Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phục hồi rừng trên đất lâm nghiệp hiện đang sản xuất nông nghiệp trồng cây công nghiệp tại huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng

Lã Nguyên Khang1, Trần Lê Kiều Oanh1  
Nguyễn Tuấn Dương2  
Tóm TắT  
I. đẶT vẤn đề  
Nghiên cứu đã xác định được diện tích đất lâm  
Đức Trọng là huyện nằm ở vùng giữa của tỉnh  
Lâm Đồng với tổng diện tích tự nhiên 90.180 ha,  
chiếm 9,23% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh.  
Tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp của huyện  
Đức Trọng là 40.238 ha (Chi cục Kiểm Lâm  
Lâm Đồng, 2018); chiếm 6,9% diện tích đất lâm  
nghiệp toàn tỉnh. So với một số huyện khác trong  
tỉnh, diện tích rừng của huyện Đức Trọng không  
lớn nhưng có vai trò quan trọng trong phòng hộ  
bảo vệ đất, giữ nước cho hồ thủy điện Đại Ninh  
và hệ thống sản xuất nông nghiệp trên địa bàn  
toàn huyện. Trong những năm qua, cùng với  
thực trạng chung của tỉnh Lâm Đồng và vùng Tây  
Nguyên, huyện Đức Trọng chịu nhiều áp lực về  
biến động tài nguyên rừng do tác động gây mất  
rừng và suy thoái rừng gia tăng.  
nghiệp hiện đang sản xuất nông nghiệp, trồng  
cây công nghiệp trên địa bàn huyện Đức Trọng là  
10.214,52 ha thuộc 37 chủ rừng khác nhau. Một  
số mô hình trồng xen cây lâm nghiệp với cây công  
nghiệp phổ biến hiện nay là Cà phê xen Muồng  
đen; Hồ tiêu xen Muồng đen; Cà phê xen Mắc ca  
hoặc Cà phê xen hỗn hợp Sầu riêng, Mắc ca, Bơ.  
Trong đó, mô hình trồng xen cây lâm nghiệp trên  
đất đang trồng cây công nghiệp (Cà phê, Hồ tiêu)  
cho hiệu quả cao hơn so với trồng độc canh cây Cà  
phê. Vì vậy Muồng đen và Mắc ca là loài cây được  
đề xuất trồng xen trên diện tích đất lâm nghiệp  
hiện đang sản xuất nông nghiệp, trồng cây công  
nghiệp nhằm phục hồi lại rừng trên những diện  
tích đất này. Nghiên cứu đã đề xuất được các giải  
pháp phục hồi rừng trên diện tích đất lâm nghiệp  
hiện đang sản xuất nông nghiệp, trồng cây công  
nghiệp, bao gồm: Giải pháp về tổ chức, quản lý,  
kỹ thuật; giải pháp về cơ chế, chính sách và giải  
pháp về khoa học công nghệ. Kết quả nghiên cứu  
có thể được sử dụng làm tư liệu tham khảo cho  
việc đưa ra các giải pháp phục hồi môi trường  
rừng trên đất lâm nghiệp hiện đang sản xuất  
nông nghiệp, trồng cây công nghiệp theo hướng  
phát triển tăng trưởng xanh, đảm bảo bền vững  
và hiệu quả về kinh tế - xã hội - môi trường bằng  
giải pháp nông lâm kết hợp.  
Một trong những nguyên nhân quan trọng  
gây mất rừng và suy thoái rừng ở Đức Trọng, là  
tình trạng người dân lấn chiếm đất rừng sản xuất  
để sản xuất nông nghiệp, trồng cây công nghiệp  
(chủ yếu là cây cà phê). Theo kết quả rà soát điều  
chỉnh quy hoạch 03 loại rừng toàn tỉnh Lâm Đồng  
cuối năm 2017, xác định diện tích đất lâm nghiệp  
hiện đang sản xuất cây công nghiệp, nông nghiệp  
trên địa bàn toàn huyện Đức Trọng vào khoảng  
10.214 ha, chiếm khoảng 25% tổng diện tích đất  
quy hoạch cho lâm nghiệp của huyện.  
Trước tình trạng đó, để có những giải pháp  
hiệu quả nhằm khôi phục lại môi trường rừng  
bị mất, bị suy thoái do nguyên nhân người dân  
xâm lấn đất lâm nghiệp để sản xuất nông nghiệp,  
trồng cây công nghiệp thì cần phải có những  
Từ khóa: Đức Trọng, xâm lấn, mất rừng, phục  
hồi rừng, nông lâm kết hợp  
1 Viện Sinh thái rừng và Môi trường  
2 Trường Đại học Nông Lâm nghiệp Bắc Giang  
47  
đánh giá về thực trạng làm căn  
cứ cho việc đề xuất các giải  
pháp khả thi vừa đảm bảo khôi  
phục được rừng vừa hài hòa và  
chia sẻ lợi ích sinh kế cho người  
dân địa phương là việc làm cần  
thiết hiện nay.  
phát triển trong khả năng chịu  
đựng được của các hệ sinh thái  
trên cơ sở xây dựng những giải  
pháp phù hợp từ quá trình phân  
tích thực trạng - xác định rõ  
nguyên nhân của các quá trình  
trong mỗi đơn vị hay cộng đồng  
thôn bản.  
sẽ được phân tích, đánh giá  
trên cơ sở tham vấn với các bên  
liên quan thông qua các cuộc  
phỏng vấn, thảo luận nhóm và  
khảo sát hiện trường  
Phương pháp tổng hợp và  
xử lý số liệu: Các thông tin, số  
liệu sau khi thu thập được xử  
lý, phân tích và tổng hợp theo  
từng nội dung. Các tiêu chí, chỉ  
số cần đánh giá phân tích được  
xử lý thống kê với sự hỗ trợ của  
phần mềm excel.  
Phương pháp nghiên cứu cụ  
thể:  
II. nộI Dung và phương pháp  
nghIên cứu  
Phương pháp thu thập dữ  
liệu thứ cấp: Các dữ liệu thứ cấp  
cần thu thập và phân tích bao  
gồm: Điều kiện tự nhiên ở địa  
bàn nghiên cứu; điều kiện kinh  
tế - XH ở địa bàn nghiên cứu;  
kết quả nghiên cứu liên quan  
đến trồng rừng, phục hồi rừng:  
Quy luật tái sinh, diễn thế, điều  
kiện thổ nhưỡng, điều kiện tiểu  
khí hậu, đặc điểm sinh thái loài,  
kinh nghiệm trong trồng rừng;  
phục hồi rừng...  
Phương pháp tham vấn các  
bên liên quan: Các vấn đề về cơ  
chế chính sách, kỹ thuật phục  
hồi rừng trên đất lâm nghiệp  
hiện đang sản xuất nông  
nghiệp, trồng cây công nghiệp  
1. Nội dung  
Rà soát, đánh giá hiện trạng  
đất lâm nghiệp hiện đang sản  
xuất nông nghiệp, trồng cây  
công; đánh giá thực trạng các  
mô hình trồng xen cây lâm  
nghiệp trên diện tích đất lâm  
nghiệp hiện đang sản xuất  
nông nghiệp, trồng cây công  
nghiệp; đề xuất giải pháp phục  
hồi rừng trên diện tích đất lâm  
nghiệp hiện đang sản xuất nông  
nghiệp, trồng cây công nghiệp.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
III. KếT quả và Thảo luận  
1. Thực trạng diện tích đất lâm  
nghiệp hiện đang sản xuất nông  
nghiệp, trồng cây công nghiệp  
a. Diện tích đất lâm nghiệp  
hiện đang sản xuất nông  
nghiệp, trồng cây công nghiệp  
tính đến 30/12/2017 (Bảng 1).  
Xây dựng được bản đồ diện  
tích đất lâm nghiệp hiện đang  
sản xuất nông nghiệp, trồng  
cây công nghiệp trên địa bàn  
huyện Đức Trọng.  
Phương pháp tiếp cận:  
Tiếp cận hệ thống: Cần phải  
lồng ghép các giải pháp cải  
thiện sinh kế và bảo vệ môi  
trường nông thôn, các chương  
trình quy hoạch phát triển kinh  
tế xã hội địa phương với mục  
tiêu và các hoạt động, giải pháp  
được đề xuất trong nghiên cứu  
này.  
Kết quả nghiên cứu cho  
thấy, tổng diện tích đất lâm  
Bảng 1. Diện tích đất lâm nghiệp hiện đang sản xuất nông nghiệp, trồng cây công nghiệp  
theo chủ quản lý rừng trên địa bàn huyện Đức Trọng  
Tiếpcậncósựthamgia:Đảm  
bảo các các giải pháp được đề  
xuất phù hợp với nguyện vọng  
và sự đóng góp của người dân,  
từ đó đảm bảo tính xã hội và sự  
đồng thuận cao. Trong suốt quá  
trình thực hiện, nghiên cứu đã  
áp dụng phương pháp nghiên  
cứu có sự tham gia (PRA) bằng  
hoạt động phỏng vấn và thảo  
luận nhóm.  
Tiếp cận kinh tế - xã hội -  
môi trường: Thực chất của cách  
tiếp cận này là dựa trên quan  
điểm phát triển bền vững - sự  
(Nguồn: Tổng hợp từ bản đồ hiện trạng rừng huyện Đức Trọng, 2017)  
48  
nghiệp hiện đang sản xuất nông nghiệp, trồng  
cây công nghiệp trên địa bàn huyện Đức Trọng  
là 10.214,52 ha thuộc 37 chủ rừng khác nhau,  
trong đó diện tích này tập trung chủ yếu ở 3 chủ  
rừng Nhà nước là Ban QLRPH Đại Ninh, Ninh Gia  
và Tà Năng. Diện tích đất lâm nghiệp hiện đang  
sản xuất nông nghiệp, trồng cây công nghiệp đã  
diễn ra nhiều năm trước, hiện nay trên diện tích  
này người dân chủ yếu là trồng cây cà phê, một  
số diện tích trồng Hồ Tiêu.  
b. Biến động diện tích đất lâm nghiệp hiện  
đang sản xuất nông nghiệp, trồng cây công  
nghiệp giai đoạn 2010 - 2017:  
Nghiên cứu đã sử dụng lớp bản đồ hiện trạng  
rừng năm 2010 và năm 2017 để chồng xếp và  
phân tích biến động các loại đất loại rừng trên địa  
bàn huyện Đức Trọng giai đoạn 2010 – 2017 để  
thấy rõ được biến động diện tích đất lâm nghiệp  
hiện đang sản xuất nông nghiệp, trồng cây công  
nghiệp trên địa bàn huyện.  
địa phương khác đến địa bàn huyện Đức Trọng  
trong những năm trước đây, đặc biệt là số đồng  
bào dân tộc Tày, Nùng... lực lượng bảo vệ rừng  
của các chủ rừng trên địa bàn huyện mỏng…  
Nguyên nhân chủ quan: Các chủ rừng trên  
địa bàn huyện chịu trách nhiệm trực tiếp tổ chức  
quản lý bảo vệ và kinh doanh sản xuất, tổ chức  
thực hiện các dự án về phát triển rừng trên diện  
tích rừng và đất lâm nghiệp được giao nhưng  
nhiều năm qua đã để xảy ra tình trạng người  
dân địa phương lấn, chiếm, sử dụng trái phép  
rừng và đất lâm nghiệp; Trách nhiệm quản lý  
Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp của chính  
quyền địa phương còn nhiều bất cập; Một số chủ  
trương, biện pháp xử lý ngăn chặn tình hình phá  
rừng, lấn, chiếm đất trái phép trong những năm  
từ 2010 trở về trước không được thực hiện kiên  
quyết và xử lý đến nơi, đến chốn; chưa có cơ chế  
hợp lý về nguồn vốn đầu tư trồng lại rừng và tổ  
chức bảo vệ chặt chẽ diện tích rừng đã trồng,  
diện tích đã được xử lý thu hồi, để tái lấn chiếm  
trở lại; Một số cán bộ, công chức từ chính quyền  
địa phương các cấp đến cán bộ, nhân viên bảo vệ  
rừng, công chức Kiểm lâm đang sinh sống trên  
địa bàn huyện, có diện tích trồng cà phê,… nên  
ít nhiều còn ngại va chạm, sợ trả thù và đe dọa  
đến lợi ích của gia đình, bản thân, đôi khi buông  
lỏng, bất lực hoặc làm ngơ trước thực trạng tình  
hình diễn ra  
Đã xây dựng được ma trận biến động các loại  
đất loại rừng trên địa bàn huyện Đức Trọng giai  
đoạn 2010 - 2017.  
Kết quả phân tích biến động tại đây cho thấy:  
Tổng diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn toàn  
huyện Đức Trọng là 40.238,17 ha; trong đó diện  
tích đất lâm nghiệp hiện đang sản xuất nông  
nghiệp, trồng cây công nghiệp tính đến hết năm  
2017 là 10.214,52 ha; chiếm 25,3%. Hiện nay  
diện tích này được trồng chủ yếu là Cà phê, một  
số diện tích trồng Tiêu và các cây trồng khác,  
trong bản đồ hiện trạng rừng gọi chung diện tích  
này là đất nông nghiệp.  
Trước năm 2010 tổng diện tích đất lâm nghiệp  
hiện đang sản xuất nông nghiệp, trồng cây công  
nghiệp trên địa bàn toàn huyện là 3.566,95 ha;  
tính đến hết năm 2017 diện tích này tăng lên  
10.214,52 ha. Như vậy, từ năm 2010 - 2017 trong  
vòng 7 năm diện tích đất lâm nghiệp hiện đang  
sản xuất nông nghiệp, trồng cây công nghiệp tăng  
lên 6.647,57 ha; bình quân mỗi năm gần 1000 ha  
đất lâm nghiệp hiện đang sản xuất nông nghiệp,  
trồng cây công nghiệp.  
d. Đánh giá về tình hình xử lý đất lâm nghiệp  
xâm canh  
Thuận lợi: Công tác kiểm tra, chống chặt phá  
rừng và lấn chiếm đất rừng trên địa bàn huyện đã  
được UBND huyện chi đạo Hạt kiểm lâm phối hợp  
với các ngành chức năng, UBND xã, thị trấn và  
chủ rừng. Đã xác định và dự báo được các trọng  
điểm tiềm ẩn xảy ra các hành vi phá rừng, lấn  
chiếm đất rừng trái phép tại các tiểu khu xã Ninh  
Gia, xã Ninh Loan giáp ranh với huyện Di Linh;  
tiểu khi giáp ranh với huyện Bắc Bình của tỉnh  
Bình Thuận; các tiểu khu giáp ranh với TP Đà Lạt.  
UBND huyện đã có nhiều văn bản chỉ đạo về công  
tác QLBVR, PCCCR.  
c. Nguyên nhân của tình trạng xâm canh đất  
lâm nghiệp  
Nguyên nhân khách quan: Do nhu cầu về đất  
sản xuất để sản xuất nông nghiệp, trồng cây công  
nghiệp mà chủ yếu là cà phê trong xã hội gia  
tăng; áp lực trước tình trạng di dân tự do từ các  
Hạt kiểm lâm, Ban lâm nghiệp xã và các chủ  
rừng giáp ranh đã thực hiện kế hoạch số 172/  
KHPH-HKL về phối hợp trong công tác QLBVR  
vùng giáp ranh giữa 03 Hạt kiểm lâm Di Linh,  
Bắc Bình và Đức Trọng. Ngoài ra, các đơn vị địa  
phương còn ký quy chế phối hợp giữa Hạt kiểm  
49  
lâm huyện Đức Trọng với lực lượng Viện Kiểm  
sát; công an; ban chỉ huy quân sự huyện; các đơn  
vị chủ rừng nhà nước trên địa bàn và UBND các  
xã, thị trấn trong công tác quản lý, bảo vệ rừng  
nên tình trạng xâm lấn đất rừng trái phép để  
sản xuất nông nghiệp trên địa bàn đã giảm đáng  
kể. Các đơn vị chủ rừng trên địa bàn huyện Đức  
Trọng đã tiến hành rà soát, kiểm tra và yêu cầu  
kê khai diện tích đất lâm nghiệp hiện đang sản  
xuất nông nghiệp, trồng cây công nghiệp trong  
lâm phận mình quản lý để có cơ sở thực hiện các  
biện pháp phục hồi rừng trong thời gian tới…  
Tồn tại, khó khăn: Trong thời gian thực hiện  
việc rà soát, kê khai diện tích đất lâm nghiệp bị  
lấn chiếm phần lớn các hộ gia đình không đến các  
Trạm quản lý bảo vệ rừng tham gia cùng đoàn  
kiểm tra hoặc đi không đúng thời gian quy định.  
Một số đối tượng kê khai không đúng tên, địa chỉ  
nên khi đơn vị mời đi kiểm tra hiện trường thì địa  
phương xác định không có tên; đối với các hộ dân  
ngoài địa phương việc mời tham gia hiện trường  
rất khó khăn, không tìm được chính chủ. Đối với  
các hộ đã có quyết định xử phạt vị phạm hành  
chính về đất đai nhưng khi làm việc với các hộ  
về chủ trương xen cây lâm nghiệp thì người dân  
tỏ ra không hợp tác vì người dân lo sợ là sau 5-7  
năm cây lâm nghiệp khép tán sẽ ảnh hưởng đến  
năng suất và chất lượng cà phê. Một số hộ có đất  
lấn chiếm trong các ban quản lý rừng phòng hộ  
có tâm lý e ngại, không rõ sau này sẽ bị xử phạt  
như thế nào nên họ sợ không đến kê khai hoặc  
không làm thủ tục kê khai đối với các cơ quan  
chức năng.  
xen cây lâm nghiệp vào vườn cà phê trên địa bàn  
huyện, các mô hình có diện tích từ 1 đến 5 ha.  
Phổ biến các dạng mô hình trồng xen hiện nay là  
Cà phê xen Muồng đen, Hồ tiêu xen Muồng đen,  
Cà phê xen Mắc ca hoặc Cà phê xen hỗn hợp Sầu  
riêng, Mắc ca, Bơ. Kết quả tổng hợp trong 5 mô  
hình có 3 mô hình trồng xen đơn (cà phê hoặc hồ  
tiêu và một loại cây trồng xen), 2 mô hình trồng  
xen hỗn hợp (cà phê và nhiều loại cây trồng xen  
khác).  
b. Danh mục loài cây và chức năng của chúng  
trong mô hình trồng xen  
Đã tổng hợp danh mục loài cây trong các mô  
hình trồng xen cây lâm nghiệp với các loài cây  
công nghiệp (Cà phê, Hồ tiêu) và chức năng của  
các loài cây trồng trong mô hình.  
Mặc dù có nhiều loài được sử dụng để trồng  
xen trên đất trồng cà phê, tuy nhiên trong các  
loài đó chỉ có hai loài được công nhận là cây lâm  
nghiệp đó là cây Muồng đen và cây Mắc Ca (Quyết  
định số 4961/QĐ/BNN-TCLN ngày 17/11/2014  
của Bộ Nông nghiệp và PTNT) .  
c. Hiệu quả kinh tế của các loại cây trồng xen.  
Đã tổng hợp, phân tích được hiệu quả kinh tế  
của các loại cây trồng xen.  
Kết quả cho thấy, mặc dù trồng xen các loài  
cây trồng khác trên vườn cà phê, nhưng trung  
bình năng suất cà phê và tiêu vẫn đạt ở mức khá  
cao (trung bình 3,2 tấn nhân/ha với cà phê và  
0,63 tấn/ha với Hồ tiêu). Như vậy các cây trồng  
xen không ảnh hưởng nhiều đến năng suất và  
chất lượng của cây cà phê. Kết quả phỏng vấn các  
hộ gia đình cho thấy, có đến 98,2% số người được  
hỏi đều cho rằng so với mô hình trồng cà phê  
thuần loài, mô hình trồng xen cây lâm nghiệp và  
một số cây ăn quả khác vào vườn cà phê không  
những không ảnh hưởng nhiều đến năng suất cà  
phê mà lượng nước tưới cho cà phê cũng giảm vì  
cây lâm nghiệp có tác dụng che bóng, giảm cường  
độ ánh sáng chiếu xuống mặt đất nên đất được  
giữ ẩm hơn, vì vậy lượng nước tưới cũng giảm.  
Tuy nhiên để đạt được hiệu quả nhiều mặt thì tỷ  
lệ cây lâm nghiệp trồng xen phải phù hợp không  
được trồng với mật độ quá dày sẽ làm ảnh hưởng  
đến năng suất và chất lượng của cà phê.  
2. Thực trạng các mô hình trồng xen cây lâm nghiệp  
trên diện tích đất lâm nghiệp hiện đang sản xuất nông  
nghiệp, trồng cây công nghiệp  
a. Thông tin chung về các mô hình được khảo  
sát  
Bảng. 2 Thông tin chung về các mô hình trồng xen  
cây lâm nghiệp  
Hai loại cây trồng xen là Sầu Riêng và Bơ cho  
năng suất cao nhất (> 4 tấn/ha) và cao hơn nhiều  
so với các loài cây trồng xen khác (chỉ từ 630 kg –  
750 kg). Trong khi đó hai loại cây này có mật độ  
Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra, 2018  
Nghiên cứu đã khảo sát tại 5 mô hình trồng  
50  
trồng thấp (<90 cây/ha) hơn so  
với các loài cây trồng xen khác.  
Mắc Ca và Bơ là hai loài cây  
trồng xen cho hiệu quả kinh tế  
cao với Bơ là 104,3 triệu đồng/  
ha/năm và Mắc Ca là 95 triệu  
đồng/ha/năm.  
Muồng là cây lâm nghiệp  
chỉ cho sản phẩm là gỗ, với chu  
kỳ kinh doanh khoảng 10 năm  
1 ha trồng xen Muồng với mật  
độ khoảng 160 cây/ha thì sau  
10 năm có thể cho 384 triệu/  
ha sau khi trừ chi phí thì bình  
quân mỗi năm cũng đạt 37,7  
triệu đồng.  
công nghiệp (Cà phê, Hồ tiêu)  
có hiệu quả cao hơn so với chỉ  
trồng độc canh cây cà phê (lợi  
nhuận trung bình đối với cây cà  
phê trồng thuần loài hiện nay  
ước tính chỉ khoảng 80-90 triệu  
đồng/ha).  
ba loại rừng tại thực địa; tăng  
cường năng lực tổ chức quản  
lý rừng của các chủ rừng; tổng  
kết đánh giá các mô hình cộng  
đồng quản lý rừng hiện có; thí  
điểm cơ chế đồng quản lý và  
chia sẻ lợi ích khi tham gia bảo  
vệ phát triển rừng; tăng cường  
năng lực, trách nhiệm quản lý  
nhà nước về rừng, hệ thống tổ  
chức quản lý rừng đồng thời xác  
định rõ trách nhiệm của các cơ  
quan chuyên ngành lâm nghiệp  
các cấp, các cơ quan, đơn vị có  
chức năng phối hợp trong việc  
thực hiện nhiệm vụ quản lý,  
bảo vệ và phát triển rừng. Hoàn  
thiện việc kê khai diện tích đất  
xâm lấn trên lâm phận của các  
chủ rừng làm cơ sở cho việc xác  
định mô hình phục hồi rừng:  
Trên cơ sở kết quả rà soát, kê  
khai và kiểm tra thực địa diện  
tích đất rừng bị xâm lấn, các  
chủ rừng tiến hành lập danh  
sách, phân loại hiện trạng, xác  
định mô hình phục hồi rừng  
cho từng loại hiện trạng, ký  
cam kết thực hiện xây dựng mô  
hình phục hồi rừng đối với các  
hộ gia đình.  
Tiến hành phục hồi lại rừng  
trên diện tích đất lâm nghiệp  
hiện đang sản xuất nông  
nghiệp, trồng cây công nghiệp  
bằng giải pháp nông lâm kết  
hợp. Theo đó, chính quyền địa  
phương cùng với chủ rừng hỗ  
trợ, hướng dẫn người dân tiến  
hành trồng xen cây lâm nghiệp  
(Muồng đen, Mắc Ca) và một số  
cây trồng lâm nghiệp khác vào  
diện tích đất lâm nghiệp hiện  
đang sản xuất nông nghiệp,  
trồng cây công nghiệp với mật  
độ từ 185-200 cây/ha.  
Như vậy, với hai loài cây lâm  
nghiệp hiện đang được người  
dân địa phương sử dụng phổ  
biến để trồng xen với cây Cà  
phê, Hồ tiêu là Muồng đen và  
Mắc ca - đây cũng sẽ là hai loài  
được lựa chọn để đề xuất giải  
pháp phục hồi rừng trên diện  
tích đất lâm nghiệp hiện đang  
sản xuất nông nghiệp, trồng  
cây công nghiệp trên địa bàn  
huyện Đức Trọng bằng phương  
thức nông lâm kết hợp. Hai loài  
Muồng đen và Mắc Ca là hai  
loài cây lâm nghiệp đã được  
trồng ở địa phương và cũng là  
những loài cây được người dân  
lựa chọn.  
3. Đề xuất giải pháp phục hồi  
rừng trên diện tích đất lâm nghiệp  
hiện đang sản xuất nông nghiệp,  
trồng cây công nghiệp  
a. Giải pháp về tổ chức, quản  
lý và kỹ thuật:  
Tăng cường công tác bảo vệ  
rừng, chấm dứt tình trạng lấn  
chiếm đất rừng: Nghiêm cấm  
việc chuyển đổi đất lâm nghiệp  
sang các mục đích khi chưa  
có cấp thẩm quyền phê duyệt;  
phân định ranh giới và cắm mốc  
Hiệu quả kinh tế các loại mô  
hình trồng xen cây lâm nghiệp  
với các cây trồng công nghiệp  
(Bảng 3).  
Kết quả nghiên cứu cho  
thấy, có sự chênh lệch trên các  
mô hình khác nhau. Điều này  
tùy thuộc vào giống, mật độ  
cũng như đầu tư thâm canh của  
nông hộ. Lợi nhuận trung bình  
của các mô hình là 169,3 triệu  
đồng/ha. Trong đó mô hình  
cho thu nhập cao nhất là Cà  
phê + Mắc ca đạt 255,5 triệu  
đồng/ha, tiếp đến là mô hình  
Cà phê + Mắc ca + Sầu riêng  
+ Bơ đạt 231,2 triệu đồng/ha;  
các mô hình còn lại đều đạt  
trên 100 triệu đồng/ha. Như  
vậy, có thể nói hiệu quả kinh tế  
các mô hình trồng xen cây lâm  
nghiệp trên đất đang trồng cây  
Bảng 3. Hiệu quả kinh tế các loại mô hình trồng xen (triệu đồng/ha)  
b. Giải pháp về cơ chế, chính  
sách:  
Thực hiện đầy đủ chính sách  
Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra  
51  
cố hệ thống khuyến lâm và cán bộ khuyến lâm  
chuyên trách ở cơ sở đặc biệt ở những xã có nhiều  
rừng và đất rừng  
Iv. KếT luận  
1. Tổng diện tích đất lâm nghiệp hiện đang  
sản xuất nông nghiệp, trồng cây công nghiệp trên  
địa bàn huyện Đức Trọng là 10.214,52 ha thuộc  
37 chủ rừng khác nhau; tập trung chủ yếu ở 3  
chủ rừng Nhà nước là Ban QLRPH Đại Ninh, Ninh  
Gia và Tà Năng.  
2. Từ năm 2010-2017 trong vòng 7 năm diện  
tích đất lâm nghiệp hiện đang sản xuất nông  
nghiệp, trồng cây công nghiệp tăng lên 6.647,57  
ha; bình quân mỗi năm gần 1000 ha đất lâm  
nghiệp hiện đang sản xuất nông nghiệp, trồng  
cây công nghiệp để trồng các loài cây công nghiệp,  
nông nghiệp.  
3. Các mô hình phổ biến trồng xen trên diện  
tích đất lâm nghiệp hiện đang sản xuất nông  
nghiệp, trồng cây công nghiệp hiện nay là Cà phê  
xen Muồng đen, Hồ tiêu xen Muồng, Cà phê xen  
Mắc ca hoặc Cà phê xen hỗn hợp Sầu riêng, Mắc  
ca, Bơ. Diện tích các mô hình dao động từ 1-5 ha.  
Nhiều loài cây trồng được sử dụng để trồng xen  
trên đất trồng cà phê, tuy nhiên trong các loài đó  
chỉ có hai loài được công nhận là cây lâm nghiệp  
đó là cây Muồng đen và Cây Mắc Ca. Hiệu quả  
kinh tế các mô hình trồng xen cây lâm nghiệp  
trên đất đang trồng cây công nghiệp (Cà phê, Hồ  
tiêu) có hiệu quả cao hơn so với chỉ trồng độc  
canh cây cà phê.  
4. Việc thu hồi lại diện tích đất lâm nghiệp  
hiện đang sản xuất nông nghiệp, trồng cây công  
nghiệp để phát triển rừng là rất khó khăn, một  
trong những giải pháp được cho là khả thì là các  
chủ rừng phối hơp với các hộ gia đình đang canh  
tác trên những diện tích này tiến hành trồng bổ  
sung cây lâm nghiệp nhằm phục hồi lại rừng theo  
phương thức nông lâm kết hợp với mật độ cây lâm  
nghiệp đưa vào trồng xen từ 185-200 cây/ha. Với  
phương thức này sẽ vừa đảm bảo mục tiêu phục  
hồi lại rừng và vừa đảm bảo mục tiêu sinh kế cho  
người dân địa phương.  
5. Đề xuất giải pháp phục hồi rừng trên diện  
tích đất lâm nghiệp hiện đang sản xuất nông  
nghiệp, trồng cây công nghiệp, bao gồm: Về tổ  
chức, quản lý, kỹ thuật; giải pháp về cơ chế, chính  
sách và giải pháp về khoa học công nghệ.  
hỗ trợ phát triển cộng đồng, đặc biệt là đồng bào  
dân tộc thiểu số trong khu vực, để người dân yên  
tâm thực hiện nhiệm vụ phục hồi rừng bằng giải  
pháp trồng xen cây lâm nghiệp vào diện tích đất  
lâm nghiệp hiện đang được người dân sản xuất  
nông nghiệp, trồng cây công nghiệp cùng với  
các chủ rừng. Sau khi người dân cam kết và thực  
hiện việc trồng xen cây lâm nghiệp theo hướng  
dẫn kỹ thuật của cơ quan chuyên môn, tiến hành  
nghiệm thu và triển khai khoán đất lâm nghiệp  
trên diện tích đất xâm lấn cho các hộ gia đình lâu  
dài theo quy định tại Nghị định 168/2016/NĐ-  
CP ngày 27/12/2016 về khoán rừng, vườn cây và  
diện tích mặt nước trong các ban quản lý rừng  
đặc dụng, rừng phòng hộ và Công ty TNHH MTV  
nông, lâm nghiệp với thời gian khoán tối đa là 20  
năm và diện tích khoán tối đa là 30ha.  
c. Giải pháp về khoa học công nghệ, đào tạo  
và khuyến lâm:  
Nghiên cứu phát triển mạnh một số loài cây  
lâm nghiệp ở địa phương để có thể bổ sung thêm  
vào cơ cấu cây trồng trong quá trình phục hồi  
rừng trên diện tích đất lâm nghiệp hiện đang sản  
xuất nông nghiệp, trồng cây công nghiệp trên địa  
bàn toàn huyện.  
Tăng cường phát triển ứng dụng công nghệ  
GIS trong quản lý và cập nhật theo dõi diễn biến  
tài nguyên rừng của huyện vào cơ sở dữ liệu cấp  
tỉnh để phục vụ cho hoạt động giám sát, đồng  
thời kịp thời có những giải pháp bảo vệ và phát  
triển rừng kịp thời để khắc phục những biến động  
tài nguyên rừng có liên quan.  
Đẩy mạnh các phong trào nghiên cứu khoa  
học, các đề tài ứng dụng khoa học công nghệ  
trong sản xuất giống cây trồng lâm nghiệp. Củng  
52  
9. Nguyễn Văn Sản và Donald Gilmour (1999).  
“Chính sách và thực tiễn phục hồi rừng ở Việt  
Nam”. Hội thảo quốc gia chính sách và phục hồi  
rừng ở Việt Nam, tr. 4-34. 140  
aSSESSmET oF ThE currEnT SITuaTIon anD propoSED  
SoluTIonS For ForEST rESToraTIon on ThE ForEST  
lanD ThaT IS currEnTly BEIng uSED For agrIcul-  
Tural proDucTIon, InDuSTrIal TrEE planTIng In Duc  
Trong DISTrIcT, lam Dong provIncE  
La Nguyen Khang, Tran Le Kieu Oanh  
Nguyen Tuan Duong  
aBSTracTS  
TàI lIỆu Tham Khảo  
The study identified the area of forestry land  
areas encroached by agricultural production, in-  
dustrial crops in Duc Trong district is 10,214.52  
ha belong to 37 different forest owners. Some  
models of intercropping with popular industri-  
al crops are Coffea arabica and Senna siamea;  
Piper nigrum and Senna siamea; Coffea arabica  
and Macadamia or Coffea arabica mixed Durio  
zibethinus, Macadamia, and Persea americana.  
In fact, intercropping models forest trees spe-  
cies with industrial crops (Coffea arabica, Piper  
nigrum) have higher efficiency than Coffea ara-  
bica monocultures. Therefore, Senna siamea and  
Macadamia have proposed trees intercropped on  
encroached forest land that is currently used for  
agricultural production and industrial crops for  
restore forests on these areas. The research has  
proposed solutions for forest restoration on en-  
croached forest land areas which are currently  
being used for agricultural production and indus-  
trial crops, including solutions on organization,  
management, technical, mechanisms, policies,  
science, and technology. Research results can be  
used as reference material for the development  
of solutions for forest environment restoration on  
forest land areas that are currently under agri-  
cultural production, industrial crops toward the  
direction of green growth, ensure sustainable  
and effective socio-economic - environment by  
agroforestry solutions.  
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn  
(2009). Quy định tiêu chí xác định và phân loại  
rừng (Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT).  
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn  
(2014). Danh mục các loài cây chủ lực cho trồng  
rừng sản xuất và danh mục các loài cây chủ yếu  
cho trồng rừng theo các vùng sinh thái Lâm  
nghiệp (Quyết định số 4961/QĐ-BNN-TCLN).  
3. Trần Văn Con (2013). “Kết nối phục hồi  
rừng và quản lý hệ thống rừng phòng hộ đầu  
nguồn với phát triển bền vững ở Tây Nguyên”.  
Tạp chí khoa học lâm nghiệp, Viện Khoa học lâm  
nghiệp Việt Nam, tr. 2578- 2587.  
4. Võ Đại Hải (2000). “Những cơ hội và các  
giải pháp cho quản lý và xây dựng rừng phòng hộ  
đầu nguồn ở Tây Nguyên”. Tạp chí Lâm nghiệp  
(10), tr. 16-18.  
5. Võ Đại Hải và cộng sự (2009). “Nghiên cứu  
bước đầu về khả năng phục hồi rừng tự nhiên lá  
rộng thường xanh sau nương rẫy ở Tây nguyên”.  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.  
6. Phạm Xuân Hoàn, Trương Quang Bích  
(2009). “Động thái phục hồi rừng trên đất bỏ hoá  
sau di dân tại vườn quốc gia Cúc Phương”. Tạp  
chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.  
7. Nguyễn Thế Hưng (2003). “Sự biến động  
về mật độ và tổ thành loài tái sinh trong các trạng  
thái thực bì ở Quảng Ninh”. Tạp chí Nông nghiệp  
và Phát triển nông thôn (1), tr. 99-101.  
8. Đỗ Đình Sâm và cộng sự (2001). Kết quả  
nghiên cứu về trồng rừng và phục hồi rừng tự  
nhiên. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.  
Key word: Duc Trong district, forestry land ar-  
eas encroached, deforestation, forest restoration,  
agroforestry.  
53  
pdf 7 trang yennguyen 18860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phục hồi rừng trên đất lâm nghiệp hiện đang sản xuất nông nghiệp trồng cây công nghiệp tại huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_thuc_trang_va_de_xuat_giai_phap_phuc_hoi_rung_tren.pdf