Báo cáo Tự đánh giá mức độ chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN  
________*****________  
BÁO CÁO  
TỰ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ CHUẨN BỊ SẴN SÀNG  
THỰC HIỆN REDD+ Ở VIỆT NAM  
Hà Nội, tháng 7/2016  
1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
Số liệu hoạt động  
Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn  
AD  
Bộ TN&MT  
Bộ KH&CN  
Bộ KH&ĐT  
Bộ TC  
Bộ Tài nguyên và Môi trường  
Bộ Khoa học và Công nghệ  
Bộ Kế hoạch và Đầu tư  
Bộ Tài chính  
BDS  
Hệ thống chia sẻ lợi ích  
Biến đổi khí hậu  
BĐKH  
CIFOR  
Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp quốc tế  
COP  
Hội nghị các bên tham gia Công ước khung của Liên hiệp  
quốc về biến đổi khí hậu  
CERDA  
CSDM  
CSO  
Trung tâm nghiên cứu và phát triển vùng cao  
Trung tâm vì sự phát triển bền vững miền núi  
Tổ chức chính trị xã hội  
Dự án FCPF  
EF/RF  
ER  
Dự án Hỗ trợ chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam  
Hệ số phát thải/hấp thụ  
Giảm phát thải  
ER-P  
Chương trình Giảm phát thải  
ERPA  
ER-PD  
ER-PIN  
ESMF  
FAO  
Thỏa thuận chi trả giảm phát thải  
Văn kiện Chương trình Giảm phát thải  
Ý tưởng đề xuất Chương trình Giảm phát thải  
Khung quản lý môi trường và xã hội  
Tổ chức Nông lương Thế giới  
FCPF  
Qũy đối tác các bon trong lâm nghiệp  
Thực thi lâm luật, quản trị và thương mại lâm sản  
Hệ thống thông tin quản lý ngành Lâm nghiệp  
Đồng thuận dựa trên nguyên tắc tự nguyện, được thông báo  
FLEGT  
FORMIS  
FPIC  
2
 
trước và cung cấp thông tin đầy đủ  
Mức phát thải tham chiếu rừng/ Mức tham chiếu rừng  
Hội đồng quản trị rừng quốc tế  
Khí nhà kính  
FREL/FRL  
FSC  
GHG  
GIZ  
Tổ chức Hợp tác phát triển Đức  
Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu  
Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản  
Ngân hàng Tái thiết Đức  
IPCC  
JICA  
KfW  
LULUCF  
MB  
Sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp  
Ban quản lý  
MBFP  
MRV  
NCB  
Ban quản lý các dự án Lâm nghiệp  
Hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định  
Lợi ích phi các bon  
NFI  
Điều tra rừng toàn quốc  
NFIMAP  
Chương trình Điều tra, theo dõi và đánh giá tài nguyên rừng  
toàn quốc  
NFIS  
Dự án tổng điều tra, kiểm kê rừng  
Hệ thống theo dõi rừng quốc gia  
Chương trình hành động quốc gia về REDD+  
Qũy REDD+ quốc gia  
NFMS  
NRAP  
NRF  
PPMU  
PRAP  
REDD+  
Ban quản lý dự án tỉnh  
Kế hoạch hành động REDD+ cấp tỉnh  
Giảm phát thải khí nhà kính thông qua nỗ lực hạn chế mất  
rừng, suy thoái rừng, quản lý rừng bền vững, bảo tồn và nâng  
cao trữ lượng các bon rừng.  
RECOFTC  
R-PP  
Trung tâm vì con người và rừng  
Đề xuất chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+  
Tổ chức Phát triển Hà Lan  
SNV  
3
SESA  
SFM  
Đánh giá môi trường và xã hội chiến lược  
Quản lý rừng bền vững  
SIS  
Hệ thống thông tin đảm bảo an toàn  
Trung tâm phát triển nông thôn bền vững  
Tổng cục Lâm nghiệp  
SRD  
TCLN  
TWG  
UNFCCC  
UBND  
VRO  
Tiểu nhóm kỹ thuật  
Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu  
Uỷ ban Nhân dân  
Văn phòng REDD+ Việt Nam  
Ngân hàng Thế giới  
WB  
4
DANH MỤC CÁC HꢀNH VÀ BẢNG BIỂU  
5
MỤC LỤC  
6
7
LỜI NÓI ĐẦU  
Báo cáo Đánh giá mức độ chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam là  
kết quả của quá trình tự đánh giá của các bên liên quan theo “Khung hướng dẫn  
đánh giá mức độ chuẩn bị sẵn sàng” của Quỹ đối tác các bon trong Lâm nghiệp  
(FCPF) ban hành tháng 6 năm 2013.  
Quá trình tự đánh giá được thực hiện từ tháng 8 năm 2015 đến tháng 6 năm  
2016 thông qua hàng loạt các đợt tham vấn từ cấp cộng đồng đến cấp tỉnh, cấp  
vùng và cấp quốc gia. Do đó, báo cáo này là sản phẩm của sự tham gia tích cực,  
hiệu quả của các tổ chức, cơ quan nhà nước cấp trung ương và địa phương, các  
thành viên mạng lưới REDD+ quốc gia, các chương trình, dự án về REDD+, các  
ban quản lý rừng và doanh nghiệp lâm nghiệp, các tổ chức chính trị, xã hội trong  
nước, các cộng đồng người dân địa phương, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu  
số sống trong và gần rừng, các tổ chức phi chính phủ quốc tế, các nhà tài trợ, các  
tổ chức quốc tế và các bên liên quan khác.  
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Bộ NN&PTNT) đánh giá cao sự nỗ  
lực của Dự án “Hỗ trợ chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam” (Dự án  
FCPF) đã hỗ trợ nguồn lực và kỹ thuật cho suốt quá trình đánh giá. Cảm ơn và  
đánh giá cao sự nỗ lực của Văn phòng REDD+ Việt Nam, Tổng cục Lâm nghiệp  
(TCLN), Chương trình UN-REDD Việt Nam giai đoạn II, Sở Nông nghiệp và  
Phát triển Nông thôn các tỉnh Bắc Kạn, Quảng Bình, Lâm Đồng, Cà Mau và các  
chuyên gia trong nước và quốc tế đã phối hợp chặt chẽ tổ chức thực hiện quá  
trình đánh giá để hoàn thành báo cáo này.  
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN.  
8
 
TÓM TẮT BÁO CÁO  
Báo cáo “Tự đánh giá mức độ chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt nam”  
là kết quả quá trình đánh giá của các bên liên quan theo “Khung hướng dẫn đánh  
giá mức độ chuẩn bị sẵn sàng” (tháng 6/2013) của Qũy đối tác các bon trong  
Lâm nghiệp. Báo cáo làm rõ tầm nhìn chiến lược, cơ chế vận hành, các thành  
quả chính, các mặt còn hạn chế và các hoạt động cần thực hiện trong thời gian  
tới để sớm chuyển sang giai đoạn thử nghiệm và chi trả theo kết quả.  
Quá trình tự đánh giá  
Thu thập và phân tích thông tin: Từ tháng 7/2015 đến tháng 6/2016, các chuyên  
gia tư vấn thu thập, tổng hợp và phân tích thông tin từ các dự án, Chương trình,  
tổ chức tham gia thực hiện REDD+.  
Quá trình tham vấn:  
- Hội thảo khởi động tại Hà Nội ngày 7/10/2015 với các chuyên gia từ mạng  
lưới REDD+ và các tiểu nhóm công tác kỹ thuật.  
- Ba Hội thảo tham vấn với cộng đồng và người dân tại xã Mỹ Phương, huyện  
Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (31/12/2015); xã Lộc Phú, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng  
(12/1/2016) và BQLRPH Nhưng Miên, huyện Nhưng Miên, Cà Mau  
(31/3/2016).  
- Hội thảo tham vấn với cán bộ sáu tỉnh vùng Bắc Trung Bộ tại Quảng Bình  
ngày 17/3/2016).  
- Hội thảo tham vấn với thành viên mạng lưới REDD+ quốc gia, các nhóm công  
tác tại Hải Phòng ngày 28/4/2016.  
- Hội thảo tham vấn với các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý dự án  
để tổng hợp, phân tích kết quả tham vấn tại Hà Nội ngày 2/6/2016.  
- Hội thảo quốc gia với các bộ, ban ngành của chính phủ, các địa phương, các  
nhà tài trợ, các tổ chức phi chính phủ tại Hà Nội ngày 30/6/2016.  
9
 
Kết quả đánh giá:  
Phân loại  
Tiêu chí  
màu  
Hợp phần 1: Tổ chức và tham vấn chuẩn bị sẵn sàng  
Tiểu hợp phần 1a: Cơ chế quản lý REDD+ quốc gia  
Tiểu hợp phần 1b: Tham vấn có sự tham gia và tiếp cận  
Hợp phần 2: Chuẩn bị chiến lược REDD+  
Vàng  
Vàng  
Vàng  
Vàng  
Tiểu hợp phần 2a: Đánh giá tình hình sử dụng đất, các nguyên nhân chuyển đổi  
mục đích sử dụng đát, đánh giá luật lâm nghiệp, chính sách và quản trị rừng  
Vàng  
Tiểu hợp phần 2b: Các phương án chiến lược REDD+  
Tiểu hợp phần 2c: Khung thực hiện  
Vàng  
Vàng  
Vàng  
Xanh  
Vàng  
Vàng  
Tiểu hợp phần 2d: Các tác động môi trường và xã hội  
Hợp phần 3: Mức phát thải tham chiếu  
Hợp phần 4: Hệ thống theo dõi rừng và hệ thống theo dõi đảm bảo an toàn  
Tiểu hợp phần 4a: Hệ thống theo dõi rừng quốc gia  
Tiểu hợp phần 4b: Hệ thống thông tin về đa lợi ích, các tác động khác,  
quản trị và các biện pháp đảm bảo an toàn  
Vàng  
Bảng chú giải cho việc đánh giá tóm tắt: Đối với Hợp phần 1 và 2, các tiểu hợp  
phần có kết quả theo tỉ lệ 50:50 cho vàng:màu xanh lá cây. Trong các trường  
hợp này sẽ sử dụng màu thấp hơn (màu vàng) để hiển thị tiến độ tổng thể. Ví dụ  
Hợp phần 1 này bao gồm sáu tiêu chí, trong đó ba tiêu chí được đánh giá màu  
xanh lá cây và ba tiêu chí còn lại được đánh giá vàng, tuy nhiên màu vàng sẽ  
được sử dụng để đánh giá tổng thể tiến độ thực hiện.  
Những thành quả chính trong việc chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ ở  
Việt Nam:  
(1) Phê duyệt Kế hoạch hành động REDD+ quốc gia (NRAP) – là một trong  
những nước đầu tiên phê duyệt NRAP;  
10  
(2) Phê duyệt 10 Kế hoạch hành động REDD+ cấp tỉnh;  
(3) Trình đường phát thải tham chiếu quốc gia lên UNFCCC vào tháng 1/2016;  
(4) Thành lập hệ thống giám sát rừng quốc gia;  
(5) Ban hành Quyết định về thí điểm cơ chế chia sẻ lợi ích REDD+;  
(6) Phê duyệt đề án thành lập Qũy REDD+;  
(7) Dự thảo hướng dẫn FPIC;  
(8) Dự thảo cơ chế phản hồi và khiếu kiện trong REDD+;  
(9) Thiết lập hệ thống tổ chức quản lý REDD+;  
(10) Đào tạo, nâng cao năng lực cho các bên liên quan; và  
(11) Phát triển hệ thống thông tin tuyên truyền REDD+.  
Các khoảng trống:  
Các khoảng trống giữa yêu cầu đặt ra với REDD+ và hiện trạng phát triển của  
Việt Nam:  
1) Cơ chế phối hợp đa ngành và liên ngành trong thực thi REDD+ ở các cấp cần  
được cải thiện;  
2) Chương trình hành động REDD+ quốc gia được phê duyệt chưa đáp ứng các  
yêu cầu đề ra. NRAP đang trong quá trình được sửa đổi;  
3) Đánh giá tác động môi trường xã hội chiến lược và Khung quản lý môi  
trường và xã hội chiến lược đang được xây dựng;  
4) Hệ thống an toàn REDD+ đang được xây dựng; và  
5) Hệ thống thông tin REDD+ chưa hoàn thiện.  
Đề xuất chương trình hành động chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+:  
1) Hoàn thiện các khung pháp lý liên quan đến REDD+ như quyền sử dụng đất,  
sử dụng tài nguyên rừng, quyền hưởng lợi từ rừng, quyền các bon ..  
2) Xây dựng cơ chế phối hợp giữa ngành Lâm nghiệp với Nông nghiệp, giữa  
Nông nghiệp với Tài nguyên và Môi trường, giữa Lâm nghiệp với Phát triển cơ  
sở hạ tầng, Thủy điện trong quá trình thực thi REDD+;  
3) Kế hoạch hành động REDD+ các cấp cần được lồng ghép với kế hoạch bảo  
vệ và phát triển rừng, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội;  
4) Qũy REDD+ trung ương cần được thành lập trực thuộc Qũy bảo vệ và phát  
triển rừng;  
5) Các khung pháp lý liên quan đến khía cạnh kỹ thuật của REDD+ như các quy  
trình khai thác tác động thấp, theo dõi các bon rừng, quy trình quản lý rừng bền  
11  
vững, cấp chứng chỉ rừng, cải thiện kế hoạch sử dụng đất và tập trung vào rừng  
trồng chu kỳ dài…phải được xây dựng và thể chế hóa;  
6) Cơ chế khiếu kiện và phản hồi thông tin trong REDD+ cần được thể chế hóa;  
7) Hướng dẫn FPIC cần được thể chế hóa;  
8) Cơ chế chia sẻ lợi ích trong REDD+ cần phải được Chính phủ phê duyệt;  
9) Cần xây dựng và thực thi một chương trình đào tạo và nâng cao năng lực về  
REDD+ cho cộng đồng, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, các nhóm yếu thế;  
10) Chiến lược truyền thông REDD+ cần phải được phê duyệt và đưa vào hoạt  
động;  
11) Điều chỉnh Chương trình hành động REDD+ quốc gia, trong đó làm rõ kế  
hoạch hành động giai đoạn 2016 – 2020 và cải thiện hướng dẫn về chiến lược và  
thực thi;  
12) Xây dựng và thông qua SESA và ESMF;  
13) Xây dựng và đưa vào vận hành cổng thông tin REDD+ quốc gia;  
14) Phê chuẩn đường tham chiếu quốc gia và đường tham chiếu vùng Bắc  
Trung Bộ;  
15) Xây dựng và vận hành hệ thống MRV các cấp;  
16) Hỗ trợ tăng cường thực thi FLEGT/VPA và kiểm soát khai thác gỗ trái phép  
với Lào và Campuchia; và  
17) Xây dựng và đưa vào vận hành Hệ thống thông tin về đảm bảo an toàn  
(SIS).  
Nguồn lực để thực hiện các hoạt động này dựa vào dự án của Qũy chuẩn bị sẵn  
sàng thực hiện REDD+, Chương trình UN-REDD Việt Nam giai đoạn II, sự hỗ  
trợ quốc tế, đặc biệt là JICA, GIZ.  
12  
I.  
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TÁC CHUẨN BỊ SẴN SÀNG  
THỰC HIỆN REDD+ Ở VIỆT NAM  
1.  
Công tác chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam  
1.1.  
Qúa trình chuẩn bị sẵn sàng và thử nghiệm thực hiện REDD+  
Báo cáo tự đánh giá này được thực hiện để phù hợp với yêu cầu quốc tế và đáp ứng  
ý tưởng phát triển một khuôn khổ chung để đánh giá các bước tiến của một nước  
trong việc thực hiện các hoạt động sẵn sàng REDD+ trọng tâm. Việc tự đánh giá  
các bước tiến REDD+ (hay R-Assessment) là một cột mốc quan trọng trong tiến  
trình sẵn sàng REDD+, hướng tới một Hiệp định chi trả giảm phát thải với Quỹ  
Carbon, dự kiến sẽ đàm phán trong năm 2017.  
Giai đoạn 2007 - 2011:  
Các hoạt động REDD+ ở Việt Nam được triển khai sau COP13 tại Bali Indonesia.  
Tháng 2/2008, Việt Nam đã gửi thư quan tâm đề xuất phương pháp, tiến trình thực  
hiện REDD+ đồng thời tiến hành xây dựng Chương trình UN-REDD Việt Nam  
giai đoạn I1 (ref.: UN-REDD phase I).  
Cuộc họp Ban chỉ đạo FCPF chọn Việt Nam là thành viên tham gia FCPF2. Việt  
Nam đac nộp Ý tưởng đề xuất Chương trình sẵn sàng thực hiện REDD+ (R-PIN)  
vào năm 2008.  
Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt Khung Chương trình hành động thích ứng với  
BĐKH3 vào năm 2008. Năm 2009, Bộ NN&PTNT thành lập Mạng lưới REDD+  
quốc gia và sáu tiểu nhóm kỹ thuật4. Năm 2010, Chính phủ ban hành Nghị định  
995 về chi trả dịch vụ môi trường rừng, trong đó có đề cập đến dịch vụ hấp thụ  
và lưu trữ các bon rừng. Năm 2011, Thủ tướng Chính phủ thành lập Ban chỉ đạo  
quốc gia về REDD+6 do Bộ trưởng Bộ NN&PTNT làm trưởng ban và thành lập  
Văn phòng REDD+ (VRO) quốc gia ngày 19/1/2011 trực thuộc TCLN.  
1 Chương trình UN-REDD Việt Nam giai đoạn I có kinh phí 4,38 triệu USD, thực hiện từ Tháng 11/2009 đến  
Tháng 4/2012.  
2 Cuộc họp Ban chỉ đạo FCPF vào 9-10/7 ra Nghị quyết SM 2008-1.  
3 Quyết định 2370 QĐ/BNN- KL ngày 05/8/2008 của Bộ trưởng Bộ NNPTNT Phê duyệt Đề án về chương trình  
đầu tư xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam giai đoạn 2008 – 2020.  
4 Sáu tiểu nhóm kỹ thuật gồm: 1) Quản trị REDD+, 2) MRV, 3) Tài chính REDD+ và BDS, 4) Triển khai  
REDD+ tại địa phương, 5) Biện pháp đảm bảo an toàn môi trường và xã hội và 6) Liên kết khối tư nhân  
5 Nghị định 99/2009/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ  
rừng và quản lý lâm sản.  
6 Quyết định 58/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ban chỉ đạo Nhà nước về Kế hoạch bảo vệ  
và phát triển rừng giai đoạn 2011 – 2020.  
13  
     
Giai đoạn 2009 - 2011 gắn với hoạt động của Chương trình UN-REDD Việt  
Nam giai đoạn I và nộp Đề xuất chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ (R-PP) của  
Việt Nam. Các hoạt động phân tích ban đầu của dự án tập trung phát triển Hệ  
thống chia sẻ lợi ích (BDS), hướng dẫn xây dựng Mức phát thải tham chiếu rừng  
(FREL/FRL), phát triển và thử nghiệm Đồng thuận dựa trên nguyên tắc tự  
nguyện, được thông báo trước và cung cấp thông tin đầy đủ (FPIC) cho REDD+  
tại tỉnh Lâm Đồng cũng như xây dựng năng lực và truyền thông. Đã tiến hành  
các nghiên cứu về cơ sở pháp lý thực hiện REDD+ tại Việt Nam.  
Với sự hỗ trợ của FMT, ngày 18/11/2011 Việt Nam chính thức trình R-PP lên  
FCPF. Trên cơ sở tài liệu R-PP và sự hỗ trợ từ Chương trình UN-REDD Việt  
Nam giai đoạn I, Chương trình hành động REDD+ quốc gia7 (NRAP) đã được  
xây dựng. Bên cạnh đó các nguyên nhân làm mất rừng, suy thoái rừng, giải pháp  
phát triển REDD+ và các cơ sở pháp lý phát triển REDD+ ở Việt Nam cũng đã  
được nghiên cứu và hỗ trợ thông qua các dự án có JICA, GIZ, CIFOR... tài trợ.  
Giai đoạn 2012 - 2016 và tiếp theo  
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt NRAP giai đoạn 2011 – 2020 và Đề án quản  
lý phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, quản lý các hoạt động kinh doanh tín chỉ  
các bon ra thị trường thế giới8.  
Ngày 09/11/2012 Việt Nam và Ngân hàng Thế giới (WB) đã ký Hiệp định về  
khoản tài trợ không hoàn lại US$ 3,8 triệu từ FCPF cho Dự án FCPF. Mục tiêu  
của dự án là góp phần hỗ trợ Việt Nam sẵn sàng thực hiện REDD+ trong tương  
lai. Dự án có 3 hợp phần kỹ thuật là: Hỗ trợ xây dựng chính sách, nâng cao năng  
lực kỹ thuật, quản lý và vận hành REDD+ ở cấp trung ương và địa phương; Hỗ  
trợ nghiên cứu, xây dựng phương án thí điểm đổi mới các công ty lâm nghiệp  
nhằm cung cấp dịch vụ REDD+ và các dịch vụ môi trường rừng; Hỗ trợ nâng  
cao nhận thức, tăng cường năng lực, tham vấn các bên liên quan, đáp ứng yêu  
cầu về các biện pháp đảm bảo an toàn (Safeguards), chia sẻ thông tin và kinh  
nghiệm thực hiện REDD+ trong khu vực.  
Chương trình UN-REDD Việt Nam giai đoạn II chính thức đi vào hoạt động từ  
tháng 7/2013 và được thực hiện thí điểm tại 6 tỉnh là: Lào Cai, Bắc Kạn, Hà  
Tĩnh, Lâm Đồng, Bình Thuận và Cà Mau.  
7
Quyết định số 799/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về “Giảm phát thải khí nhà  
kính thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý bền vững TNR, bảo tồn và nâng cao trữ  
lượng các bon rừng” giai đoạn 2011-2020.  
8
Quyết định 1775/QĐ-TTg về Phê duyệt đề án quản lý phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, quản lý các hoạt  
động kinh doanh tín chỉ các - bon ra thị trường thế giới.  
14  
Công tác chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ được tiếp tục với các hoạt động  
nâng cao năng lực và nhận thức về REDD+ cho các bên liên quan, xây dựng Kế  
hoạch hành động REDD+ cấp tỉnh9 (PRAP) ở các tỉnh thí điểm, xúc tiến xây  
dựng Đề án thành lập Qũy REDD+ quốc gia10, xây dựng Đánh giá môi trường  
và xã hội chiến lược (SESA) và Khung quản lý môi trường và xã hội (ESMF),  
thử nghiệm Hệ thống chia sẻ lợi ích (BDS) tại sáu tỉnh của Chương trình UN-  
REDD Việt Nam giai đoạn II, hoàn thiện đường phát thải tham chiếu quốc gia,  
từng bước hình thành Hệ thống giám sát rừng quốc gia (NFMS), xây dựng Cơ  
chế khiếu nại và phản hồi thông tin (FGRM)…  
Hội đồng Quỹ các bon đã phê duyệt hỗ trợ Việt Nam US$ 650.00011 xây dựng  
Văn kiện Chương trình Giảm phát thải (ER-PD) tại sáu tỉnh Bắc Trung bộ. Đây  
là các hoạt động thử nghiệm chi trả REDD+. Hiện nay ER-PD đang được xây  
dựng, theo kế hoạch sẽ gửi FCPF vào tháng 10/2016 và trình bày tại Hội nghị  
các nước thành viên Quỹ Các-bon lần thứ 15 vào tháng 12/2016.  
Trên cơ sở báo cáo đánh giá giữa kỳ, Dự án FCPF đã được Quỹ FCPF bổ sung 5  
triệu USD12 phục vụ cho công tác chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt  
Nam và gia hạn tới tháng 12/2019.  
Chương trình UN-REDD Việt Nam giai đoạn II cũng đã được Bộ NN&PTNT và  
nhà tài trợ đồng ý kéo dài thời gian thực hiện chương trình đến hết 31 tháng 12  
năm 2018.  
1.2. Hỗ trợ quốc tế  
Theo báo cáo “Dòng tài chính REDD+ Việt Nam” của Forest Trends, trong giai  
đoạn 2009 ‐ 2014, Việt Nam đã có 44 dự án liên quan đến REDD+ được triển  
khai với tổng lượng vốn cam kết là 84,31 triệu USD. Hầu hết các dự án đều có  
mục tiêu hỗ trợ việc chuẩn bị sẵn sàng thực thi REDD+. Trong đó, 24 dự án đã  
kết thúc với tổng số vốn cam kết thực hiện là US$ 18,65 triệu; 20 dự án đang  
hoạt động với tổng số vốn là US$ 65,66 triệu; 6 dự án lớn là Chương trình UN-  
REDD Việt Nam giai đoạn II (US$ 30,23 triệu), Chương trình Rừng và Đồng  
bằng (9,42 triệu USD), Dự án Carbi (5,14 triệu USD), Dự án FCPF (3,8 triệu  
9
Quyết định 5414/QĐ-BNN-TCLN ngày 25/12/2015 phê duyệt Hướng dẫn xây dựng Kế hoạch hành động  
REDD+ cấp tỉnh.  
10  
Quyết định 5337/QĐ-BNN-TCLN ngày 23 tháng 12 năm 2015 phê duyệt Đề án thành lập Quỹ REDD+ Việt  
Nam.  
11 Việt Nam nộp Ý tưởng Đề xuất Chương trình Giảm phát thải (ER-PIN) lên Quỹ Các bon vào tháng 6/2014 và  
được phê duyệt trong Nghị quyết số CFM/10/2014/3 ngày 19 tháng 6 năm 2014.  
12 Nghị quyết số PC/19/2015/4, Hội đồng FCPF đã phê duyệt báo cáo giữa kỳ và bổ sung 5 triệu USD cho Việt  
Nam.  
15  
 
USD), Chương trình UN-REDD Việt Nam giai đoạn I (4,38 triệu USD), Dự án  
Xác định khu vực tiềm năng cho REDD+ (6,4 triệu USD).  
Trong số 44 dự án, có 3 dự án trực tiếp liên quan đến giảm phát thải khí nhà  
kính với kinh phí là 11,826 triệu USD, 39 dự án liên quan đến công tác chuẩn bị  
sẵn sàng thực hiện REDD+ với kinh phí là 72,280 triệu USD, 2 dự án liên quan  
đến REDD+ với kinh phí hỗ trợ là 0,205 triệu USD.  
Tính tới năm 2014, Việt Nam có 24 dự án liên quan tới REDD+ đã hoàn thành  
với tổng nguồn vốn là 18,65 triệu USD, 20 dự án đang thực hiện với tổng vốn là  
65,66 triệu USD và tổng giải ngân đạt 37,77 triệu USD (44.8%). Tới năm 2015,  
tổng giải ngân đã tăng lên 60.2%.  
Bảng 1: Số lượng dự án, tổng số vốn cam kết và giải ngân, giai đoạn 2009-2014  
Nguồn: Dòng tài chính REDD+ tại Việt Nam, giai đoạn 2009-2014, Forest Trends (2015)  
Các nhà tài trợ chính gồm: 1) Chính phủ các nước 38,07 triệu USD, chủ yếu từ  
Đức, Hoa kỳ, Nhật Bản và Na Uy 2) Các tổ chức đa phương 39,25 triệu USD,  
chủ yếu từ UN-REDD, FCPF, GEF và IFAD 3) Khu vực tư nhân 0,46 triệu USD  
và 4) Liên minh châu Âu 0,92 triệu USD và 5) Vốn đối ứng từ Chính phủ Việt  
Nam và đồng tài chính 5,6 triệu USD.  
16  
 
Bảng 2: Vốn cam kết và giải ngân từ các nhà tài trợ chính phủ,  
giai đoạn 2009-2014  
Nguồn: Dòng tài chính REDD+ tại Việt Nam, giai đoạn 2009-2014, Forest Trends (2015)  
1.3.  
Những thành quả chính  
Trong giai đoạn 2007 - 2016, Việt Nam đã ban hành và đưa vào sử dụng:  
(1) Nghị định của Chính phủ về thực hiện và quản lý chi trả dịch vụ môi  
trường rừng;  
(2) Quyết định phê duyệt NRAP;  
(3) Quyết định phê duyệt Đề án quản lý phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính  
và quản lý các hoạt động kinh doanh tín chỉ các bon ra thị trường thế  
giới;  
(4) Quyết định thành lập Ban chỉ đạo quốc gia về REDD+;  
(5) Thành lập Mạng lưới quốc gia về REDD+ và các tiểu nhóm kỹ  
thuật;  
(6) Phê duyệt Đề án thành lập Qũy REDD+ Việt Nam;  
(7) Ban hành Hướng dẫn xây dựng PRAP;  
(8) Phê duyệt 10 PRAP;  
(9) Quyết định thí điểm chia sẻ lợi ích REDD+ trong khuôn khổ Chương  
trình UN-REDD Việt Nam giai đoạn II;  
(10) Trình đường phát thải tham chiếu quốc gia lên UNFCCC;  
(11) Bước đầu thiết lập hợp tác khu vực với Lào và Campuchia;  
(12) Đào tạo REDD+;  
(13) Thông tin, tuyên truyền REDD+.  
17  
   
Hiện nay Việt Nam đang thử nghiệm: (1) Hướng dẫn FPIC, (2) FGRM, (3) BDS  
và đang xây dựng (i) ESMF, (ii) MRV, (iii) ER-PD, (iv) Cơ chế tham gia của  
người dân địa phương, dân tộc thiểu số vào REDD+, (v) Cơ chế tham gia của  
các công ty lâm nghiệp, (vi) SIS và (vii) quy chế quản lý tài chính REDD+.  
Tuy nhiên, vẫn còn một số hạng mục chưa xây dựng như: quyền các bon và  
đăng ký quyền các bon.  
2.  
Tầm nhìn chiến lược thực hiện các hoạt động REDD+ ở Việt Nam  
NRAP quy định REDD+ cần phải được lồng ghép với Kế hoạch bảo vệ và phát  
triển rừng giai đoạn 2011-202013. Tính đến ngày 31/12/2014, diện tích rừng của  
Việt Nam đạt 13,7 triệu ha. Mục tiêu đến năm 2020 nâng độ che phủ rừng lên  
42% và sau đó duy trì bền vững và nâng cao chất lượng diện tích này. Trong giai  
đoạn này dự kiến sẽ trồng mới 2,6 triệu ha rừng, khoanh nuôi tái sinh 750.000  
ha rừng, cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt 350.000 ha, nâng cao chất lượng rừng  
tự nhiên, năng suất rừng trồng tăng lên 25% vào năm 2020 so với năm 2011.  
Đây là các mục tiêu gắn liền với các hoạt động REDD+ tại Việt Nam.  
REDD+ đã được lồng ghép vào Chiến lược quốc gia về BĐKH14. Trong chiến lược  
có quy định “Giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tăng khả năng hấp thụ khí nhà  
kính trở thành chỉ tiêu bắt buộc trong phát triển kinh tế - xã hội”. Xây dựng, thực  
hiện các chương trình giảm phát thải khí nhà kính thông qua những nỗ lực hạn chế  
mất rừng, suy thoái rừng, quản lý rừng bền vững, nâng cao khả năng hấp thụ các  
bon rừng kết hợp với duy trì và đa dạng hóa sinh kế dân cư của các vùng, huy động  
sự tham gia của cộng đồng địa phương để hỗ trợ thích ứng với BĐKH là một nội  
dung trong chiến lược này.  
Giảm phát thải khí nhà kính thông qua việc đẩy nhanh tiến độ các dự án trồng  
rừng, tăng chất lượng rừng, tăng khả năng hấp thụ khí CO2, tăng sinh khối rừng  
là một trong các giải pháp trong Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh15.  
Thực hiện các chương trình về giảm phát thải khí nhà kính thông qua nỗ lực hạn  
chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý rừng bền vững, kết hợp với đa dạng hóa  
sinh kế cho người dân địa phương cũng là một giải pháp trong chiến lược này do  
Bộ KH&ĐT chủ trì điều phối.  
13 Quyết định 57-TTG ngày 9/1/2012 Phê duyệt Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020.  
14 Quyết định 2139/QĐ-TTG ngày 5/12/2011 Phê duyệt chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu.  
Quyết định 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 về Phê duyệt chiến lược Quốc gia về Tăng trưởng xanh giai đoạn  
2011-2030.  
18  
 
Năm 2011, Bộ NN&PTNT phê duyệt Đề án giảm phát thải khí nhà kính trong  
nông nghiệp, nông thôn đến năm 2020, trong đó ngành lâm nghiệp có mục tiêu  
hấp thụ 702 triệu tấn CO2e. Như vậy có thể thấy hoạt động REDD+ đã được kết  
nối với hầu hết các chương trình và chiến lược quốc gia liên quan đến BĐKH,  
phát triển xanh, phát triển ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn của Việt  
Nam. REDD+ được coi là một giải pháp trong việc ứng phó với BĐKH trong  
“Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH ngành Nông nghiệp và Phát triển  
nông thôn”16.  
II.  
TÓM TẮT QUÁ TRꢀNH CHUẨN BỊ SẴN SÀNG THỰC HIỆN  
REDD+ Ở VIỆT NAM  
1.  
Hợpphần1:TổchứcvàthamvấnchuẩnbịsẵnsàngthựchiệnREDD+  
Tiểu hợp phần 1a: Cơ chế quản lý REDD+ quốc gia  
1.1.  
1.1.1. Cơ sở chung  
Cơ chế quản lý REDD+ quốc gia (National REDD+ Management  
Arrangements) bao hàm 2 thành tố chính là: Hệ thống tổ chức quản lý REDD+  
quốc gia và các quy định về quản lý REDD+ quốc gia. Theo hướng dẫn của  
FCPF, cơ chế quản lý REDD+ quốc gia có 5 chức năng chính là: 1) Quản lý  
thực hiện quỹ REDD+, bao gồm cả các khoản viện trợ từ FCPF 2) Điều phối các  
hoạt động REDD+ 3) Liên kết REDD+ với các chiến lược phát triển quốc gia và  
của các ngành 4) FGRM trong quá trình chuẩn bị và thực thi REDD+ 5) Tổ chức  
chia sẻ thông tin; tham vấn và thúc đẩy sự tham gia của các bên liên quan.  
Hệ thống tổ chức REDD+ quốc gia ở Việt Nam bao gồm các tổ chức sau:  
- Ban chỉ đạo REDD+ quốc gia: Tháng 1 năm 2011, Ban chỉ đạo REDD+ của  
Việt Nam đã được thành lập dưới sự ủy quyền của Thủ tướng chính phủ do Bộ  
trưởng Bộ NN&PTNT chủ trì.  
- Các Bộ chức năng trực thuộc chính phủ tham gia gồm Bộ TN&MT, Bộ  
NN&PTNT, Bộ KH&ĐT, Bộ TC, Bộ Thông tin và truyền thông, Uỷ ban Dân  
tộc …  
16 Quyết định số 819/QĐ-BNN ngày 14/3/2016 của Bộ NN&PTNT về “Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH  
ngành NN&PTNT giai đoạn 2016-2020, tầm nhìn đến năm 2050.  
19  
     
- Các Đơn vị trực thuộc Bộ NN&PTNT: TCLN, VRO trực thuộc TCLN, Trang  
- Mạng lưới REDD+ quốc gia và 06 tiểu nhóm kỹ thuật.  
- Ban chỉ đạo REDD+ cấp tỉnh, Sở NN&PTNT, các công ty Lâm nghiệp.  
- Các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ và doanh  
nghiệp.  
- Ban quản lý các chương trình và dự án liên quan tới REDD+ ở Việt Nam,  
trong đó chương trình, dự án đa phương về REDD+ (FCPF, UN-REDD), các  
chương trình, dự án song phương (JICA, USAID, KFW ….), các chương trình,  
dự án của các tổ chức phi chính phủ (WWF, FFI, SNV, Winrock …).  
Các quy định về quản lý REDD+ quốc gia có liên quan đến các văn bản sau:  
- Các luật có liên quan như: Luật bảo vệ môi trường 2014, Luật đất đai, Luật bảo vệ  
và phát triển rừng, Luật hòa giải cơ sở, Luật khiếu nại và Luật cung cấp thông tin.  
- Nghị định 05/2008/NĐ-CP17 về Qũy Bảo vệ và phát triển rừng, Nghị định  
99/2010/NĐ-CP18 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.  
- Chương trình mục tiêu quốc gia nhằm ứng phó với BĐKH, Chiến lược quốc gia  
về BĐKH, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, Đề án quản lý phát thải khí  
gây hiệu ứng nhà kính và quản lý các hoạt động kinh doanh tín chỉ các bon ra thị  
trường thế giới, NRAP giai đoạn 2011 - 2020.  
- Quyết định 2730 về Khung chương trình hành động thích ứng với BĐKH của  
ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2008 - 2020, Quyết định  
819 phê duyệt Kế hoạch hành động của ngành NN&PTNT ứng phó với BĐKH  
giai đoạn 2011 - 2015 và tầm nhìn đến năm 2020, Quyết định 3119 phê duyệt  
Đề án giảm phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp, nông thôn đến năm 2020.  
- Quyết định của liên Bộ NN&PTNT, TN&MT, KH&CN liên quan đến BĐKH,  
tăng trưởng xanh.  
- Quyết định 18 về Chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 -  
2020; Quyết định 57 về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 -  
2020.  
17 Nghị định 05/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/01/2008.  
18 Nghị định 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24/9/2010.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 136 trang yennguyen 14420 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Tự đánh giá mức độ chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_tu_danh_gia_muc_do_chuan_bi_san_sang_thuc_hien_redd.pdf