4)  
 
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
29  
Phân tích thành phần hóa thực vật và xác định khả năng chống oxy hóa và kháng  
khuẩn của dịch chiết từ lá của cây khôi nhung (Ardisia silvestris Pitard)  
Huỳnh Văn Biết1∗, Nguyễn Thị Ngọc Phương2, Nguyễn Thị Thanh Nga3,4  
Trương Quang Toản1 & Phùng Võ Cẩm Hồng1  
,
1Viện Nghiên Cứu Công Nghệ Sinh Học Và Môi Trường, Trường Đại Học Nông Lâm TP. HCM, TP. Hồ  
Chí Minh  
2Khoa Khoa Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Tôn Đức Thắng, TP. Hồ Chí Minh  
3Bộ Môn Công Nghệ Sinh Học, Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM, TP. Hồ Chí Minh  
4Khoa Nông Học, Trường Đại Học Lâm Nghiệp - Phân Hiệu Đồng Nai, Đồng Nai  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
TÓM TẮT  
Bài báo khoa học  
Khảo sát sơ bộ thành phần hóa thực vật, định lượng một số hợp  
chất và xác định khả năng kháng khuẩn, khả năng kháng oxy hóa  
Ngày nhận: 16/12/2019  
Ngày chỉnh sửa: 10/02/2020  
Ngày chấp nhận: 13/05/2020  
từ lá cây khôi nhung (Ardisia silvestris) đã được thực hiện. Các hợp  
chất của lá cây khôi nhung được ly trích với dung môi petroleum  
ether, ethylacetate, ethanol và nước bằng phương pháp ngâm dầm  
và đánh vi sóng. Khả năng chống oxy hoá của các dịch chiết lá cây  
khôi nhung được xác định bằng phương pháp DPPH. Khả năng kháng  
khuẩn Staphylococcu saureus, Samonella sp. và Escherichia coli của  
các cao chiết lá cây khôi nhung được xác định bằng phương pháp  
khuếch tán đĩa thạch. Các dung môi petroleum ether, ethyl acetate,  
ethanol và nước được dùng cho li trích. Kết quả cho thấy lá cây  
khôi nhung có chứa các hợp chất như tinh dầu, chất béo, alkaloid,  
flavonoid, coumarin, tanin, anthocyanoid, carotenoid, các acid hữu  
cơ, chất khử, proanthocyanidin, saponin và anthraquinon. Hàm lượng  
Từ khóa  
Cây khôi nhung Ardisia silvestris  
Chống oxy hoá  
Kháng khuẩn  
Phân tích hoá thực vật  
polyphenol có trong lá cây khôi nhung là 0,26% chất khô. Hàm lượng  
tanin của lá cây khôi là 8,80%. Hàm lượng Flavonoid của lá cây khôi  
nhung là 1,442 mg/g. Dịch chiết ethyl acetate và dịch chiết nước của  
lá cây khôi nhung có khả năng kháng oxy hóa, nhưng thấp hơn so  
với acid ascorbic lần lượt là 4,2 và 4,4 lần. Dịch chiết ethyl acetate  
của lá khôi nhung có hoạt tính oxy hóa cao nhất. Các dịch chiết ethyl  
acetate và dịch chiết ethanol thể hiện rõ tính kháng vi khuẩn thông  
qua đường kính vòng vô khuẩn, đối với vi khuẩn E.coli lần lượt từ  
∗Tác giả liên hệ  
9,67 mm đến 20,67 mm và Salmonella sp. là 14,67 mm và 15,33 mm,  
tuy nhiên không thể hiện đối với vi khuẩn Staphylococus aureus.  
Huỳnh Văn Biết  
Email: hvbiet@hcmuaf.edu.vn  
1. Đặt Vấn Đề  
sâu và khoa học.  
Cây khôi nhung (Ardisia silvestris Pitard) là  
loài thuộc chi Ardisia, họ Myrsinnaceae, có nhiều  
hoạt tính sinh học đáng quý như hoạt tính kháng  
khuẩn, kháng nấm, kháng virus, kháng viêm giảm  
đau, chống oxi hóa, chống đái tháo đường, chống  
loãng xương, bảo vệ thần kinh, bảo vệ gan và nhất  
là hoạt tính chống ung thư rất tốt (Do, 2004).  
Kobayashi & de Mejía (2005) đã nhận định: Chi  
Ardisia – một nguồn mới cung cấp các hợp chất  
tăng cường sức khỏe và dược phẩm có nguồn gốc  
thiên nhiên quý giá. Một số nghiên cứu cho thấy  
Do có điều kiện tự nhiên đa dạng nên Việt Nam  
có một hệ sinh thái phong phú và tiềm năng to  
lớn về tài nguyên cây dược liệu. Chính vì vậy, ở  
nước ta, từ lâu đời, trong dân gian với trí thức sử  
dụng các loài dược liệu, nhiều bài thuốc quí có giá  
trị chữa bệnh hữu hiệu đã được lưu truyền (Do,  
2004). Tuy nhiên, để đáp ứng xu hướng hiện nay  
về sự “Trở về với thiên nhiên” với việc sử dụng  
thảo dược làm thuốc ngày càng nâng cao ở trong  
nước và trên thế giới thì cần có các nghiên chuyên  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(4)  
30  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
rằng trong cây khôi nhung Ardisia silvestris có chứa bằng thủy tinh với 500 mL dung môi, đánh  
sự hiện diện của tannin, glucoside, saponin, alka- sóng siêu âm 30 phút ở 30oC và để yên nhiệt độ  
loid, chất béo, carotene, flavonoid (Nguyen, 1999; phòng qua đêm.  
Tran, 2002). Tuy nhiên, ở Việt Nam dù đã được  
sử dụng làm thuốc chữa bệnh trong dân gian  
nhưng chưa có nhiều các nghiên cứu về thành  
phần hóa học cũng như hoạt tính sinh học của  
các loài thực vật trong chi Ardisia nói chung và  
cây khôi nhung Ardisia silvestris riêng. Chính vì  
vậy, nghiên cứu sơ bộ thành phần hóa thực vật,  
định lượng một số hợp chất và xác định khả năng  
kháng khuẩn, khả năng kháng oxy hóa từ lá cây  
khôi nhung được thực hiện nhằm củng cố, và cung  
cấp thêm các thông tin khoa học có giá trị và tin  
cậy về hoạt tính sinh học của cây khôi nhung,  
từ đó giúp cho việc khai thác sử dụng cây khôi  
nhung làm nguồn dược liệu trong thực tế có hiệu  
quả hơn.  
Các chỉ tiêu phân tích hóa thực vật: Chuẩn  
bị dịch chiết với bốn dung môi petroleum ether,  
ethyl acetate, ethanol và nước lần lượt nhau:  
Chiết 10 g bột nguyên liệu (hoặc bã xác nguyên  
liệu đã được trích ly với dung môi trước) trong  
bình thủy tinh bằng dung môi (petroleum ether,  
ethyl acetate, ethanol hoặc nước) trong bồn siêu  
âm 30 phút (riêng đối với dung môi là nước thì  
được đun cất thuỷ nóng trên lò). Chiết cho đến  
khi dịch dung môi bốc hơi không còn vết mờ trên  
giấy thấm. Gộp dịch chiết lại đem cô quay còn  
khoảng 50 mL dịch chiết (Nguyen, 2007). Các  
cao chiết này được sử dụng cho các thí nghiệm  
tiếp theo.  
Định tính các nhóm chất: tinh dầu, chất  
béo, alkaloid, flavonoid, coumarin, tanin, an-  
thocyanoid, carotenoid, các acid hữu cơ, chất  
khử, proanthocyanidin, saponin và anthraquinon  
(Nguyen, 2007).  
2. Vật liệu và Phương Pháp Nghiên Cứu  
2.1. Vật liệu  
Xác định hàm lượng polyphenol: Dùng thuốc  
thử Folin - Ciocalteu (FC) để xác định các  
polyphenol trong dịch chiết nước của lá cây khôi,  
acid gallicđược làm chất hiệu chuẩn, kết quả  
trung bình của 3 lần lặp lại (Fu & ctv., 2011).  
Xác định hàm lượng tannin: Tanin bị KMnO4  
oxy hóa ở môi trường acid. Điểm kết thúc định  
lượng được xác định bằng chỉ thị màu sulfo in-  
digo. Từ lượng KMnO4 tiêu thụ, tính ra lượng  
chất bị oxy hóa trong dược liệu dựa trên chất  
tanin chuẩn, quá trình chuẩn độ kết thúc khi  
dung dịch thử chuyển sang màu vàng, kết quả  
trung bình của 3 lần lặp lại (Le & ctv., 2005).  
Cây khôi nhung (Ardisia silvestris Pitard)  
được thu thập tại Khu bảo tồn Thiên nhiên và  
Văn hóa Đồng Nai, Vườn quốc gia Cát Tiên  
và tiếp tục nuôi trồng tại nhà lưới Viện nghiên  
cứu Công nghệ Sinh học và Môi trường (RIBE),  
Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí  
Minh. Mẫu lá được rửa sạch, sấy khô ở nhiệt độ  
50oC, sau đó được đem xay và đạt kích thước  
qua rây 2 mm được sử dụng làm nguyên liệu  
thí nghiệm. Vi khuẩn thử nghiệm: Các chủng vi  
khuẩn Samonella sp. và Escherichia coli ATCC  
2592 gây bệnh tiêu chảy, Staphylococus aureus  
ATCC 43300 gây nhiễm trùng da, được cung cấp  
bởi Phòng vi sinh của Viện Nghiên cứu Công nghệ  
Xác định hàm lượng flavonoid: với đường chuẩn  
Sinh học và Môi trường – Trường Đại học Nông Rutin, kết quả trung bình của 3 lần lặp lại (Chang  
Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.  
& ctv., 2002).  
Đánh giá hoạt tính kháng oxy hóa - phương  
pháp thử nghiệm DPPH: với Acid ascorbic  
(Merck, Germany) được sử dụng làm chất chuẩn  
đối chiếu.  
Đánh giá khả năng kháng khuẩn: Xác định  
khả năng kháng khuẩn của các dịch chiết lá  
khôi nhung đối với vi khuẩn Escherichia coli,  
Salmonella sp. và Staphylococus aureus với mật  
số là 106 cfu/mL và đánh giá khả năng kháng  
khuẩn theo phương pháp cấy trang trên bề mặt  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Xác định độ ẩm của dược liệu: theo phương  
pháp cân, sấy ở nhiệt độ 105oC, đánh giá theo  
tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam IV (MOH, 2010),  
độ ẩm của dược liệu không được quá 13%.  
Xác định độ tro toàn phần: phương pháp cân  
và nung dược liệu ở 550oC, chỉ tiêu được đánh  
giá theo Dược điển Việt Nam IV (MOH, 2010),  
độ tro toàn phần không quá 12%.  
thạch có đục lỗ (đường kính 5 mm, chứa 100  
L
Tách chiết cao dược liệu: Tách chiết cao tổng dịch chiết mẫu) của từng nghiệm thức. Đo đường  
bằng phương pháp ngâm dầm kết hợp đánh sóng kính vòng vô khuẩn đánh giá mức độ kháng  
siêu âm. Ngâm bột nguyên liệu (100 g) trong bình khuẩn của dịch chiết lá cây khôi nhung.  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(4)  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
31  
Bảng 1. Kết quả độ ẩm và tro toàn phần của mẫu nguyên liệu lá khôi  
Chỉ tiêu  
Độ ẩm mẫu nguyên liệu 5,54 ± 0,22  
Độ trò toàn phần  
10,73 ± 0,75  
Tỷ lệ (%)  
Tiêu chuẩn dược liệu (%) Đánh giá  
< 13  
< 12  
Đạt  
Đạt  
Xử lý số liệu: các số liệu được phân tích góp phần nâng cao giá trị sử dụng nhờ những  
ANOVA và trắc nghiệm phân hạng Tukey.  
hợp chất có trong lá cây khôi nhung nói riêng,  
cây dược liệu nói chung.  
3. Kết Quả và Thảo Luận  
3.3. Định lượng hàm lượng polyphenol, tanin,  
flavonoid trong dịch chiết lá cây khôi  
nhung  
3.1. Đánh giá độ ẩm và tro toàn phần của mẫu  
nguyên liệu  
Hàm lượng polyphenol trong lá cây khôi được  
xác định dựa trên đường chuẩn acid gallic (Hình  
1)) với dãy nồng độ 10; 20; 30; 40; 50 g/mL  
với phương trình hồi quy tuyến tính y = 0,0216x  
+ 0,0527; với R2 = 0,9866. Kết quả hàm lượng  
polyphenol trong lá cây khôi được trình bày ở  
Bảng 3. Hàm lượng flavanoid tổng số của mẫu  
được xác định dựa vào đường chuẩn rutin (Hình  
Độ ẩm và tro toàn phần của mẫu cao chiết cây  
khôi nhung được trình bày trong Bảng 1. Kết quả  
cho thấy độ ẩm mẫu cao chiết lá khôi nhung khôi  
đạt trung bình là 5,54 ± 0,22% và độ tro toàn  
phần là 10,73 ± 0,75%. Kết quả này phù hợp với  
tiêu chuẩn cao chiết theo quy chuẩn của Dược  
điển Việt Nam IV (MOH, 2010).  
3.2. Định tính sơ bộ thành phần hóa học của 2) với các thể tích 0,4; 0,8; 1,2; 1,6; 2,0; 2,4 mL,  
nguyên liệu  
xác định được phương trình hồi quy tuyến tính y  
= 0,0143x + 0,0177; với R2 = 0,9904. Kết quả về  
Lá cây khôi nhung sau khi xay nhuyễn được  
chiết với các hệ dung môi khác nhau theo độ phân  
cực tăng dần kết hợp đánh sóng siêu âm. Các  
loại dịch chiết petroleum ether, dịch chiết ethyl  
acetate, dịch chiết ethanol, dịch chiết nước được  
dùng để thử nghiệm định tính các hợp chất. Kết  
quả được trình bày trong Bảng 2.  
hàm lượng flavanoid tổng số của mẫu được thể  
hiện ở Bảng 3. Hàm lượng tannin được xác định  
bằng phương pháp oxy hóa. Một mL dung dịch  
KMnO4 0,1 N tương ứng với 0,004157 g tanin  
tinh khiết. Kết quả về hàm lượng tanin có trong  
mẫu lá cây khôi được trình bày ở Bảng 3.  
Kết quả khảo sát sơ bộ hóa thực vật của lá cây  
khôi nhung cho thấy sự xuất hiện của các hợp  
chất như tinh dầu, chất béo, alkaloid, flavonoid,  
coumarin, tanin, anthocyanoid, carotenoid, các  
acid hữu cơ, chất khử, proanthocyanidin, saponin  
và anthraquinon. Ngoài một số hợp chất tương tự  
đã được công bố trước đây như tanin, saponin,  
alkaloid, đường khử, chất béo, carotene, flavonoid  
(Nguyen, 1999), kết quả nghiên cứu này đã cho  
thấy rằng trong cây khôi nhung còn có các hợp  
chất khác như anthocyanoid, proanthocyanidin,  
anthraquinon. Trong dịch chiết với nước, phần  
lớn có sự hiện diện của các hợp chất khảo sát  
ngoại trừ chất béo và coumarin. Khảo sát thành  
phần hóa học của các hợp chất trong thực vật có  
ý nghĩa quan trọng trong xác định các nhóm chất  
và tác dụng của các chất này, giúp cho quá trình  
xác định cấu trúc, chức năng và việc tách chiết  
từng chất dễ dàng và ít tốn kém thời gian, chi  
phí và đồng thời qua việc xác định sự hiện diện  
của các hợp chất trong lá cây khôi nhung cũng  
Hình 1. Đường chuẩn acid gallic.  
Lá cây khôi nhung có hàm lượng polyphenol  
tổng số là 0,26% chất khô, tanin là 8,8%, và  
flavonoid tổng số là 1,44 mg/g chất khô (Bảng  
3).  
Một số nghiên cứu cho thấy polyphenol là một  
trong những hợp chất thứ cấp chính của nhiều  
loài thực vật, tham gia vào một số chức năng  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(4)  
   
32  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
Hình 2. Đường chuẩn rutin.  
sinh lý như kháng oxi hóa (Bhattacharyya & ctv.,  
2014) và có tác dụng mạnh mẽ trong hoạt tính  
kháng oxi hóa (Kikuzaki & ctv., 2002), kháng  
viêm, kháng khuẩn, kháng dị ứng, kháng lão hóa  
và một số bệnh liên quan tới ung thư (Dai &  
Mumper, 2010). Phần lớn các hợp chất polyphe-  
nol bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố tác động như  
UV, nhiệt độ, thành phần dưỡng chất và yếu tố di  
truyền (Ling & Subramaniam, 2007). Hàm lượng  
polyphenol phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng  
hay độ non già của nguyên liệu. Nguyên liệu càng  
non, hàm lượng polyphenol càng lớn và ngược lại.  
Hàm lượng polyphenol trong lá cây khôi nhung  
trong nghiên này thấp hơn so với thí nghiệm được  
thực hiện trên nguyên liệu lá chè từ non đến già  
là 14,63% đến 26,60% chất khô (mẫu được sấy ở  
70oC) (Giang & ctv., 2011).  
Tương tự, tanin có tính kháng khuẩn được  
dùng trong điều trị các bệnh viêm ruột, tiêu chảy.  
Tanin thường có nhiều trong búp sim, búp ổi, vỏ  
ổi và vỏ măng cụt, vì vậy đây là những nguồn  
dược liệu tiêu biểu đã được dân gian sử dụng  
trong việc điều trị các bệnh này. Phối hợp với  
tính làm săn se, tanin còn được dùng để làm thuốc  
súc miệng khi niêm mạc miệng, họng bị viêm loét  
hoặc chữa vết loét do người bệnh nằm lâu. Theo  
dược liệu Việt Nam hàm lượng tanin có trong lá  
ổi từ 7 – 10%. Như vậy, hàm lượng tanin của lá  
khôi nhung đạt 8,8% (Bảng 3) tương đương với  
lượng tanin trong lá ổi.  
Một trong những hợp chất khá phổ biến và  
có nhiều chức năng trong nhiều loài thực vật đó  
là flavonoid. Trong thực vật bậc cao, flavonoids  
tham gia vào lọc tia cực tím (UV), cộng sinh cố  
định đạm và sắc tố của hoa (Grotewold, 2007).  
Flavonoids có thể hoạt động như một chất chuyển  
hoá hóa học hoặc điều chỉnh sinh lý, và cũng có  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(4)  
   
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
33  
Bảng 3. Kết quả định lượng hợp chất polyphenol, flavonoid và tanin có trong lá cây khôi  
Tanin (% w/w chất  
khô)  
Flavonoid tổng số  
(mg/g chất khô)  
Loại  
Polyphenol (% chất khô)  
Mẫu lá khôi (n = 3)  
0,26 ± 0,05  
8,80 ± 0,4  
1,44 ± 0,19  
thể hoạt động như các chất ức chế chu kỳ tế bào.  
g/mL và 31,868 g/mL. Cao nhất là ehanol  
Trong nghiên cứu này, hàm lượng flavonoid trung (Eth) là 48,144 g/mL. Giá trị IC càng cao thể  
bình của dịch chiết từ lá cây khôi nhung đạt 1,442 hiện khả năng kháng oxy hóa càng thấp. Theo đồ  
± 0,19 (mg/g) (Bảng 3) thấp hơn so với kết quả thị ở Hình 3 dựa vào giá trị IC50 thấy được dung  
nghiên cứu hàm lượng flavonoid từ lá cây rau sam môi ehyl acetate và nước có khả năng kháng oxy  
(P. oleraceal.) (1,76 mg/g) (Zhu & ctv., 2009).  
hóa thấp hơn lần lượt 4,2 lần và 4,4 lần so với acid  
ascorbic. Ethanol (Eth) có khả năng kháng oxy  
hóa thấp nhất, thấp hơn IC50 của acid ascorbic  
là 6,7 lần. Dịch chiết với Petroleum ether không  
cho kết quả kháng oxy hóa.  
3.4. Khả năng kháng oxy hóa của dịch chiết lá  
cây khôi nhung  
Các dịch chiết được dùng thử nghiệm đều có  
hoạt tính sinh học khác nhau. Giá trị IC50 của  
vitamin C (acid ascorbic) là 7,207 g/mL. Tiếp  
theo là ehyl acetate (EA) và nước lần lượt là 30,51  
g/mL và 31,868 g/mL. Cao nhất là ehanol  
3.5. Đánh giá khả năng kháng khuẩn của dịch  
chiết lá cây khôi nhung  
Bốn loại dịch chiết lá cây khôi với các dung  
(Eth) là 48,144 g/mL. Giá trị IC càng cao thể môi petroleum ether, ethyl acetate, ethanol được  
hiện khả năng kháng oxy hóa càng thấp. Theo đồ đánh giá khả năng ức chế vi khuẩn E. coli, Sa-  
thị ở Hình 3 dựa vào giá trị IC50 thấy được dung monella sp., S. aureus. Kết quả được trình bày ở  
môi ehyl acetate và nước có khả năng kháng oxy Bảng 4.  
hóa thấp hơn lần lượt 4,2 lần và 4,4 lần so với acid  
Kết quả ở Bảng 4 cho thấy, đối với vi khuẩn E.  
ascorbic. Ethanol (Eth) có khả năng kháng oxy coli các dịch chiết đều có khả năng ức chế ngoại  
hóa thấp nhất, thấp hơn IC50 của acid ascorbic trừ dịch chiết petroleum ether không thể hiện sự  
là 6,7 lần. Dịch chiết với Petroleum ether không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm  
cho kết quả kháng oxy hóa.  
thức. Trong đó, đường kính trung bình vòng vô  
khuẩn của dịch chiết ethyl acetate là lớn nhất,  
tiếp đến là của dịch chiết ethanol và sau đó là  
của dịch chiết nước lần lượt tương ứng là 20,67;  
9,67 và 6,67 mm.  
Tương tự, đối với vi khuẩn Samonella sp.,  
đường kính vòng vô khuẩn của các dịch chiết rất  
khác nhau (Bảng 4), từ nhỏ đến lớn lần lượt là 0;  
7,67; 14,67; 15,33 mm tương ứng của dịch chiết  
petroleum ether, nước, ethanol và ethyl acetate.  
Trong đó, đường kính vòng vô khuẩn của dịch  
chiết ethanol và ethyl acetate không có sự khác  
biệt có ý nghĩa thống kê. Hai dịch chiết này có  
tính kháng mạnh đối với vi khuẩn Samonella sp.  
Hình 3. Đồ thị thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa  
của các dịch chiết thông qua giá trị IC50. C: Acid  
ascorbic, EA: dịch chiết với dung môi Ethyl acetate,  
Eth: dịch chiết với dung môi ethanol, Nước: dịch chiết  
với nước.  
Trong khi đó, cả bốn dịch chiết lá cây khôi  
nhung trong nghiên cứu này đều không có khả  
năng ức chế đối với vi khuẩn Staphylococus aureus  
điều này có thể do nồng độ các hoạt chất có trong  
dịch chiết thấp. Trong nghiên cứu trước đây, kết  
quả cho thấy dịch chiết của cây Ardisia elliptica  
không có khả năng kháng khuẩn đối với E. coli  
và Staphylococus aureus (Al-Abd & ctv., 2017).  
Các dịch chiết được dùng thử nghiệm đều có  
hoạt tính sinh học khác nhau. Giá trị IC50 của  
vitamin C (acid ascorbic) là 7,207 g/mL. Tiếp  
theo là ehyl acetate (EA) và nước lần lượt là 30,51  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(4)  
   
34  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
Bảng 4. Khả năng kháng khuẩn của các dịch chiết với các dung môi khác nhau  
Đường kính vòng kháng khuẩn (mm)  
Vi khuẩn  
Dịch chiết  
petroleum ether  
Dịch chiết ethyl  
acetate  
Dịch chiết  
ethanol  
Dịch chiết nước  
E. coli  
Salmonella sp.  
S. aureus  
-
-
-
20,67a ± 0,94  
15,33a ± 0,47  
-
9,67b ± 0,47  
14,67a ± 0,48  
-
6,67c ± 0,47  
7,67b 0,49  
-
"-": không có giá trị.  
a-bTrong cùng một hàng, các giá trị có các ký tự khác nhau thì có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P < 0,05.  
4. Kết Luận  
Chang, C., Yang, M., Wen, H., & Chem, J. (2002). Es-  
timation of flavonoid total content in propolis by two  
complementary colorimetric methods. Journal of Food  
and Drug Analysis 10(3), 178-182.  
Lá cây khôi nhung Ardisia silvestris Pitard  
có độ ẩm và độ tro toàn phần đạt tiêu chuẩn  
dược liệu. Trong lá cây khôi nhung có chứa các  
hợp chất tinh dầu, chất béo, alkaloid, flavonoid,  
coumarin, tanin, anthocyanoid, carotenoid, các  
acid hữu cơ, chất khử, proanthocyanidin, saponin  
và anthraquinon. Trong lá cây khôi nhung, hàm  
lượng polyphenol tổng số là 0,26% chất khô, tanin  
là 8,8%, và flavonoid tổng số là 1,44 mg/g. Dịch  
chiết ethyl acetate và dịch chiết nước của lá cây  
khôi nhung có khả năng kháng oxy hóa thấp hơn  
so với acid arcobic lần lượt 4,2 lần và 4,4 lần.  
Dịch chiết ethyl acetate và dịch chiết ethanol thể  
hiện vòng vô khuẩn đối với vi khuẩn E. coli (từ  
9,67 mm đến 20,67 mm) và Salmonella sp. (từ  
14,67 mm đến 15,33 mm), tuy nhiên không thể  
hiện đối với vi khuẩn Staphylococus aureus. Việc  
cô lập các đơn chất trong lá cây khôi nhung đang  
được thực hiện và cần được nghiên cứu đánh giá  
sâu hơn hoạt tính sinh học của các đơn chất này.  
Dai, J., & Mumper, R. J. (2010). Plant phenolics: ex-  
traction, analysis and their antioxidant and anticancer  
properties. Molecules 15, 7313-7352.  
Do, T. L. (2004). Vietnamese medicinal plants and herbs.  
Ha Noi, Vietnam: Medical Publishing House.  
Fu, L., Xu, B. T., Xu, X. R., Gan, R. Y., Zhang, Y., Xia,  
E. Q., & Li, H. B. (2011). Antioxidant capacities and  
total phenolic contents of 62 fruits. Food Chemistry  
129(2), 345-350.  
Giang, K. T., Nguyen, M. T., Pham, H. V., Pham, D. T.  
H., & Duez, P. (2011). Effect of quality of material on  
polyphenol content and antibacterial activity of pH tea  
varieties. Journal of Science and Development 9(2),  
258-264.  
Grotewold, E. (2007). The science of flavonoids. New  
York, USA: Springer Publishing House.  
Kikuzaki, H., Hisamoto, M., Hirose, K., Akiyama, K., &  
Taniguchi, H. (2002). Antioxidant properties of ferulic  
acid and its related compounds. Journal of Agricul-  
tural and Food Chemistry 50, 2161-2168.  
Lời Cảm Ơn  
Kobayashi, H., & de Mejia, E. (2005). The genus Ar-  
disia: a novel source of health-promoting compounds  
and phytopharmaceuticals. Journal of Ethnopharma-  
col 96(3), 347-354.  
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn Trường  
Đại học Nông Lâm TP.HCM đã cấp kinh phí cho  
nghiên cứu này; cảm ơn Ban Lãnh đạo, Cán bộ  
công tác tại Khu bảo tồn Thiên nhiên và Văn  
hóa Đồng Nai, Vườn quốc gia Cát Tiên đã hỗ trợ  
trong việc thu thập mẫu cây khôi nhung.  
Le, T. M., Nguyen, T. H, Pham, T. T., Nguyen T. H, &  
Le, T. L. C. (2005). Methods of analysis for fermenta-  
tion technology. Hanoi, Vietnam: Science and Technics  
Publishing House.  
Ling, L. F., & Subramaniam, S. (2007). Biochemical anal-  
yses of Phalaenopsis violacea orchid. Asian Journal  
Biochemistry 2, 237-246.  
Tài Liệu Tham Khảo (References)  
Al-Abd, N. M., Nor, Z. M., Mansor, M., Zajmi, A., Hasan,  
M. S., Azhar, F., & Kassim, M. (2017). Phytochemical  
constituents, antioxidant and antibacterial activities of  
methanolic extract of Ardisia elliptica. Asian Pacific  
Journal of Tropical Biomedicine 7(6), 569-576.  
MOH (Ministry of Health) (2010). Vietnam pharma-  
copoeia IV. Ha Noi, Vietnam: Medical Publishing  
House.  
Nguyen, P. K. T. (2007). Methods of isolation of organic  
compounds. Ho Chi Minh City, Vietnam: National Uni-  
versity Publishing House.  
Bhattacharyya, P., Kumaria, S., Diengdoh, R., & Tandon,  
P. (2014). Genetic stability and phytochemical analysis  
of the invitro regenerated plants of Dendrobium nobile  
Lindl., an endangered medicinal orchid. Meta Gene 2,  
489-504.  
Nguyen, T. P. (1999). Handbook for searching and iden-  
tifying families of angiosperms in Vietnam. Ha Noi,  
Vietnam: Agricultural Publishing House.  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(4)  
   
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
35  
Tran, L. T. K (2002). Study on chemical composition  
and biological activity of some Ardisia species of  
Myrsinaceae family in Vietnam (Unpublished Doc-  
toral dissertation). Vietnam Academy of Science and  
Technology, Ha Noi, Vietnam.  
Zhu, H., Wang, Y., Liu, Y., Xia, Y., & Tang, T. (2009).  
Analysis of flavonoids in Portulaca oleracea L. by UV-  
Vis spectrophotometry with comparative study on dif-  
ferent extraction technologies. Food Analytical Meth-  
ods 3(2), 90-97.  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(4)  
pdf 8 trang yennguyen 18060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích thành phần hóa học thực vật và xác định khả năng chống oxy hóa và kháng khuẩn của dịch chiết từ lá của cây khôi nhung (Ardisia silvestris Pitard)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphan_tich_thanh_phan_hoa_hoc_thuc_vat_va_xac_dinh_kha_nang_c.pdf