Regional linkages of the agroforestry production value chain in the Kon and Ba river basin

VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 37, No. 1 (2021) 101-112  
Original Article  
Regional Linkages of the Agroforestry Production  
Value Chain in the Kon and Ba River Basin  
Nguyen Huu Xuan1,*, Nguyen An Thinh2  
1Quy Nhon University, 170 An Duong Vuong, Quy Nhon, Vietnam  
2VNU University of Economics and Business, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
Received 17 October 2020  
Revised 25 February 2021; Accepted 25 February 2021  
Abstract: This research aims to set a foundation for the establishment of the Ba and Kon river  
basins’ regional linkages between the Central Highlands and the South Central region according to  
the value chain of plantation timber and sugarcane. The research uses data collection and statistical  
analysis methods to establish a database for linking planting, processing, and consumption of  
plantation timber and sugarcane. The research adopts the Rural Rapid Assessment (RRA) method  
to assess the efficiency of wood linkages along the value chain of plantation timber goods and uses  
SWOT analysis to assess strengths, weaknesses, opportunities and challenges for regional linkages  
of the plantation timber value chain. The research results show that the Ba and Kon river basins  
have great potentials for the production of sugarcane and plantation timber. In these basins, there  
have been many models linking along the value chain of goods, linking the stages of production,  
purchase, transportation, processing, and consumption in order to increase the value of goods. The  
study has established areas specializing in sugarcane cultivation and concentrated planted forest  
areas with wood processing factories, and sugar factories in these two river basins. Regional  
linkages in the basins of the Ba and Kon rivers for the plantation timber and sugar cane value chain  
are established according to a number of major traffic routes such as national roads 19, 19C, 25  
and 29.  
Keywords: Regional linkages, value chain, agroforestry production, Ba river, Kon river.  
D*  
_______  
* Corresponding author.  
E-mail address: [email protected]n  
101  
N.H. Xuan, N.A. Thinh / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 37, No. 1 (2021) 101-112  
102  
Liên kết vùng của chuỗi giá trị hàng hóa nông lâm nghiệp  
trên lưu vực sông Ba, sông Kôn  
Nguyễn Hữu Xuân1,*, Nguyễn An Thịnh2  
1Trường Đại học Quy Nhơn, 170 An Dương Vương, Thành phố Quy Nhơn, Việt Nam  
2Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 17 tháng 10 năm 2020  
Chỉnh sửa ngày 25 tháng 02 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 25 tháng 02 năm 2021  
Tóm tắt: Nghiên cứu này xác lập cơ sở cho việc hình thành liên kết vùng lưu vực sông Ba, sông  
Kôn giữa vùng Tây Nguyên và Nam Trung Bộ theo chuỗi trị giá gỗ rừng trồng và mía đường.  
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập, phân tích số liệu thống kê nhằm xác lập cơ sở dữ liệu  
cho liên kết về trồng, chế biến, tiêu thụ gỗ rừng trồng và mía đường; sử dụng phương pháp đánh  
giá nhanh nông thôn (RRA) cho đánh giá hiệu quả liên kết gỗ rừng trồng theo chuỗi giá trị hàng  
hóa; sử dụng phương pháp SWOT để đánh giá về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức cho  
liên kết vùng của chuỗi giá trị gỗ rừng trồng. Kết quả nghiên cứu cho thấy lưu vực sông Ba, sông  
Kôn có tiềm năng lớn về nguồn nguyên liệu mía đường, gỗ rừng trồng. Trong lưu vực đã hình  
thành nhiều mô hình liên kết theo chuỗi giá trị hàng hóa gắn kết các khâu sản xuất, thu mua, vận  
chuyển, chế biến và khâu tiêu thụ nhằm gia tăng giá trị hàng hóa. Nghiên cứu đã xác định được các  
vùng chuyên canh mía lớn, vùng rừng trồng tập trung gắn với các nhà máy chế biến gỗ rừng trồng,  
nhà máy đường trên hai lưu vực sông. Liên kết vùng theo lưu vực sông Ba, sông Kôn cho chuỗi  
giá trị gỗ rừng trồng và mía đường được xác lập theo tuyến giao thông chính như quốc lộ 19, 19C,  
25, 29,...  
Từ khóa: Liên kết vùng, chuỗi giá trị, sản xuất nông lâm nghiệp, sông Ba, sông Kôn.  
1. Đặt vấn đề *  
tiểu vùng và giữa các lưu vực với nhau theo liên  
kết nội vùng hoặc ngoại vùng.  
Liên kết vùng là hình thành các không gian  
Tại Việt Nam, thúc đẩy hợp tác liên vùng  
và mở rộng liên kết vùng đã được khẳng định  
trong nhiều chiến lược, quy hoạch, kế hoạch  
phát triển tầm quốc gia và vùng. Ngoài ra, một  
số nghiên cứu đã bàn về liên kết vùng và chuỗi  
giá trị liên quan đến phạm vi thực hiện của bài  
viết này. Cụ thể, Nguyễn Văn Huân (2007) đã  
làm rõ các thuật ngữ, hình thức, đặc điểm liên  
kết vùng gồm nội vùng và ngoại vùng [1]. Trần  
Thị Thu Hương (2015) trên cơ sở tổng quan các  
kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Trung  
Quốc đã nêu ra bài học đối với phương thức  
liên kết vùng tự nguyện và mô hình tổ chức bộ  
máy liên kết vùng tại Việt Nam. Nghiên cứu đề  
cập tới liên kết vùng và định hướng liên kết  
vùng trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế ở  
Việt Nam [2]. Nguyễn Chiến Thắng (2013) đề  
kinh tế để thúc đẩy sự phát triển với lựa chọn  
các cực phát triển ban đầu, xóa bỏ ranh giới địa  
lý hành chính nhằm giải phóng tiềm lực địa  
phương và khả năng phối kết hợp giữa các địa  
phương, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế  
đất nước. Liên kết vùng theo lưu vực sông giữa  
Tây Nguyên và Nam Trung Bộ đảm bảo mối  
liên kết lãnh thổ của lưu vực (từ thượng lưu,  
đến trung và hạ lưu sông) của các sản phẩm chủ  
lực như gỗ rừng, cây công nghiệp lâu năm, cây  
lương thực,... nhằm phát huy thế mạnh của từng  
_______  
* Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected].vn  
N.H. Xuan, N.A. Thinh / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 37, No. 1 (2021) 101-112  
103  
- lâm sản khác, chế biến nông sản trong lưu vực  
sông Ba, sông Kôn;  
cập tới hệ thống liên kết vùng và thể chế liên  
kết vùng tại Việt Nam từ nghiên cứu kinh  
nghiệm quốc tế [3]. Hoàng Vũ Quang (2016)  
cũng làm rõ một số bài học quốc tế và kinh  
nghiệm cho Việt Nam về liên kết vùng, các chủ  
trương, cơ chế chính sách, thể chế phát triển  
kinh tế vùng và liên kết vùng, tái cơ cấu kinh tế,  
chuyển đổi mô hình tăng trưởng cũng như liên  
kết theo chuỗi của một số sản phẩm chính về  
nông nghiệp giữa Tây Nguyên và Đồng bằng  
Sông Cửu Long [5]. Có thể thấy, các nghiên  
cứu này đã thể hiện tương đối rõ nội hàm liên  
kết vùng cũng như các khía cạnh liên kết vùng  
phục vụ cho các mục đích phát triển kinh tế - xã  
hội. Tuy vậy, chưa có nghiên cứu nào đề cập  
đến chuỗi giá trị gỗ rừng trồng và mía đường  
cho việc hình thành chuỗi liên kết theo lưu vực  
sông và mang tính chất liên vùng.  
Lưu vực sông Ba và sông Kôn trong phạm  
vi lãnh thổ các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Phú Yên  
và Bình Định đóng vai trò quan trọng trong việc  
cung cấp tài nguyên thiên nhiên cho phát triển  
kinh tế - xã hội. Đây là vùng sản xuất nông  
nghiệp khá phát triển và có sự chuyển dịch  
mạnh mẽ theo hướng sản xuất nông sản hàng  
hóa. Trong liên kết vùng Tây Nguyên - Nam  
Trung Bộ theo lưu vực sông, việc xây dựng và  
phát triển chuỗi giá trị sản phẩm nông lâm  
nghiệp có tác dụng huy động các nguồn lực,  
nâng cao chất lượng và giá trị hàng hóa, tăng  
cường hội nhập quốc tế. Bài viết xác lập quy  
trình mô hình tổ chức lãnh thổ liên vùng gồm:  
i) Phân tích thế mạnh cho xây dựng mô hình  
liên kết vùng; ii) Tính toán chi phí lợi ích, hiệu  
quả kinh tế của chuỗi giá trị trong liên kết;  
iii) Xác định không gian liên kết xây dựng và  
phát triển chuỗi giá trị; và iv) Bước đầu xác lập  
nguyên tắc và khả năng phối hợp triển khai thực  
hiện mô hình liên kết của các chủ thể tham gia  
chuỗi giá trị hàng hóa gỗ rừng trồng và chuỗi  
giá trị mía đường.  
ii) Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn  
(RRA): Kết hợp với khảo sát thực địa, phỏng  
vấn trực tiếp các hộ nông dân trồng rừng, hộ gia  
đình làm dịch vụ khuyến nông, quản lý nhà  
máy, doanh nghiệp (đại diện cơ sở buôn bán vật  
tư, thu mua, vận chuyển gỗ rừng), phỏng vấn  
nhanh theo bảng hỏi, ghi nhận kết quả và xử lý  
theo yêu cầu. Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát  
30 trang trại, hộ dân trồng rừng, 4 công ty lâm  
nghiệp và 2 công ty chế biến gỗ. Nội dung tập  
trung vào: Quy mô trồng; hiệu quả sản xuất  
(kinh tế, xã hội, môi trường) của trồng rừng;  
thực trạng liên kết; hiệu quả, khó khăn và thách  
thức của liên kết theo chuỗi giá trị gỗ  
rừng trồng);  
iii) Phương pháp phân tích số liệu: Xử lý  
chuỗi dữ liệu thống kê lâm nghiệp, cây trồng  
của 37 huyện, thị thuộc 4 tỉnh và dữ liệu khảo  
sát, điều tra thực tế của doannh nghiệp, hộ gia  
đình trên lưu vực sông Ba và sông Kôn;  
iv) Phương pháp phân tích SWOT: Phân  
tích điểm mạnh (S), điểm yếu (W), cơ hội (O)  
và thách thức (T) của liên kết theo chuỗi giá trị  
gỗ rừng trồng trên lưu vực sông Ba, sông Kôn;  
v) Phương pháp phân tích không gian ứng  
dụng công cụ GIS: Nghiên cứu sử dụng phần  
mềm ArcGIS 10.6 để phân tích không gian xác  
định vùng phân bố diện tích rừng trồng, trích  
xuất dữ liệu hiện trạng rừng trồng năm 2017  
theo các đơn vị hành chính của 2 lưu vực; tính  
toán vùng nguyên liệu mía của một số nhà máy  
đường lớn trên lưu vực sông Ba, sông Kôn. Các  
số liệu, dữ liệu được đối chiếu, kiểm tra với dữ  
liệu thống kê cấp huyện về rừng trồng,  
mía đường.  
3. Kết quả nghiên cứu  
3.1. Lý luận về liên kết vùng và chuỗi giá trị  
nông lâm sản  
3.1.1. Hội nhập vùng  
Hội nhập vùng là quá trình gắn kết các  
lãnh thổ đơn lẻ trong một khu vực thành một  
tổng thể lãnh thổ có quy mô lớn hơn, hướng  
tới giải quyết các vấn đề chung về kinh tế, an  
ninh, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường  
[6]. Hội nhập vùng bao gồm liên kết vùng,  
hợp tác vùng và quản trị hội nhập vùng phục  
2. Phương pháp nghiên cứu  
i) Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:  
Thu thập từ các báo cáo sản xuất - kinh doanh  
của một số công ty, từ niên gián thống kê cấp  
huyện của 37 huyện, thị xã để có số liệu về sản  
xuất nông lâm nghiệp, công nghiệp chế biến gỗ  
N.H. Xuan, N.A. Thinh / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 37, No. 1 (2021) 101-112  
104  
vụ phát triển. Bản chất của hội nhập vùng là  
cách thức tiếp cận và kết nối các vùng lân  
cận, tạo ra mối liên kết về không gian và các  
lĩnh vực trong khu vực [7].  
trong các khâu chế biến, đóng gói, bảo quản,  
vận chuyển và phân phối” [10].  
Theo hình thức quản trị, chuỗi giá trị nông  
sản có thể được chia thành 3 chuỗi cơ bản:  
i) Chuỗi không liên kết hay quản trị bằng quan  
hệ thị trường; ii) Chuỗi giá trị có hợp đồng  
nông sản (hợp đồng thu mua, hợp đồng liên kết  
sản xuất và tiêu thụ nông sản, hợp đồng đầu  
tư,...); và iii) Chuỗi giá trị nhất thể hóa dọc  
trong đó các hoạt động từ sản xuất, chế biến,  
phân phối,... thuộc phạm vi hoạt động trong nội  
bộ doanh nghiệp. Việc phân tích chuỗi giá trị  
nông sản giúp xác định những lợi thế, bất lợi  
của từng khâu trong chuỗi, từ đó có các giải  
pháp khắc phục để sản phẩm đáp ứng yêu cầu  
của thị trường và phát triển bền vững.  
3.1.2. Liên kết vùng  
Liên kết vùng hoặc kết nối vùng được tạo ra  
bởi sự khác biệt địa phương giữa các vùng về  
các nguồn lực tự nhiên, chính sách, con người  
và các hoạt động phát triển,..., từ đó dẫn tới nhu  
cầu hình thành mối liên hệ giữa các vùng, trở  
thành điều kiện quan trọng để hình thành kinh  
tế địa phương và là động lực cho những thay  
đổi về kinh tế, văn hóa, xã hội và chính trị. Liên  
kết vùng được hiểu theo hai khía cạnh: i) liên  
kết về không gian (theo dòng giao thông, dòng  
chảy vật chất, dòng thông tin,…); và ii) liên kết  
giữa các lĩnh vực (sản xuất nông nghiệp và dịch  
vụ, xây dựng và môi trường,...) [8].  
Liên vùng - liên kết giữa hai hay nhiều  
vùng (một dạng liên kết vùng) xây dựng mô  
hình sản xuất bền vững về nông lâm nghiệp sẽ  
khai thác hiệu quả tài nguyên nhằm phát huy  
thế mạnh nguồn lực tự nhiên, kinh tế, xã hội  
của các tiểu vùng/vùng, là sự phối hợp hoạt  
động giữa các khâu của chuỗi/quy trình sản  
xuất - chế biến - tiêu thụ nông lâm sản trong  
vùng và liên vùng, góp phần định hướng, điều  
chỉnh quy hoạch/tổ chức sản xuất, bảo vệ, phục  
hồi, cải thiện tài nguyên môi trường trong bối  
cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu.  
3.2. Chuỗi giá trị nông lâm sản  
Trong khung phân tích của Porter, khái  
niệm chuỗi giá trị chỉ áp dụng trong kinh  
doanh. Phân tích chuỗi giá trị chủ yếu nhằm hỗ  
trợ các hoạt động quản lý, điều hành đưa ra các  
quyết định mang tính chiến lược theo sơ đồ:  
Nhà cung ứng đầu vào → Nhà sản xuất → Nhà  
chế biến → Nhà phân phối → Người tiêu  
dùng [9].  
Hình 1. Lưu vực sông Ba, sông Kôn trong mối quan  
hệ không gian giữa Tây Nguyên - Nam Trung bộ [10].  
Theo FAO (2010): “Chuỗi giá trị nông sản  
bao gồm tập hợp các tác nhân và hoạt động đưa  
một sản phẩm nông sản từ sản xuất đến người  
tiêu dùng cuối cùng, theo đó, giá trị của sản  
phẩm được gia tăng trong mỗi khâu trung gian.  
Một chuỗi giá trị có thể là một liên kết dọc hay  
một mạng lưới các tác nhân độc lập với nhau  
3.2. Khái quát lãnh thổ nghiên cứu và cơ hội  
liên kết vùng của lưu vực sông Ba, sông Kôn  
3.2.1. Khái quát lãnh thổ nghiên cứu  
Lưu vực sông Ba, sông Kôn thuộc các tỉnh  
Gia Lai, Đắk Lắk (của vùng Tây Nguyên) và  
các tỉnh Phú Yên, Bình Định của vùng Duyên  
N.H. Xuan, N.A. Thinh / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 37, No. 1 (2021) 101-112  
105  
hải Nam Trung Bộ. Tổng diện tích tự nhiên  
toàn vùng nghiên cứu là 17.547 km2 (Hình 1).  
Sản xuất nông lâm nghiệp là lĩnh vực kinh  
tế chính của 2 lưu vực. Năm 2010, GRDPN,L,TS  
đạt 29.256 tỷ đồng, đến năm 2018 tăng lên  
57.590 tỷ đồng (giá thực tế). Tốc độ tăng  
trưởng GRDPN,L,TS đạt 2,9%/năm. Giá trị sản  
xuất ngành nông lâm nghiệp của lưu vực Kôn  
năm 2010 đạt 6.735,0 tỷ đồng, năm 2018 đạt  
13.403,6 tỷ đồng (giá thực tế). Tốc độ tăng  
trưởng GRDPN,L,TS đạt 3,0%/năm [10].  
ii) Liên kết vùng trong việc phát huy thế  
mạnh đặc thù của từng vùng: Tây Nguyên, Nam  
Trung Bộ đều có những thế mạnh đặc thù trong  
sản xuất nông lâm nghiệp. Tây Nguyên có lợi  
thế về cây công nghiệp lâu năm (cao su, cà phê,  
tiêu, điều), cây ăn quả đặc sản (sầu riêng, bơ,  
mít,…), chăn nuôi gia súc lớn, phát triển trồng  
rừng,… Nam Trung Bộ có lợi thế về sản xuất  
lúa, trồng cây hàng năm (mía, sắn,…), nuôi  
trồng và khai thác thủy hải sản. Việc mỗi vùng  
tập trung cho phát triển cây con đặc thù sẽ phát  
huy tối đa lợi thế của vùng thông qua trao đổi  
hàng hóa liên vùng;  
3.2.2. Nhu cầu cấp thiết tăng cường liên kết  
vùng theo chuỗi giá trị nông lâm sản  
Ở Tây Nguyên - Nam Trung Bộ nói chung  
và lưu vực sông Ba, sông Kôn nói riêng đã  
bước đầu hình thành một số liên kết theo chuỗi  
giá trị đối với một số sản phẩm nông nghiệp  
chủ lực của vùng, trước hết là cây công nghiệp  
lâu năm (cà phê, hồ tiêu), cây hàng năm  
(cây mía, sắn,…) và rừng trồng trên cơ sở liên  
kết giữa các doanh nghiệp, các cơ sở, các hộ sản  
xuất kinh doanh từ cung ứng các yếu tố đầu vào  
đến sản xuất và chế biến sâu, tạo ra sản phẩm tiêu  
dùng cuối cùng có giá trị gia tăng và chất lượng  
cao, có sức cạnh tranh trên thị trường.  
Tuy nhiên, các mô hình liên kết giữa các  
doanh nghiệp (cung ứng phân phối giống, vật tư  
nông nghiệp, cung cấp kỹ thuật, kiểm soát quá  
trình sản xuất,…) với hộ nông dân (thực hiện  
đúng quy trình theo hướng dẫn của doanh  
nghiệp) còn rất lỏng lẻo. Do đó, cần xác định  
việc doanh nghiệp tổ chức sản xuất - thu mua  
các sản phẩm và phân phối dưới các thương  
hiệu khác nhau để nâng cao giá trị và đảm bảo  
quyền lợi của các bên là khâu then chốt cho  
chuỗi giá trị.  
3.2.3. Cơ hội liên kết vùng trên lưu vực  
sông Ba, sông Kôn  
Trong lưu vực sông Ba, sông Kôn có các cơ  
hội liên kết vùng như sau:  
i) Liên kết vùng cho phát triển sản xuất,  
nâng cao giá trị nông lâm sản cho các địa  
phương có sự tương đồng, có lợi thế canh tranh  
của vùng Tây Nguyên - Nam Trung Bộ với  
những vùng khác: Trong mối liên kết liên vùng  
Tây Nguyên - Nam Trung Bộ theo lưu vực sông  
Ba, sông Kôn cho phát triển nông lâm nghiệp,  
cần tập trung vào sản phẩm chính: gỗ rừng  
trồng, cây mía, cây mì, cây công nghiệp lâu  
năm như cao su, cà phê, tiêu,…;  
iii) Liên kết vùng trong việc sử dụng hợp lý  
nguồn nước, giảm nhẹ thiên tai: Trong lưu vực  
sông Ba, sông Kôn, sự biến động nguồn nước  
trên 2 lưu vực theo mùa, theo không gian rất  
lớn. Vào mùa khô, tình trạng thiếu nước, hạn  
hán xảy ra nghiêm trọng trên toàn lưu vực  
(nhất là vùng trung và hạ lưu sông Ba); ngược  
lại, vào mùa mưa, tình trạng lũ lụt, sa bồi thủy  
phá vùng bãi bồi dọc sông, vùng đồng bằng ven  
biển đòi hỏi phải có cơ chế đảm bảo điều tiết,  
sử dụng hợp lý nguồn nước, giảm thiểu tối đa  
tác động của thủy tai đến môi trường, hoạt động  
sản xuất và đời sống vùng Tây Nguyên - Nam  
Trung Bộ.  
3.3. Liên kết vùng lưu vực sông Ba, sông Kôn  
theo chuỗi giá trị nông sản gỗ rừng trồng  
Trồng rừng, khai thác và chế biến gỗ rừng  
trồng đã được định hình ở lưu vực sông Ba,  
sông Kôn. Những năm qua, rừng trồng là loại  
cây đem lại hiệu quả kinh tế cao, ổn định hơn  
so với tất cả các cây trồng khác trên những  
vùng đất dốc, nghèo dinh dưỡng của các địa  
phương của lưu vực sông Ba và sông Kôn.  
3.3.1. Thực trạng trồng rừng trên lưu vực  
sông Ba, sông Kôn  
Trồng rừng đang phát triển rất nhanh tại  
nhiều địa phương của 2 lưu vực sông (Bảng 1).  
Chỉ tính riêng lưu vực sông Kôn (phần thuộc  
tỉnh Bình Định), diện tích rừng trồng đạt 82,33  
nghìn ha (năm 2017), trong đó diện tích rừng có  
trữ lượng khai thác tới 49,1 nghìn ha (Bảng 2).  
Rừng trồng có nhiều loại cây như keo lai, bạch  
đàn Urô được trồng phổ biến; keo lá tràm, xoan  
ta, bời lời đỏ trồng rải rác. Quy mô trồng chủ  
N.H. Xuan, N.A. Thinh / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 37, No. 1 (2021) 101-112  
106  
yếu theo hộ gia đình. Mỗi hộ có từ 1-2 ha rừng  
trồng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh  
doanh. Thống kê rừng giai đoạn 2000-2017 cho  
thấy rừng trồng tăng rất nhanh, nhất là lưu vực  
sông Kôn (tăng 5,3 lần) [10].  
trồng, cá biệt có hộ trồng hơn 100 ha. Ngoài ra,  
các công ty lâm nghiệp có diện tích rừng trồng  
lớn bước đầu hình thành chuỗi giá trị rừng  
Bảng 1. Diện tích, năng suất và sản lượng gỗ rừng trồng và số lượng cơ sở chế biến,  
xuất khẩu gỗ rừng trên lưu vực sông Ba, sông Kôn năm 2017  
Diện tích  
gỗ rừng  
trồng* (ha)  
Năng suất  
trung bình  
(tấn/ha)  
Sản lượng  
Số nhà máy/  
Đầu mối  
Lưu vực  
gỗ rừng trồng cơ sở chế biến xuất khẩu  
(m3)  
gỗ rừng trồng  
(cảng biển)  
Sông Ba  
63,210  
31,762  
13,241  
18,207  
50,624  
49,146  
1,478  
52,7  
64,3  
38,5  
55,3  
71,8  
72,3  
66,2  
61,8  
3,838,097  
2,176,597  
534,399  
1,127,101  
3,910,488  
3,812,644  
97,844  
12  
5
1
Tỉnh Gia Lai  
Tỉnh Đắk Lắk  
Tỉnh Phú Yên  
Sông Kôn  
3
4
1
1
1
17  
16  
1
Tỉnh Bình Định  
Tỉnh Gia Lai  
Tổng  
113,834  
7,748,584  
29  
2
Nguồn: Tính toán từ bản đồ hiện trạng rừng các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Gia Lai, Đắk Lắk năm 2017.  
* Tính riêng cho loại rừng trồng trên núi đất (đã thành rừng, trong chu kỳ khai thác).  
Kết quả tính toán cho thấy: lưu vực sông  
Kôn có diện tích rừng trồng rất lớn (82,768 ha),  
chiếm 29,3% diện tích rừng toàn lưu vực. Rừng  
trồng tập trung chủ yếu ở huyện Vân Canh  
(32,357,0 ha), chiếm 39,1% tổng diện tích rừng  
trồng toàn lưu vực; huyện Tây Sơn (17,355,8  
ha) chiếm 21% và thành phố Quy Nhơn  
(8.966,0 ha) chiếm 10,8%. Rừng trồng ở Quy  
Nhơn, Tuy Phước, nhất là dải ven biển chủ yếu  
là bạch đàn. Trong khi đó, các huyện Vân Canh,  
Tây Sơn, Vĩnh Thạnh chủ yếu trồng keo lai.  
Năng suất gỗ rừng trồng của tỉnh thuộc loại  
trung bình (72,3 tấn/ha) với chu kỳ kinh doanh  
rừng 5 năm. Sản lượng gỗ rừng trồng (chỉ tính  
riêng rừng trên núi đất) là 3,8 triệu tấn (keo lai,  
bạch đàn,…), riêng huyện Vân Canh với sản  
lượng 1,7 triệu tấn (chiếm 45% sản lượng gỗ  
toàn lưu vực). Các huyện Tây Sơn, thành phố  
Quy Nhơn cũng có trữ lượng gỗ rừng trồng lớn.  
Với diện tích rừng trồng lớn, tăng nhanh,  
chu kỳ kinh doanh rừng trồng từ 5-7 năm đã tạo  
ra trữ lượng gỗ khai thác hàng năm khoảng 1,5-  
2 triệu tấn. Đây là nguồn cung nguyên liệu lớn  
của các địa phương trên 2 lưu vực và cần có  
đầu ra ổn định, hiệu quả.  
Quản lý rừng bền vững thông qua việc  
chứng thực tiêu chuẩn quản lý rừng của quốc  
gia phù hợp theo các đặc điểm và điều kiện địa  
phương, áp dụng cho việc đánh giá cấp chứng  
nhận quản lý rừng trong phạm vi quốc gia đó  
đảm bảo việc quản lý rừng tốt, gỗ và lâm sản  
ngoài gỗ được chứng nhận (theo PEFC) được  
sản xuất theo chuẩn sinh thái, xã hội và đạo đức  
cao nhất. Hiện nay, ở Việt Nam, Tổng cục Lâm  
nghiệp đang áp dụng cả 2 loại chứng chỉ, gồm:  
FSC (Forest Stewardship Council) gồm các loại  
chứng chỉ FSC-FM (quản lý rừng), FSC-CoC  
(chuỗi hành trình sản phẩm) và FSC-CW  
(nguồn gỗ có kiểm soát FSC); PEFC  
(Programme for the Endorsement of Forest  
Certification - Chương trình chứng thực chứng  
nhận rừng) gồm 2 loại chứng nhận là chứng  
nhận quản lý rừng PEFC-FM (forest  
management) và chứng nhận chuỗi hành trình  
sản phẩm PEFC-CoC (chain of custody). Bảng  
3 thể hiện hiệu quả kinh tế của các mô hình  
trồng rừng tại huyện Vân Canh trên lưu vực  
sông Kôn.  
Có thể thấy, các hộ trồng rừng được cấp  
chứng chỉ FSC có hiệu quả kinh tế cao hơn so  
với các hộ trồng rừng không có chứng chỉ FSC.  
N.H. Xuan, N.A. Thinh / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 37, No. 1 (2021) 101-112  
107  
Tuy vậy, diện tích rừng trồng có chứng chỉ FSC  
ở Vân Canh hạn chế (tập trung ở các công ty  
Lâm nghiệp Hà Thanh, Công ty TNHH Trồng  
rừng Quy Nhơn). Tại Vân Canh, diện tích rừng  
trồng keo lai với chu kỳ ngắn, rất ngắn (từ 5-6  
năm) có diện tích và tỷ trọng khá lớn (khoảng  
65% diện tích rừng trồng) [10, 11]. Do thiếu  
vốn, mức giá thu mua biến động nên người dân  
tính toán rút ngắn chu kỳ kinh doanh rừng  
trồng. Tuy mức lợi nhuận trung bình năm cao  
hơn chu kỳ 7 năm nhưng tác động của việc rút  
ngắn chu kỳ trồng rừng đến xói mòn, thoái hóa  
đất đai rất nghiêm trọng.  
Bảng 2. Hiệu quả kinh tế của các mô hình trồng rừng có chứng chỉ FSC  
và không có chứng chỉ FSC tại Vân Canh  
Mô hình  
Hộ trồng rừng có  
chứng chỉ FSC  
Hộ trồng rừng không có chứng chỉ FSC  
Yếu tố  
Trồng rừng  
5 năm  
Chu kỳ khai thác  
7-9 năm  
6 năm  
Keo lai BV10  
1,800-2,5000  
Cây giống  
Keo lai cấy mô  
Keo lai BV10  
1,600-2,200  
Mật độ trồng (cây/ha)  
1,400-2,000  
Hiệu quả sản xuất  
Giá trị/1 ha rừng (triệu đồng)  
Thấp nhất  
Cao nhất Thấp nhất  
Cao nhất Thấp nhất  
Cao nhất  
Thu từ bán gỗ tỉa thưa năm  
thứ 4 hoặc 5  
4
6
-
-
Thu từ bán gỗ cuối chu kỳ  
Tổng thu  
150  
154  
175  
181  
95  
95  
115  
115  
77  
77  
95  
95  
43  
Tổng chi phí  
42,5  
111,5  
12,4  
55  
38  
57  
9,5  
48  
32  
45  
9
Tổng lợi nhuận  
126  
14,0  
67  
52  
Lợi nhuận trung bình/năm  
11,2  
10,4  
Nguồn: Kết quả điều tra xã hội tại các xã Canh Hiển, Canh Vinh, Canh Hiệp, Canh Liên năm 2018.  
3.3.2. Các tác nhân hình thành chuỗi giá trị  
gỗ rừng trồng  
Một số nhà máy quy mô lớn trong vùng gồm:  
i) Nhà máy MDF Gia Lai thuộc Công ty MDF  
Vinafor Gia Lai, công suất 54,000 m3 ván  
MDF/năm, vùng nguyên liệu 5,000 ha;  
ii) Công ty TNHH dăm gỗ Hào Hưng Phát  
chuyên chế biến dăm gỗ, công suất từ 500,000-  
800,000 BDMT/năm.  
Sản phẩm đầu ra của gỗ rừng trồng (dăm  
gỗ, viên nén, gỗ công nghiệp) chủ yếu xuất  
khẩu sang thị trường Trung Quốc, Nhật Bản,  
Tây Âu qua cảng Quy Nhơn. Với lợi thế là cảng  
lớn nhất miền Trung, năm 2018, tổng khối  
lượng hàng hóa qua cảng Quy Nhơn đạt  
8,316,499 tấn, trong đó dăm gỗ xuất khẩu tới  
3,8 triệu tấn. Cảng Quy Nhơn là cảng xuất khẩu  
dăm gỗ lớn của khu vực và cả nước. Đây là cơ  
sở rất quan trọng của chuỗi giá trị hàng hóa gỗ  
rừng trồng của lưu vực sông Ba, sông Kôn.  
Chuỗi giá trị gỗ rừng trồng trên lưu vực  
sông Ba, sông Kôn thể hiện ở cả 3 dạng quản  
trị, gồm: Chuỗi không liên kết (theo thị trường);  
chuỗi giá trị có hợp đồng nông sản giữa nhà  
máy/nông lâm trường (Công ty CP Lâm nghiệp  
Quy Nhơn, Công ty TNHH Lâm nghiệp Sông  
Kôn,…) và chuỗi giá trị nhất thể hóa dọc trong  
đó các hoạt động từ sản xuất, chế biến, phân  
phối,... thuộc phạm vi hoạt động trong nội bộ  
doanh nghiệp (Công ty MDF Gia Lai, Công ty  
Hà Thanh, Pisico Bình Định,…). Sơ đồ tác  
nhân hình thành chuỗi giá trị thể hiện ở Hình 2.  
Trên lưu vực sông Ba, sông Kôn hiện có 29  
nhà máy chế biến gỗ rừng trồng, tập trung ở lưu  
vực sông Kôn (tỉnh Bình Định có 16 cơ sở, nhà  
máy chế biến dăm gỗ, viên nén) cho xuất khẩu.  
N.H. Xuan, N.A. Thinh / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 37, No. 1 (2021) 101-112  
108  
Hình 2. Sơ đồ các tác nhân hình thành chuỗi giá trị gỗ rừng trồng [10]  
3.3.3. Một số vấn đề đặt ra trong tổ chức  
lãnh thổ liên vùng của chuỗi giá trị gỗ rừng  
trồng trên lưu vực sông Ba, sông Kôn  
Yên), An Lão, Vĩnh Thạnh (Bình Định). Điều  
này không chỉ đe dọa nỗ lực bảo tồn đa dạng  
sinh học mà còn gây ra tác động tiêu cực tới  
nguồn nước ngầm trong khu vực; là nguyên  
nhân ảnh hưởng tới mục tiêu bảo vệ tài nguyên  
rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng của khu vực.  
Những thách thức trong liên kết trồng rừng  
nguyên liệu gồm: cạnh tranh thu mua gỗ rừng  
trồng đang diễn ra gay gắt; gỗ rừng trồng trong  
lưu vực có nhiều hạn chế về chất lượng (chủ  
yếu là gỗ có đường kính nhỏ, thích hợp cho làm  
dăm gỗ, năng suất gỗ/ha thấp; Phần lớn gỗ rừng  
chưa có chứng chỉ FSC - chứng chỉ gỗ rừng hợp  
pháp mới có thể xuất sang thị trường EU, Hoa  
Kỳ,… (hiện vùng chỉ có 10% diện tích rừng  
trồng có chứng chỉ FSC).  
Những “điểm sáng” trong chuỗi chế biến gỗ  
rừng trồng trong lưu vực, đó là: bên cạnh việc  
chế biến dăm, gỗ ván ép (MDF), gần đây đã có  
nhiều cơ sở chế biến gỗ viên nén (công ty  
TNHH Nông Trại Xanh,…), đẩy mạnh xuất  
khẩu sang Hàn Quốc, Nhật Bản, góp phần mở  
rộng thị trường, tăng giá trị đầu ra và đa dạng  
hoá sản phẩm chế biến của ngành gỗ ở các địa  
phương trong vùng.  
Hiện nay, nhu cầu chuyển đổi rừng tự nhiên  
sang rừng trồng đang tăng nhanh trong lưu vực.  
Quy trình trồng - thu hoạch - bán gỗ - trồng  
rừng đòi hỏi quỹ đất, nguồn vốn và vấn đề thị  
trường. Để đáp ứng yêu cầu về cấp chứng chỉ  
rừng bền vững theo tiêu chuẩn FSC, PEFC đòi  
hỏi phải có quy hoạch và đảm bảo thực hiện  
đúng quy hoạch trồng rừng cho các địa phương  
trong lưu vực. Bảng 3 thể hiện phân tích SWOT  
về liên kết theo chuỗi giá trị gỗ rừng trồng trên  
lưu vực sông Ba, sông Kôn.  
Vấn đề phát triển quá nóng không theo quy  
hoạch, phá rừng tự nhiên chuyển đất lâm  
nghiệp sang phát triển rừng trồng đòi hỏi phải  
có chứng chỉ gỗ rừng,… Vấn đề khai thác gỗ và  
chế biến lâm sản: chủ yếu là sơ chế (dăm gỗ),  
sự cạnh tranh quyết liệt giữa các nhà máy trong  
vùng nguyên liệu, giữa các tỉnh (Phú Yên -  
Bình Định - Gia Lai). Các điểm nóng về khai  
thác gỗ, lấn chiếm đất rừng trái phép thuộc địa  
bàn Krông Năng, Ea H’Leo, (Đắk Lắk), Mang  
Yang, K’Bang (Gia Lai), Krông Trai (Phú  
N.H. Xuan, N.A. Thinh / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 37, No. 1 (2021) 101-112  
109  
Bảng 3. Phân tích SWOT về liên kết theo chuỗi giá trị gỗ rừng trồng trên lưu vực sông Ba, sông Kôn  
Điểm mạnh (S)  
Điểm yếu (W)  
- Lợi thế về đất đai, khí hậu cho - Quy mô sản xuất nhỏ lẻ,  
Bên trong  
phát triển trồng rừng trên quy mô  
lớn: đất đồi núi, khí hậu nhiệt đới  
gió mùa ẩm,…  
- Nguồn nhân lực dồi dào, có kinh  
nghiệm trồng và khai thác gỗ  
rừng trồng.  
manh mún.  
- Thiếu vốn và kỹ thuật trồng  
rừng, chế biến sâu các sản  
phẩm gỗ rừng trồng.  
- Liên kết sản xuất rất lỏng lẻo  
(chế tài xử lý).  
- Đã hình thành cơ sở chế biến gỗ  
(dăm, viên nén, MDF,...): 29 cơ  
sở chế biến.  
- Có cảng lớn cho xuất khẩu sản  
phẩm gỗ chế biến (cảng Quy  
Nhơn, Vũng Rô, Vân Phong,…).  
- Kỹ thuật chế lâm sản lạc hậu,  
hiệu quả kinh tế thấp.  
- Chưa có liên kết vùng theo  
chuỗi giá trị gỗ rừng trồng  
giữa các địa phương.  
Bên ngoài  
Cơ hội (O)  
Chiến lược (S-O)  
Chiến lược (W-O)  
- Chính sách của Nhà nước và địa - Sử dụng hiệu quả nguồn lực lao - Tăng cường đầu tư cho phát  
phương cho trồng rừng.  
động, đất đai,…  
- Phát triển rừng bền vững; Trồng  
triển giao thông đường bộ,  
kết nối liên huyện, liên xã.  
rừng gỗ lớn theo quy mô trung - Hỗ trợ, đầu tư xây dựng và  
- Chủ trương trồng rừng gỗ lớn  
- Thị trường xuất khẩu dăm gỗ, viên  
nén mở rộng.  
- Hỗ trợ hình thành vùng nguyên liệu  
có chứng chỉ FSC.  
- Vai trò của các Hiệp hội Chế biến  
gỗ và lâm sản về trồng, chế biến,  
xuất khẩu gỗ rừng trồng.  
bình và hộ gia đình.  
- Đầu tư hình thành các vùng rừng  
có chứng chỉ FSC.  
- Tạo sản phẩm OCOP có tính  
cạnh tranh cao.  
thực hiện mô hình trồng rừng  
bền vững.  
- Đầu tư cho chế biến gỗ theo  
chiều sâu.  
Thách thức (T)  
Chiến lược (S-T)  
Chiến lược (W-T)  
- Hiệu quả trồng rừng, chế biến lâm - Hình thành thị trường gỗ cạnh - Sử dụng hiệu quả nguồn vôn  
sản thấp.  
tranh (hình thức đấu thầu gỗ  
rừng trồng).  
- Phát triển rừng bền vững gắn với  
đầu tư của các dự án, chương  
trình kinh tế của Nhà nước  
và doanh nghiệp.  
- Thiếu chế tài cho phát triển rừng  
bền vững.  
xóa đói giảm nghèo theo các - Tăng cường bảo vệ rừng  
- Tình trạng phá rừng tự nhiên lấy đất  
trồng rừng.  
- Cạnh tranh không lành mạnh về  
nguồn cung nguyên liệu cho chế biến  
gỗ; cạnh tranh về thị trường xuất  
khẩu dăm gỗ, viên nén,… từ các  
dự án đầu tư của nhà nước và  
doanh nghiệp.  
phòng hộ, đầu nguồn; thực  
thi có hiệu quả chính sách  
“Chi trả dịch vụ môi trường  
rừng”.  
- Hình thành liên kết liên vùng  
theo chuỗi giá trị gỗ rừng trồng.  
vùng khác.  
o
3.4. Liên kết vùng phát triển chuỗi giá trị cây  
mía lưu vực sông Ba, sông Kôn  
- Thu mua/vận chuyển: Nhà máy đường  
hoặc “đầu nậu”, hợp tác xã (HTX) nông nghiệp  
ở địa phương.  
- Dịch vụ phát triển cây mía - đường  
(giống/phân bón/thuốc bảo vệ thực vật/thu  
hoạch,…): Đây là yếu tố đầu vào quan trọng  
trong chuỗi giá trị ngành mía đường, giống mía  
được người dân tự sản xuất (tự lấy giống của  
các niên vụ trước), một số hộ dân mua giống từ  
người quen, hàng xóm, nhà doanh nghiệp (từ  
3.4.1. Các tác nhân và các khâu trong chuỗi  
giá trị mía đường  
- Sản xuất mía - người trồng mía: Các nông  
hộ với quy mô diện tích, mức đầu tư cho trồng  
mía khác nhau. Nông hộ có thể được nhà máy  
đường đầu tư giống, vốn cho vùng nguyên liệu  
qua hình thức hợp đồng bao tiêu sản phẩm mía.  
N.H. Xuan, N.A. Thinh / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 37, No. 1 (2021) 101-112  
110  
khi bắt đầu hình thành cánh đồng lớn). Đối với  
ép giá. Hình thức này chiếm tỷ trọng nhỏ trong  
liên kết dọc.  
phân bón, thuốc bảo vệ thực vật thì phần lớn  
mua tại các cửa hàng bán lẻ địa phương, hoặc  
hợp đồng mua bán với người thu mua mía (hình  
thức mượn vốn, sau này người thu mua tới  
ruộng mua mía). Đối với nông cụ chủ yếu mua  
từ các cửa hàng bán lẻ, một số gia đình tự gia  
công các trang thiết bị làm đất, thu hoạch.  
- Chế biến đường: Chế biến mía thủ công  
tại nông hộ (rất hạn chế). Chế biến mía đường  
công nghiệp với các nhà máy đường quy mô  
nhỏ đến lớn. Trên lưu vực sông Ba có 5 nhà  
máy đường, trong đó nhà máy đường An Khê  
có quy mô lớn nhất, công suất đạt 18.000 tấn  
mía cây/ngày (lớn nhất Việt Nam). Các sản  
phẩm chế biến khá đa dạng gồm mật rỉ, đường  
tinh luyện, cồn, bã mía, phân vi sinh hữu cơ,  
điện sinh khối,... [10].  
Liên kết ngang: Được thực hiện bởi nhóm  
các hộ nông dân trồng mía; nhóm dịch vụ  
chặt/vận chuyển mía; nhóm nhà cung cấp phân  
bón/thuốc bảo vệ thực vật cho cây mía,… Liên  
kết ngang dựa trên sự uy tín, quen biết giữa các  
hộ dân sản xuất mía với hộ dân làm dịch vụ và  
người lao động. Mặc dù vậy, liên kết ngang  
cũng tạo ra nhiều lợi thế: giảm chi phí sản xuất,  
kinh doanh cho từng thành viên, qua đó tăng lợi  
ích kinh tế, liên kết sản xuất quy mô lớn với  
loại giống chất lượng, năng suất cao,…  
3.4.3. Thực trạng liên kết chuỗi mía đường  
trên lưu vực sông Ba, sông Kôn  
Các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Gia Lai đều  
có thế mạnh cho phát triển cây mía. Năm 2005,  
vùng nguyên liệu mía của nhà máy đường Bình  
Định có diện tích quy hoạch gần 10.000 ha. Tuy  
nhiên, do làm ăn thua lỗ, hiện vùng mía chỉ còn  
700-1000 ha. Nhà máy đường Bình Định hiện  
đã ngừng hoạt động. Vùng nguyên liệu mía  
đông Gia Lai bao gồm 4 huyện, thị (An Khê,  
Kông Chro, KBang, Đắk Pơ gia tăng rất nhanh,  
đạt 26.000 ha. Do nhu cầu lớn về nguyên liệu,  
năm 2016, Công ty Đường An Khê đã được  
tỉnh Bình Định cho phép hỗ trợ nông dân Bình  
Định trồng mía, đảm bảo đầu ra cho sản xuất,  
phát triển ngành mía đường Bình Định [11].  
Trong phạm vi lãnh thổ nghiên cứu, mỗi  
tỉnh có 1-2 nhà máy đường với vùng nguyên  
liệu riêng. Mặc dù các huyện nằm liền kề nhau  
có thể hình thành vùng nông nghiệp tập trung  
và gắn với doanh nghiệp chế biến có quy mô đủ  
lớn, có khả năng tiêu thụ hết nguyên liệu của  
vùng đã được quy hoạch nhưng tình trạng tranh  
mua mía vẫn xảy ra, khiến mối liên kết nông  
dân - nhà máy không bền và ổn định. Tình trạng  
tranh mua đầu vụ ép khiến vận tải mía quá xa  
làm tăng chi phí vận chuyển. Điều đó đã gây  
nên sự lãng phí do không sử dụng hết công suất  
nhà máy.  
- Tiêu thụ: Sản phẩm chế biến đường mía  
được tiêu thụ chủ yếu trong nước. Việc xuất  
khẩu sản phẩm đường tinh luyện rất hạn chế.  
3.4.2. Hình thức liên kết chuỗi mía đường  
Liên kết dọc: Gồm 2 hình thức liên kết giữa  
người dân trồng mía và các nhà máy đường.  
Hình thức 1: Nhà máy đầu tư và bao tiêu  
sản phẩm cho nông hộ trồng mía theo thỏa  
thuận và cam kết giữa 2 bên. Người trồng mía  
nhận đầu tư giống, phân bón, vận chuyển từ nhà  
máy và bán mía cho nhà máy. Đây là mối liên  
kết rất chặt chẽ được thể hiện qua hợp đồng  
mua bán giữa các bên, quy định và thống nhất  
mức hỗ trợ đối với doanh nghiệp, tổ chức đại  
diện của nông dân và nông dân nhằm khuyến  
khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn  
với tiêu thụ nông sản.  
Hình thức 2: Liên kết giữa nông dân với  
nhà máy đường qua khâu trung gian là HTX  
nông nghiệp. HTX có nhiệm vụ ký hợp đồng và  
đảm bảo việc tư vấn giống mía, cung ứng  
giống, các loại nông cụ, thuốc trừ sâu, phân  
bón,… đến các hộ dân trong quá trình sản xuất.  
Khi thu hoạch người nông dân thông qua HTX  
liên hệ với nhà máy đường để bán mía nguyên  
liệu, trong trường hợp này người dân sẽ yên  
tâm sản xuất hoặc khi có dịch bệnh xảy ra sẽ có  
hướng khắc phục và tính thất thoát, hao hụt mía  
ít hơn, đồng thời tính minh bạch trong xác định  
chữ đường sẽ khách quan, người dân không bị  
Mô hình liên kết vùng mía - đường - điện  
cũng đang được các nhà máy đường lớn trong  
vùng như KCP (Phú Yên), Thành Thành Công  
(AyunPa - Gia Lai) triển khai thực hiện có hiệu  
quả. Tuy nhiên, liên kết về cây mía giữa Phú  
Yên, Gia Lai, Đắk Lắk chưa được quan tâm,  
tình trạng tranh mua nguyên liệu mía diễn ra rất  
phổ biến, nhất là vào đầu vụ ép mía.  
N.H. Xuan, N.A. Thinh / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 37, No. 1 (2021) 101-112  
111  
khoảng 30.000 ha cung cấp nguyên liệu cho nhà  
máy đường An Khê. Vùng mía thung lũng sông  
Ayun (Phú Thiện, Ayun Pa, Ia pa), diện tích  
11.000 ha cung cấp nguyên liệu cho nhà máy  
đường Thành Thành Công và vùng mía trung,  
hạ lưu sông Ba (Sông Hinh, Tây Hòa, Sơn Hòa)  
khoảng 18.000 ha cung cấp nguyên liệu mía  
cho nhà máy đường KCP, Tuy Hòa, Vạn Phát.  
Có thể xác lập hướng liên kết của chuỗi các nhà  
máy đường theo quốc lộ 25, 29 và đường Đông  
Trường Sơn (Hình 3).  
3.5. Xác lập không gian liên kết vùng của chuỗi  
giá trị gỗ rừng trồng và mía đường lưu vực  
sông Ba, sông Kôn  
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Đối với trồng  
rừng, vùng rừng trồng tập trung nhất trên lưu  
vực sông Kôn thuộc huyện Vân Canh, Vĩnh  
Thạnh, Tây Sơn và một phần thành phố Quy  
Nhơn. Trên lưu vực sông Ba, vùng rừng trồng  
có diện tích khá lớn và tập trung ở dọc quốc lộ  
19 thuộc An Khê, Đắk Pơ và Mang Yang (Gia  
Lai), huyện Phú Hòa, Tây Hòa (Phú Yên),  
huyện M’Đrắk (Đắk Lắk). Trồng rừng toàn lưu  
vực có xu hướng tăng cả về diện tích và sản  
lượng gỗ khai thác hàng năm. Dọc theo các  
tuyến quốc lộ 19, 19C, quốc lộ 26, 25 và 29 đã  
có 29 cơ sở chế biến gỗ lâm sản. Các yếu tố đó  
cho phép xác lập khả năng liên kết vùng cho  
chuỗi giá trị gỗ rừng trồng (Hình 3).  
3.5. Giải pháp tăng cường liên kết vùng theo  
chuỗi giá trị nông lâm sản  
- Để tạo thế cạnh tranh của nông lâm sản  
trong vùng, cần tạo thương hiệu mạnh cho  
ngành, có sự liên kết chặt chẽ giữa cơ sở chế  
biến và người nông dân trên cơ sở đảm bảo hài  
hòa lợi ích các bên. Người dân cần mở rộng quy  
mô sản xuất, quỹ đất và đảm bảo đầu ra; nhà  
máy cần tối ưu hóa khâu thu mua, vận chuyển,  
chế biến, tạo liên kết chặt chẽ với nhau để ổn  
định đầu ra của thị trường nông sản.  
- Để kết nối liên vùng Tây Nguyên - Nam  
Trung Bộ theo lưu vực sông cho phát triển bền  
vững nông lâm nghiệp, trước hết phải thực hiện  
tốt khâu quy hoạch vùng nguyên liệu và cơ sở  
chế biến ở cấp liên vùng. Xác định không gian  
liên kết xây dựng và phát triển mô hình tổ chức  
lãnh thổ liên vùng theo chuỗi giá trị gỗ rừng  
trồng và chuỗi giá trị mía đường dựa trên quy  
hoạch và thực trạng sản xuất gỗ rừng, mía  
đường với hiệu quả kinh tế - xã hội, môi trường  
cao nhất.  
- Xây dựng thể chế, xác lập nguyên tắc và  
khả năng phối hợp của các chủ thể tham gia  
thực hiện mô hình tổ chức lãnh thổ liên vùng  
cho phát triển chuỗi giá trị gỗ rừng trồng và  
chuỗi giá trị mía đường.  
- Đối với lưu vực sông Ba và sông Kôn,  
giao thông vận tải là yếu tố cốt lõi kết nối các  
khâu trong chuỗi giá trị hàng hóa. Để tăng  
cường kết nối liên vùng, hệ thống giao thông  
đường bộ thì đường, cầu, bến bãi, kết nối vận  
tải thủy (cảng biển như Quy Nhơn, Vũng Rô,  
Dung Quất).  
- Thúc đẩy tập quán canh tác bền vững,  
trong đó chú ý đến các vấn đề cải thiện cảnh  
quan nông lâm nghiệp và bảo vệ tài nguyên  
thiên nhiên, nhất là rừng đặc dụng.  
Hình 3. Bản đồ tài nguyên rừng sông Ba, sông Kôn  
và hướng liên kết vùng theo chuỗi giá trị  
gỗ rừng trồng và mía đường [10]  
Vùng trồng mía tập trung chủ yếu trên lưu  
vực sông Ba gồm vùng mía Đông Gia Lai (An  
Khê, Đăk Pơ, Kông Chro, Kbang) với diện tích  
N.H. Xuan, N.A. Thinh / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 37, No. 1 (2021) 101-112  
112  
4. Kết luận  
Mục tiêu của liên kết vùng theo chuỗi giá trị  
Tài liệu tham khảo  
[1] N.V. Huan, Regional linkage - From theory to  
practice, Vietnam Institute of Economics, Hanoi,  
2012 (in Vietnamese).  
[2] T.T.T. Huong, L.V. Thai, “Regional linkage and  
orienting Regional linkage in the process of  
restructuring the Vietnamese economy”, Journal of  
ngành hàng nông sản là thúc đẩy tập quán canh  
tác bền vững, khuyến khích đầu tư sản xuất quy  
mô lớn, định hướng công nghệ cao và liên kết  
chuỗi toàn cầu với sự tham gia của các doanh  
nghiệp lớn. Trong lưu vực sông Ba, sông Kôn,  
việc hình thành và phát triển liên kết theo chuỗi  
giá trị đối với một số sản phẩm nông nghiệp  
chủ lực của vùng là yêu cầu khách quan, cấp  
thiết. Tuy vậy, hiện nay mô hình liên kết hoạt  
động giữa các doanh nghiệp, tổ chức phân phối  
giống, vật tư nông nghiệp, cung cấp kỹ thuật,  
kiểm soát quá trình sản xuất,… đến hộ nông  
dân thực hiện các quy trình theo hướng dẫn của  
doanh nghiệp còn hạn chế, hiệu quả thấp.  
Xây dựng mô hình tổ chức lãnh thổ liên  
vùng phát triển chuỗi giá trị hàng hóa gỗ rừng  
trồng và chuỗi giá trị mía đường gắn với phát  
triển nông lâm nghiệp bền vững của lưu vực  
sông Ba, sông Kôn phải dựa trên sự phân tích  
cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý trong liên kết  
vùng. Hình thành, phát triển liên kết nội và  
ngoại vùng của chuỗi giá trị hàng hóa gỗ rừng  
trồng, chuỗi giá trị mía đường phải dựa trên  
tính toán chi phí lợi ích, hiệu quả kinh tế, môi  
trường của từng mô hình liên kết.  
Economic  
Research  
11  
(2015)  
69-76  
(in Vietnamese).  
[3] N.C. Thang, “Regional link system in Vietnam -  
Suggestions from experience”, Vietnam’s Socio-  
Economic Development 73 (2013) 58-71  
(in Vietnamese).  
[4] World Bank, Vietnam Development Report 2016,  
Transforming Vietnam's Agriculture: Increasing  
Value, Decreasing Inputs, Hong Duc Publishing  
House, 2016 (in Vietnamese).  
[5] V.H. Quang, “Regional linkages by agricultural  
value chains in the Mekong Delta and Central  
Highlands, proposing mechanisms and policies to  
promote regional linkages in agriculture”,  
Proceedings of the International Conference  
“Regional linkages in the process of economic  
restructuring and growth model transformation of  
Vietnam”, 2016, pp. 897-913.  
[6] Hass, R. Capella, “Intergration and Regional  
Linkage”, Papers of Harvard University, 2006.  
[7] E.B. Haas, “The Study of Regional Integration:  
Reflections on the Joy and Anguish of  
Pretheorizing”, In Leon N.L. and Stuart A.S.,  
“Regional Integration: Theory and Research”,  
Harvard University Press, 1971, pp. 3-44.  
[8] P.T. Van, “Some issues of Regional linkages in the  
Central Highlands in terms of decentralization for  
investment”, Journal of Human Resources, Social  
Sciences, number 2 (2015) 39-46 (in Vietnamese).  
[9] M.N. Nga, “Linkage between enterprises and  
farmers in the value chain of sugarcane products in  
Khanh Hoa province”, Journal of Human  
Nghiên cứu đã phát huy ưu điểm của GIS  
trong phân tích không gian liên kết, mô hình  
hóa bằng bản đồ cho các kết quả nghiên cứu về  
liên kết vùng của chuỗi giá trị gỗ rừng trồng và  
mía đường. Tuy nhiên, cần có những dữ liệu cụ  
thể cho từng tiểu lưu vực, từng địa phương làm  
hạt nhân để nghiên cứu sâu hơn, từ đó những  
đánh giá, nhận định hay xác lập không gian,  
hướng liên kết sẽ có độ tin cậy cao hơn.  
Geographic Research 4(23)  
(in Vietnamese).  
(2018) 34-46  
[10] N.H. Xuan, Thematic reports of the National  
Project “Research to build models of interregional  
territorial organization between the Central  
Highlands and the South Central region, Vietnam  
according to river basins for the sustainable  
development of Agriculture - Forestry”, Project  
TN18/T11, The Central Highlands Program 2016-  
2020, 2019 (in Vietnamese).  
[11] N.H. Xuan, N.T.T. Chung, “Links for the  
development of sugar cane production in the value  
chain of goods in An Khe town, Gia Lai province”,  
Proceedings of the 11th National Geographic  
Science Conference, Hue City, Book 1 (2019)  
314-324 (in Vietnamese).  
Lời cảm ơn  
Nhóm tác giả xin cảm ơn Ban chủ nhiệm  
Chương trình Tây Nguyên 2016-2020, Chủ  
nhiệm đề tài khoa học và công nghệ cấp quốc  
gia TN18/T11 “Nghiên cứu xây dựng mô hình  
tổ chức lãnh thổ liên vùng Tây Nguyên - Nam  
Trung Bộ theo lưu vực sông nhằm phát triển  
bền vững nông lâm nghiệp” đã cung cấp kinh  
phí và nguồn tư liệu phục vụ cho nghiên  
[12] K. Raphael, M. Mike (Translated by Kim Chi),  
Value chain research handbook, Fulbright  
Economics Teaching Program 2011-2013, 2009.  
cứu này.  
k
pdf 12 trang yennguyen 16180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Regional linkages of the agroforestry production value chain in the Kon and Ba river basin", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfregional_linkages_of_the_agroforestry_production_value_chain.pdf