Nghiên cứu chọn và nhân giống cho xoan ta và tếch có năng suất cao
NGHIÊN CỨU CHỌN VÀ NHÂ N GIỐNG CHO XOAN TA VÀ TẾCH
CÓ NĂNG SUẤT CAO
Đoàn Thị Mai, Lê Sơn, Nguyễn Thị Thơm, Phan Quyền
Trung tâ m Nghiên cứu Giống cây rừng
TÓ M TẮT
Tếch là loài câ y nhập nội có giá trị kinh tế cao và đã được gây trồng thành cô ng trên một số vùng
sinh thá i chí nh trong cả nước. Bên cạnh đó, Xoan ta là loài câ y bản địa, đa tác dụng, có sinh trưởng
nhanh và có giá trị kinh tế cao, được trồng rộng rã i trên cả nước. Tuy nhiên, do những điều kiện khó khăn
nhất định mà câ y Tếch và Xoan ta chưa được chú trọng để phát triển. Từ kết quả nghiên cứu của đề tài
“Nghiên cứu tuyển chọn, nhân và phá t triển giống Tếch và Xoan ta có năng suất cao nhằm đáp ứng yêu
cầu trồng rừng gỗ lớn” do Trung tâm Nghiên cứu Giống cây rừng thực hiện, 60 cây trội Tếch và 79 câ y
trội Xoan ta đã được chọn lọc từ các lâm phần rừng trồng. Các khảo nghiệm hậu thế và dò ng vô tí nh của
nguồn giống này và một số nguồn giống Tếch nhập nội khác đã được xây dựng nhằm tạo nguồn vật liệu
di truyền ban đầu cho các chương trì nh chọn giống Tếch tiếp theo. Các nghiên cứu về nhân giống sinh
dưỡng cũng đã được tiến hành thành cô ng cho cá c câ y trội nhằm đưa nhanh các kết quả nghiên cứu vào
sản xuất.
Từ khóa: Chọn giống, nhân giống, Xoan ta, Tếch
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong Dự án trồng mới 5 triệu héc ta rừng, có 3 triệu héc ta rừng sản xuất bao gồm 1 triệu héc ta
câ y cô ng nghiệp dài ngày và 2 triệu héc ta cây lâm nghiệp, trong đó có tới 75% là cá c loài câ y keo, bạch
đàn, thông và tràm; một số loài nhập nội có triển vọng, cây gỗ lớn và câ y bản địa chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ và
cũng chưa được chú ý phát triển.
Xoan ta (Melia azedarach) thuộc họ Xoan (Meliaceae) là loài câ y gỗ lớn, có chiều cao 15-20m. Là
loài cây đa tác dụng, gỗ có thể dùng làm đồ mộc gỗ xây dựng, lá làm phâ n xanh, hạt có thể ép lấy dầu, vỏ
có thể làm thuốc,… và là loài câ y bản địa phân bố rộng rã i ở nước ta suốt từ Bắc đến Nam. Đây là loài có
gỗ nhẹ và mềm, dùng để xây dựng, đóng đồ mộc,… cũng là loài cây được trồng phân tán rất phổ biến, có
tăng trưởng khá nhanh và có giá trị kinh tế nhưng cho đến nay chúng ta hầu như chưa có nghiên cứu
chọn và nhâ n giống cho đối tượng này.
Tếch (Tectona grandis) thuộc họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae), phâ n bố trong các khu rừng nhiệt
đới ở Miến Điện, Nam và Trung Ấn Độ, Thái Lan, Lào và đã được gây trồng ở một số nước như
Indonesia, Malaysia, Philippin, Cămphuchia và một số nước Châu Phi, Châu Mỹ,… Do có giá trị kinh tế
rất cao nên Tếch trồng với diện tích lớn. Ở Java (Indonesia) diện tích trồng Tếch khoảng 1 triệu hecta
chiếm tới 45% diện tích rừng trồng. Tính đến 2003 diện tí ch rừng Tếch ở khu vực Châu Á - Thá i Bì nh
Dương lên tới 25 triệu hecta (C.T.S. Nair., 2003).
Trước nhu cầu về gỗ lớn, bao gồm gỗ xây dựng, gỗ nguyên liệu sản xuất đồ mộc, hàng xuất khẩu
ngày càng tăng nhanh. Từ trước đến nay nguồn cung cấp các loại nguyên liệu này chủ yếu là từ rừng tự
nhiên hoặc nhập khẩu, mặt khác các nghiên cứu chọn giống cây rừng gần đây chủ yếu tập trung vào một
số đối tượng cây nhập nội, mọc nhanh phục vụ cho công nghiệp và vá n nhâ n tạo,… cá c nghiên cứu về
câ y gỗ lớn và câ y bản địa cò n í t, mặt khác nhân giống bằng công nghệ mô-hom ngoài việc đảm bảo chất
lượng di truyền, cò n cung cấp được số lượng lớn cây giống có chất lượng cho trồng rừng. Do đó, nghiên
cứu chọn giống, nhân giống cho các đối tượng Tếch và Xoan ta là việc làm cần thiết.
VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vật liệu và địa điểm nghiên cứu
- Đối với Xoan ta: các địa điểm được chọn lọc để chọn cây trội dự tuyển phải có độ tuổi từ 5 năm trở lên
và có diện tích trồng tối thiểu từ 0,2ha hoặc có số lượng cây từ 30 cây trở nên (Tại một số tỉnh: Hò a Bì nh,
Điện Biên, Sơn La, Vĩnh Phúc Phú Thọ, Yên Bá i, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bì nh, Quảng Trị, Đồng Nai,
Bì nh Phước).
- Đối với Tếch: Địa điểm chọn cây trội dự tuyển cho Tếch: Các lâm phần rừng trồng có độ tuổi từ 20 năm
trở lên, có diện tích tối thiểu 0,3ha (Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Châu (Sơn La), Đồng Nai, Vũng Tàu,
Bì nh Phước, Đắc Lắc).
- Vật liệu nghiên cứu: các dò ng câ y trội của 2 loài đã được chọn lọc tại các lâm phần rừng trồng.
Phương pháp nghiên cứu
- Chọn lọc cây trội: Đo đếm số liệu về sinh trưởng, và cá c chỉ tiêu về chất lượng và đánh giá độ vượt trội
về chỉ tiêu đo đếm của các cây trội chọn lọc so với các cây xung quanh theo Lê Đì nh Khả (2003).
- Cá c thí nghiệm về nhân giống: Nghiên cứu nhân giống sinh dưỡng bằng phương pháp giâm hom
thực hiện tương tự như với một số loài câ y rừng (Lê Đì nh Khả, 2003), nhâ n giống bằng nuôi cấy mô theo
phương pháp nhân giống đã được thực hiện cho keo lai, bạch đàn (Đoàn Thị Mai, 2003).
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kết quả nghiên cứu về Xoan ta
Chọn lọc cây trội
Qua khảo sát một số tỉnh/thành trên một số vùng sinh thá i chí nh, 79 câ y trội Xoan ta đã được
chọn lọc, số liệu về độ vượt của các chỉ tiêu chiều cao vút ngọn (H), chiều cao dưới cành (Hdc) và đường
kí nh ngang ngực (D1.3) được tổng hợp trong bảng sau:
Bảng 1. Tổng hợp các khu vực điều tra và số lượng cây trội tại các điểm nghiên cứu
Stt
Tỉnh/Thành
Số cây trội
được chọn
Độ vượt (lần độ lêch chuẩn)
H
Hdc
D1.3
1
2
3
4
5
6
7
8
Hà Nội
4
30
10
5
1,59 - 1,88
1,46 – 2,75
1,54 – 2,24
1,53 - 2,19
1,57 - 1,94
1,63 - 2,62
1,53 - 1,98
1,50 - 1,97
1,7 - 1,97
1,5 - 4,22
1,74 - 1,85
1,55 - 4,08
1,52 - 2,68
1,82 - 2,13
1,55 - 2,48
1,78 - 2,24
1,56 - 2,27
1,55 - 2,48
Ba Vì (Hà Tâ y)
Hò a Bì nh
1,47 - 2,57
1,59 - 2,21
1,52 - 1,94
1,61 - 2,06
1,54 - 2,21
1,52 - 1,98
Nghệ An
Thanh Hó a
Quảng Trị
Phú Thọ
8
4
8
Đồng Nai
10
79
Tổng cộng
Từ các địa điểm chọn lọc cây trội tại Hà Nội, qua kết quả đo đếm đã chọn lọc được 4 cây trội dự
tuyển. Các cây trội dự tuyển được chọn chỉ có độ vượt từ 1,59 đến 1,88 lần độ lệch chuẩn. Về chỉ tiêu
chiều cao dưới cành cá c câ y trội có độ vượt từ 1,79 đến 1,97 lần độ lệch chuẩn.
Số liệu sinh trưởng đo được tại Ba Vì cũng cho thấy, khu vực này tương đối thích hợp để trồng
Xoan ta, sau 6 năm chiều cao vút ngọn trung bì nh của các cây Xoan ta tại khu vực khảo sát đạt khoảng
12,6m với đường kính ngang ngực trung bì nh cũng đạt tới 18,5cm.
Cá c câ y trội dự tuyển tại Hò a Bì nh được chọn lọc có độ vượt về chiều cao đạt từ 1,54 đến 2,24
lần độ lệch chuẩn.
Ảnh 1. Cây trội Xoan ta
Ở Nghệ An, qua kết quả đo đếm đã chọn lọc được 4 cây trội dự tuyển. Các cây trội dự tuyển
được chọn chỉ có độ vượt từ 1,59 đến 1,88 lần độ lệch chuẩn. Về chỉ tiêu chiều cao dưới cành cá c câ y
trội có độ vượt từ 1,79 đến 1,97 lần độ lệch chuẩn.
Tại các đại điểm chọn lọc cây trội tại Thanh Hó a, qua kết quả đo đếm đã chọn lọc được 8 cây trội
dự tuyển. Các cây trội dự tuyển được chọn chỉ có độ vượt từ 1,57 đến 1,94 lần độ lệch chuẩn.
Trong toàn bộ điểm được chọn tại Quảng Trị, qua kết quả đo đếm đã chọn lọc được 4 cây trội dự
tuyển. Các cây trội dự tuyển được chọn chỉ có độ vượt từ 1,57 đến 1,63 lần độ lệch chuẩn. Về chỉ tiêu
chiều cao dưới cành cá c câ y trội có độ vượt từ 1,52 đến 1,88 lần độ lệch chuẩn.
Trong các điểm chọn lọc cây trội tại Phú Thọ đã chọn lọc được 8 câ y trội dự tuyển. Các cây trội
dự tuyển được chọn chỉ có độ vượt từ 1,53 đến 1,98 lần độ lệch chuẩn. Về chỉ tiêu chiều cao dưới cành
cá c câ y trội có độ vượt từ 1,54 đến 2,21 lần độ lệch chuẩn.
Từ các kết quả chọn giống cho Xoan ta ở Đồng Nai đề tài đã chọn lọc được 10 cây trội dự tuyển.
Cá c câ y trội dự tuyển được chọn chỉ có độ vượt từ 1,50 đến 1,97 lần độ lệch chuẩn. Về chỉ tiêu chiều cao
dưới cành cá c câ y trội có độ vượt từ 1,52 đến 1,98 lần độ lệch chuẩn.
Kết quả nhân giống vô tính cho cá c câ y trội dự tuyển Xoan ta đã được chọn lọc
Nhâ n giống sinh dưỡng Xoan ta bằng giâm hom
Kết quả thí nghiệm bước đầu cho thấy với Xoan ta loại hóa chất thích hợp cho ra rễ trong giâm
hom là IBA nồng độ 0,75% với tỷ lệ ra rễ đạt trên 60%. Như vậy, tỷ lệ sống và ra rễ của Xoan ta nếu so
với các loại cây rừng khác như Keo lai, Bạch đàn cho dù thấp hơn nhưng có thể chấp nhận được trong
nghiên cứu.
Ảnh 2. Hom Xoan ta đã ra rễ
Nhâ n giống Xoan ta bằng nuôi cấy mô
- Ảnh hưởng của hoá chất khử trùng đến khả năng bật chồi của mẫu vật
Cá c thí nghiệm khử trùng cho Xoan ta được tiến hành trên 2 loại hoá chất khử trùng cơ bản được
sử dụng rộng rã i cho nghiên cứu nuôi vấy mô cá c loài câ y rừng là HgCl2 và Ca(OCl)2.
Tương tự như với các loài câ y rừng khác, thuỷ ngân clorua 0,1% có tá c dụng tốt hơn cá c loại hóa
chất khử trùng khá c khi khử trùng mẫu vật cho Xoan ta. Khi sử dụng hóa chất này cho thí nghiệm khử
trùng, với thời gian khử trùng 15 phút tỷ lệ bật chồi đạt 13,33% đến 17,78% và tỷ lệ nhiễm từ 37,78% -
46,67%.
- Ảnh hưởng thời vụ đến khả năng bật chồi Xoan ta
Kết quả thí nghiệm khử trùng theo mùa vụ cho thấy: mẫu vật lấy vào thời gian tháng 4 đến tháng 9
cho tỷ lệ nảy chồi cao và thí ch hợp cho việc vào mẫu Xoan ta.
- Ảnh hưởng các loại môi trường đến khả năng nhân chồi của Xoan ta
Môi trường nuôi cấy MS* có tá c dụng rõ rệt làm tăng hệ số nhân chồi, chiều dài chồi cũng như số lá
trên chồi của Xoan ta.
- Ảnh hưởng Cytokinine đến khả năng nhân chồi của Xoan ta
Cá c thí nghiệm nhân chồi cho Xoan ta được thực hiện với môi trường nuôi cấy là MS cải tiến (kí
hiệu MS*) được bổ sung thêm cá c chất kích thích sinh trưởng riêng rẽ và phối hợp.
Kết quả thí nghiệm với các dò ng câ y trội Xoan ta cho thấy môi trường nhân chồi thí ch hợp cho các
dò ng Xoan ta nghiên cứu là môi trường MS* có bổ sung 0,5 - 1,0 mg/l BAP và 0,1 mg/l NAA. Khi sử dụng
môi trường này để kích thích tạo chồi, hệ số nhân chồi đạt từ 5,9 đến 6,4 chồi/cụm chồi. Các chồi tạo
được có chiều cao trung bì nh từ 2,7 đến 3,5cm sau 20-25 ngày nuô i cấy.
Ảnh 3. Cụm chồi Xoan ta
- Sự hì nh thành rễ
Nghiên cứu ra rễ của Xoan ta đã được thực hiện ở giai đoạn khi cá c chồi có chiều cao 2,5 - 3cm
được tách ra cấy vào môi trường MS* có bổ sung một số chất Auxin để tạo rễ.
Kết quả thí nghiệm cho thấy với công thức môi trường MS* + IBA 0,5 ml/l cho tỷ lệ ra rễ các dò ng
Xoan ta nghiên cứu là cao nhất, đạt trung bì nh 87,26%, với số rễ trung bì nh 4,56 rễ/chồi thí nghiệm.
Nhâ n giống Xoan ta bằng phương pháp ghép
Kết quả thí nghiệm ghé p Xoan ta cho thấy:
- Tỷ lệ sống của cây ghép có chồi lấy từ cây hom cao nhất đạt 95,0% hơn hẳn so với cây ghép
chồi lấy từ mô.
- Tuổi gốc ghép thích hợp là 30 - 40 ngày tuổi, tỷ lệ sống đạt trên 80%.
- Chiều dài gốc ghép 10cm ở 30 ngày tuổi có tỷ lệ sống cây ghép cao nhất đạt 95,5%.
- Tuổi chồi ghép tốt nhất là 3 tuần tuổi đạt trên 77,3% .
- Chiều dài chồi ghép ở 10cm cho tỷ lệ sống cao nhất 96,6%.
Cá c kết quả nghiên cứu về Tếch
Chọn lọc cây trội
Qua điều tra khảo sát đã chọn được 60 cây trội tại 5 khu vực khác nhau là Thanh Sơn, Định
Quá n, Xuyên Mộc, Mã Đà, Bì nh Phước.
Bảng 2. Tổng hợp kết quả chọn lọc cây trội Tếch
Stt
Tỉnh/Thành
Số cây trội
được
Độ vượt (ϭ)
Hdc
chọn
Hvn
D1.3
1
2
3
4
5
Thanh Sơn
14
14
10
13
9
1,46 - 2,76
0,63 – 4,39
1,61 - 2,86
1,54 - 2,44
0,59 - 1,96
1,44 - 2,52
0,30 - 1,53
1,33 - 2,14
1,58 - 2,86
1,15 - 2,54
1,95 - 5,35
1,50 - 1,95
1,02 - 3,61
1,66 - 2,68
0,69 - 1,98
Định Quán
Xuyên Mộc
Mã Đà
Bì nh Phước
Tổng cộng
60
Tại Định Quán, qua quá trì nh chọn lọc và so sá nh dựa vào cá c chỉ tiêu chọn giống, 14 cây trội dự
tuyển đã được chọn lọc, các cây này có độ vượt về đường kính theo độ lệch chuẩn là 1,5 - 1,95 Sd.
Tại Xuyên Mộc, đã chọn được 10 cây trội dự tuyển, các cây này có chỉ tiêu chất lượng đều đạt
yêu cầu chọn giống cho kinh doanh gỗ lớn với số điểm từ 51 - 58, và cao hơn nhiều so với các cây so
sá nh cùng lâ m phần.
Cũng tại Đồng Nai, 13 cây trội dự tuyển đã được chọn lọc tại Mã Đà, các cây này có hệ số biến
động về đường kính ngang ngực tính theo độ lệch chuẩn (Sd) nằm trong khoảng từ 1,66 đến 2,68 Sd. Chỉ
tiêu chất lượng của 9 cây trội dự tuyển, cao hơn các cây so sánh với độ vượt dao động từ 15,96 - 26,3%.
Như vậy, qua kết quả phân tích ở trên có thể nhận thấy cả 9 cây trội dự tuyển này đều đạt yêu cầu đặt ra
cho chọn lọc cây trội.
Qua khảo sát điều tra, đã chọn được 14 cây trội dự tuyển tại rừng Tếch Thanh Sơn, mặc dù độ
biến động của lâ m phần là khá cao, xong cá c câ y trội dự tuyển ở đây có độ vượt về đường kính ngang
ngực đều tương đối cao.
Ảnh 4. Đo đếm số liệu câ y trội Tếch tại Định Quán - Đồng Nai
Nhâ n giống sinh dưỡng Tếch bằng nuôi cấy mô
Khử trùng mẫu vật
Kết quả cho thấy, đối với Tếch thì cô ng thức khử trùng tốt nhất là HgCl2 0,05% trong khoảng thời
gian 10 phút, mặc dù tỷ lệ nhiễm là tương đối cao 74,8% nhưng tỷ lệ mẫu bật chồi lại cao (18,51%) so
với các công thức thí nghiệm cò n lại.
Kết quả thí nghiệm khử trùng theo mùa vụ cũng cho thấy: thời điểm lấy mẫu thích hợp của Tếch là
vào mùa hè từ tháng 5 đến tháng 7.
Xác định môi trường tái sinh ban đầu
Hệ số nhâ n của Tếch trong môi trường WPM đạt cao nhất là 2,27 lần, sau đó là ở môi trường MS
hệ số nhân là 1,93 và cuối cùng là môi trường B5 với hệ số nhân chồi là 1,53.
Nhâ n chồi cho các dò ng câ y trội Tếch
Kết quả thử nghiệm môi trường nhân chồi Tếch cho thấy: trong cá c cô ng thức thí nghiệm thì cô ng
thức môi trường có bổ sung BAP 0,5mg/l và NAA 0,1mg/l cho hệ số nhân đạt 1,99 lần, chiều cao chồi là
2,38cm và số lá bì nh quâ n trên chồi là 7,57 lá cá c chồi sinh trưởng tốt hơn hẳn so với các công thức thí
nghiệm cò n lại.
Ra rễ Tếch
- Ảnh hưởng của NAA và IBA đến khả năng tạo rễ của chồi Tếch In-vitro
Qua cá c thí nghiệm nhân giống đã chọn được công thức thí nghiệm tốt nhất vừa cho tỷ lệ ra rễ
cao, số rễ trung bì nh trên chồi nhiều, chiều dài trung bì nh của rễ cũng cao đó chính là công thức MS* +
1,5 mg/l IBA. Với công thức này tỷ lệ ra rễ là 91,73%, số rễ trung bì nh trên chồi là 2,22 rễ/cây, chiều dài
trung bì nh của rễ là 1,58 cm/rễ và chiều dài chồi là 2,5cm.
- Ảnh hưởng của NAA và IBA đến khả năng tạo rễ của chồi Tếch ngoài phò ng thí nghiệm
Để rút ngắn thời gian trong quy trì nh nhâ n giống cho Tếch, thí nghiệm giâm hom cho các chồi từ
nuô i cấy Invitro trong điều kiện vườn ươm đã được tiến hành. Trong thí nghiệm này, cá c chồi thu được
sau quá trì nh nhâ n chồi, được tách ra, chấm gốc bằng thuốc kích thích ra rễ thương phẩm dạng bột
(TTG) rồi được chăm sóc như với phương pháp giâm hom thông thường. Kết quả thí nghiệm cho thấy,
thuốc kích thích ra rễ dạng bột, có gốc là IBA với nồng độ 1% là thí ch hợp nhất cho quá trì nh ra rễ trực
tiếp cho các dò ng Tếch nghiên cứu, với tỷ lệ ra rễ đạt trên 85%. Á p dụng thành công phương pháp này,
thời gian nhân giống cho Tếch rút ngắn được 10-15 ngày so với phương pháp thông thường, từ đó tiết
kiệm được các chi phí đầu vào: hó a chất, nhân cô ng,... và hạ giá thành sản phẩm.
Kết quả thí nghiệm về mụa vụ cho ra rễ chồi Invitro trực tiếp trong điều kiện vườn ươm cho thấy: về
mùa Xuâ n và mùa thu thì tỷ lệ chồi sống cao và tỷ lệ ra rễ cũng cao. Cò n mùa hè thì tỷ lệ sống thấp, nhì n
vào biểu đồ có thể thấy về mùa hè thì tỷ lệ chồi sống và tỷ lệ chồi ra rễ tương đương hay những chồi sống
được đều ra rễ. Cò n về mùa Đông thì tỷ lệ sống cũng như tỷ lệ ra rễ là thấp nhất, các chỉ tiêu về số rễ trung
bì nh và chiều dài rễ trung bì nh cũng thấp nhất.
KẾT LUẬN
- Đã chọn lọc được 79 cây trội cho Xoan và 60 câ y trội cho Tếch tại các lâm phần rừng trồng trên một số
vùng sinh thá i chí nh.
- Phương pháp dẫn dò ng/giống cho các cây trội Xoan ta có hiệu quả nhất là sử dụng hom rễ.
- Phương pháp ghép là phương pháp thích hợp nhất cho dẫn dò ng cho cá c câ y trội Tếch đã chọn lọc được.
- Với Xoan ta phương pháp nhân giống vô tính thích hợp nhất là ghé p chồi non, khi áp dụng phương pháp
này có tỷ lệ sống chồi ghép đạt trên 90%
- Đối với Tếch, phương pháp nhân giống thích hợp là nuô i cấy mô, môi trường nhân chồi được sử dụng là
MS* + BAP 0,5mg/l + NAA 0,1mg/l
- Tếch có thể được kích thích ra rễ theo 2 phương pháp: phương pháp ra rễ Invitro thông thường với môi
trường 1/2MS* + 1,5mg/l IBA và phương pháp ra rễ trực tiếp trong điều kiện với ươm với thuốc kích thích ra
rễ bột dạng thương phẩm có gốc là IBA nồng độ 1% với tỷ lệ ra rễ đạt trên 90%.
Ảnh 5. Ra rễ Tếch tại vườn ươm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Đì nh Khả và cộng sự, 2003. Chọn tạo và nhâ n giống cho một số loài câ y trồng rừng chủ yếu ở
Việt Nam. Nxb Nô ng nghiệp, Hà Nội.
2. Lê Đì nh Khả, Dương Mộng Hùng, 2003. Giống cây rừng. Nxb Nô ng nghiệp, Hà Nội.
3. Đoàn Thị Mai và cộng sự, 2003. Nhâ n giống cho một số giống cây rừng mới chọn tạo bằng nuôi
cấy mô. Hội nghị CNSH toàn quốc. Hà Nội - tháng 11 năm 2003.
4. K.K.N. Nair, K.V. Bhat, E. M. Muralidharan, 2003. Quality Timber Products of Teak from
Sustainable Forest Management. TEAKNET, 2 - 5 December 2003, Peechi, Kerala, India.
RESEARCH ON SELECTION AND PROPAGATION OF MELIA AZEDARACH AND TECHTONA
GRANDIS FOR HIGH YEILD
Doan Thi Mai, Le Son , Nguyen Thi Thom and Phan Quyen
Forest Tree Improvement Research Centre, FSIV
SUMMARY
Teak (Tectona grandis) is a high value forest tree introduced into Vietnam in 1930s. Currently
there are about 7000ha of Teak in Viet Nam. Melia azedarach is a native tree species, which has a high
value and potential as an economic plantation species. However, the genetic attributes of these two
species are poorly developed and require suitable genetic improvement programs to identify desirable
traits and characteristics so as to improve the genetic quality of the current resource.
The Forest Tree Improvement Research Centre (FSIV) has selected 60 and 79 trees of plus trees
of Teak and of Melia azedarach, respectively, from a series of plantations. Progeny and clonal trials have
been established in some of the main climatic zones to compare tree performance in order to further
improve the genetic resources of Teak and Melia azedarach in Vietnam. Propagation studies are carried
out sucessfuly for the plus trees in order to quickly introduce the researches in to production.
Keywords: Breeding selection, propagation, Tectona grandis, Melia azedarach.
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu chọn và nhân giống cho xoan ta và tếch có năng suất cao", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nghien_cuu_chon_va_nhan_giong_cho_xoan_ta_va_tech_co_nang_su.pdf

