Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến sinh trưởng và năng suất cây thạch đen tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn

TNU Journal of Science and Technology  
225(08): 403 - 408  
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA TỔ HỢP PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG  
VÀ NĂNG SUẤT CÂY THẠCH ĐEN TẠI HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN  
Nguyễn Văn Thuần1*, Nguyễn Viết Hưng1, Nguyễn Thế Hùng1,  
Nguyễn Duy Đăng2, Nguyễn Thị Trang2, Nguyễn Thùy Giang3  
1Trường Đại học Nông Lâm – ĐH Thái Nguyên  
2Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp – Trường Đại học Nông Lâm – ĐH Thái Nguyên  
3Trung tâm đào tạo, nghiên cứu giống cây trồng và vật nuôi – Trường Đại học Nông Lâm – ĐH Thái Nguyên  
TÓM TẮT  
Do chưa có nhiều nghiên cứu về những biện pháp kỹ thuật trong việc trồng cây Thạch đen cho  
năng suất và chất lượng cao, nên nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến sinh trưởng,  
năng suất và chất lượng cây Thạch đen đã được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu tại Bắc Kạn năm  
2019. Thí nghiệm gồm 4 công thức: CT1 (2,0 tấn phân hữu cơ vi sinh (HCVS) + 35 kg N + 32 kg  
P2O5 + 60 kg K2O/ha), CT2 (2,5 tấn phân HCVS + 26 kg N + 24 kg P2O5 + 45 kg K2O/ha), CT3  
(3,0 tấn phân HCVS + 18 kg N + 16 kg P2O5 + 30 kg K2O/ha), CT4 (3,5 tấn phân HCVS + 9 kg N  
+ 8 kg P2O5 + 15 kg K2O/ha). Kết quả nghiên cứu đã xác định được dùng tổ hợp phân bón thứ 2  
cho năng suất Thạch đen cao nhất và hiệu quả kinh tế cao nhất. Cụ thể, tổ hợp phân bón thứ 2 có  
độ nhớt dịch thạch đạt 4,4 cP, có hàm lượng pectin là 0,7 mg/ml, năng suất thân lá đạt 62,67  
tấn/ha.  
Từ khóa: Phân bón; chất lượng; năng suất; sinh trưởng; Thạch đen.  
Ngày nhận bài: 17/6/2020; Ngày hoàn thiện: 24/7/2020; Ngày đăng: 31/7/2020  
RESEARCH ON EFFECTS OF MULTI-FERTILIZERS  
TO THE GROWTH AND YIELD OF MESONA CHINENSIS BENTH  
IN NA RI DISTRICT, BAC KAN PROVINCE  
Nguyen Van Thuan1*, Nguyen Viet Hung1, Nguyen The Hung1,  
Nguyen Duy Dang2, Nguyen Thị Trang2, Nguyen Thuy Giang1  
1TNU - University of Agriculture and Forestry  
2TNU - University of Agriculture and Forestry – Institute of Forestry Research and Development  
3TNU - University of Agriculture and Forestry, Center for Training and Research on Plant and Animal Breeding  
ABSTRACT  
There have not been many studies on technical measures in growing Mesona chinensis Benth for  
high yield and quality. Hence, a research on the effect of the fertilizer combination on the growth,  
yield and quality of Mesona chinensis Benth was conducted by the research team in Bac Kan in  
2019. The experiment consists of 4 formulas: F1 (2.0 tons of micro-bial compose + 35 kg N + 32  
kg P2O5 + 60 kg K2O/ha), F2 (2.5 tons of micro-bial compose + 26 kg N + 24 kg P2O5 + 45 kg  
K2O/ha), F3 (3.0 tons of micro-bial compose + 18 kg N + 16 kg P2O5 + 30 kg K2O/ha), F4 (3.5  
tons of micro-bial compose + 9 kg N + 8 kg P2O5 + 15 kg K2O/ha. The study results showed that  
using the 2nd fertilizer combination has the highest crop yield and economic efficiency.  
Specifically, the 2nd fertilizer combination has a viscosity of 4.4 cP, pectin content is 0.7 mg/ml,  
leaf yield reaches 62.67 tons/ha.  
Keywords: Fertilizers; quality; yield; growth; Mesona chinensis benth  
Received: 17/6/2020; Revised: 24/7/2020; Published: 31/7/2020  
* Corresponding author. Email: [email protected]  
403  
Nguyễn Văn Thuần và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
225(08): 403 - 408  
2.3.1. Bố trí thí nghiệm  
1. Giới thiệu  
Thí nghiệm gồm 4 công thức, 3 lần nhắc lại  
bố trí thí nghiệm theo kiểu khối ngẫu nhiên  
hoàn chỉnh. Diện tích ô thí nghiệm 30 m2 (6 x  
5 m), tổng diện tích 360 m2, không tính diện  
tích bảo vệ.  
Phân bón là nguồn dinh dưỡng thiết yếu đối  
với cây trồng. Nhiều nghiên cứu [1], [2] đã  
khẳng định rằng, trong các biện pháp canh tác  
thì phân bón có ảnh hưởng rất lớn tới năng suất  
và chất lượng cây trồng, nhất là với các giống  
lai thì việc bón phân đầy đủ và cân đối là yếu  
tố quyết định năng suất. Các nguyên tố đa  
lượng đạm, lân, kali (K) là quan trọng ảnh  
hưởng trực tiếp đến năng suất cây trồng. Đạm  
giữ vai trò quan trọng trong các hoạt động sinh  
học, cây được cung cấp đạm đầy đủ, thân lá và  
chồi phát triển tốt, rễ phát triển cân đối hơn so  
với cây thiếu đạm. Theo Mai Thành Phụng  
(2005), ngoài là nguồn năng lượng vận chuyển  
và bảo tồn vật chất, cần cho quá trình hình  
thành axit nucleic và photpholipit, thúc đẩy đẻ  
nhánh, lân còn có tác dụng giải độc phèn [3].  
K đảm nhiệm các vai trò như thẩm thấu, trong  
hòa điện tích, vai trò biến dưỡng trong cây [4].  
Thạch đen hay còn gọi là Xương sáo có tên  
khoa học Mesona chinensis Benth. Hiện nay,  
việc đầu tư nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật  
như: kỹ thuật nhân giống, mật độ trồng và tổ  
hợp phân bón… đối với cây Thạch đen chưa  
được quan tâm đúng mức. Việc nghiên cứu  
quy trình bón phân thích hợp đối với cây  
Thạch đen nhằm đạt năng suất và hiệu quả  
kinh tế là hết sức cần thiết.  
Công thức 1: 2,0 tấn phân hữu cơ vi sinh + 35  
kg N + 32 kg P2O5 + 60 kg K2O/ha (đối chứng);  
Công thức 2: 2,5 tấn phân hữu cơ vi sinh + 26  
kg N + 24 kg P2O5 + 45 kg K2O/ha;  
Công thức 3: 3,0 tấn phân hữu cơ vi sinh + 18  
kg N + 16 kg P2O5 + 30 kg K2O/ha;  
Công thức 4: 3,5 tấn phân hữu cơ vi sinh + 9  
kg N + 8 kg P2O5 + 15 kg K2O/ha.  
Công thức phân bón đối chứng được xây  
dựng dựa trên quy trình tạm thời về kỹ thuật  
canh tác cây Thạch đen của Sở Nông nghiệp  
và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Kạn.  
Thời vụ trồng: Ngày 01 tháng 6 năm 2019,  
thu hoạch tháng 10 năm 2019.  
Mật độ trồng: 100.000 cây/ha (hàng cách hàng  
50 cm, cây cách cây 20 cm).  
+ Kỹ thuật bón phân:  
Bón lót: Toàn bộ 2 tấn phân hữu cơ vi sinh và  
phân lân.  
Bón thúc lần 1: sau trồng 30 ngày, khi cây  
Thạch đen bén rễ, hồi xanh và bắt đầu phân  
cành; kết hợp xới xáo và làm cỏ cho cây  
Thạch đen.  
Vì vậy, nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài:  
“Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân  
bón đến sinh trưởng và năng suất cây Thạch  
đen tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn” từ tháng  
6/2019 đến tháng 10/2019.  
Lượng phân bón: 1/2 đạm urê + 1/2  
kaliclorua. Toàn bộ số phân này được bón vào  
rãnh giữa 2 hàng Thạch đen. Thường phân  
được bón sau mưa để giảm công tưới nước.  
2.Vậtliệu,nộidungvàphươngphápnghiêncứu  
2.1. Vật liệu nghiên cứu  
2.3.2. Chỉ tiêu theo dõi và tính toán kết quả  
Tổ hợp phân bón NPK, phân hữu cơ vi sinh  
Sông Gianh và các vật liệu khác phục vụ cho  
nội dung nghiên cứu.  
* Theo dõi sự sinh trưởng của cây Thạch đen  
+ Tốc độ tăng trưởng chiều dài cây  
(cm/ngày): Cố định bằng cọc 5 cây ngẫu  
nhiên theo đường chéo góc/ô thí nghiệm, 10  
ngày đo chiều dài cây 1 lần, lấy số liệu trung  
bình ở mỗi giai đoạn sinh trưởng.  
2.2. Nội dung nghiên cứu  
Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến  
sinh trưởng và năng suất cây Thạch đen tại  
huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn vụ Hè thu 2019.  
+ Tốc độ ra lá (lá/ngày): Tiến hành trên 5 cây  
2.3. Phương pháp nghiên cứu  
đã đo chiều cao, 10 ngày đếm số lá mới ra 1  
404  
Nguyễn Văn Thuần và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
225(08): 403 - 408  
lần, dùng phương pháp đánh dấu lá để biết số  
lá mới ra, lấy số liệu trung bình ở mỗi giai  
đoạn sinh trưởng.  
Phương pháp xác định độ nhớt của dịch thạch  
Đo độ nhớt của dịch thạch đen bằng nhớt kế  
Osval, dựa trên nguyên tắc là độ nhớt của  
dịch thạch đen cần đo tỷ lệ với thời gian chảy  
của một thể tích dung dịch (còn gọi là lưu thể)  
qua ống. Dùng pipet hút 2 ml dịch thạch đen  
vào nhánh không có mao quản của nhớt kế,  
rồi dùng quả bóp cao su đẩy dung dịch qua  
nhánh có mao quản, lên quá ngấn A một ít,  
sau đó tháo quả bóp cao su cho dịch chảy tự  
nhiên và dùng đồng hồ bấm giây đo thời gian  
dịch thạch đen từ ngấn A đến ngấn B. Đo lại  
chính dịch thạch đen đấy 4-5 lần, lấy giá trị  
trung bình (mỗi lần đo sai khác không được  
quá 0,2s).  
* Theo dõi chiều dài cây cuối cùng, số  
cành, tổng số lá trên thân chính và năng  
suất thân lá cây Thạch đen  
Theo dõi một lần khi thu hoạch (vào tháng  
7/2019 và tháng 10/2019)  
+ Chiều dài cây cuối cùng (cm): Tổng chiều  
dài của cây đo được khi thu hoạch.  
+ Số cành (cành): Đếm tổng số cành trên cây.  
+ Tổng số lá trên thân chính (lá): Đếm tổng số  
lá trên thân chính.  
+ Năng suất thân lá lý thuyết (tấn/ha) = Khối  
lượng trung bình của 1 cây x mật độ cây/ha.  
Độ nhớt của dịch thạch đen (centiPoise - cP)  
được tính theo công thức:  
* Chỉ tiêu chất lượng:  
ηd = ηn × dd/dn × zd/zn; cP.  
Trong đó:  
Phương pháp xác định hàm lượng pectin  
(mg/ml)  
- Phân tích định tính: Trong dịch chiết nếu có  
pectin thì có khả năng tạo gel hay xuất hiện  
keo vẩn đục hoặc có kết tủa. Đây là phương  
pháp định tính để nhận biết sự có mặt của  
pectin trong thạch.  
n: Độ nhớt của nuớc ở cùng nhiệt độ (Nếu t  
= 300C thì n = 0,801 cP)  
dn: Khối lượng riêng của nước (nếu t = 300C  
thì dn = 0,997)  
zn: Thời gian chảy của nước (tính bằng giây = s)  
dd: Khối lượng riêng của dịch thạch đen cần đo  
zd: Thời gian chảy của dịch thạch đen cần đo (s).  
- Định lượng theo phương pháp pectat canxi:  
Trong môi trường kiềm loãng pectin hòa tan  
trong thạch sẽ giải phóng ra nhóm methoxyl  
thành rượu metylic và axít pectic tự do. Axít  
pectic tự do có trong môi trường có mặt axít  
acetic sẽ kết hợp với CaCl2 thành dạng muối  
kết tủa canxi pectat. Từ hàm lượng muối kết  
tủa có thể tính được hàm lượng pectin có  
trong mẫu phân tích.  
* Phương pháp tính toán và xử lý số liệu  
Kết quả thí nghiệm được tổng hợp bằng phần  
mềm Excel và phần mềm thống kê SAS.  
3. Kết quả và thảo luận  
3.1. Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến tốc độ  
tăng trưởng chiều dài cây của cây Thạch đen  
Bảng 1. Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến tốc độ tăng trưởng chiều dài cây của cây Thạch đen tại  
huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn  
Đơn vị tính: cm/ngày  
Tháng sau trồng  
Công thức phân bón  
1 tháng  
0,25  
2 tháng  
0,28  
3 tháng  
0,11  
4 tháng (thu hoạch)  
Công thức 1 (Đ/C)  
Công thức 2  
0,21  
0,19  
0,16  
0,13  
0,22  
0,32  
0,11  
Công thức 3  
0,23  
0,26  
0,12  
Công thức 4  
0,27  
0,26  
0,15  
405  
Nguyễn Văn Thuần và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
225(08): 403 - 408  
Qua kết quả bảng 1 cho thấy, ảnh hưởng của  
tổ hợp phân bón đến tốc độ tăng trưởng  
chiều dài cây của cây thạch đen tại các công  
thức thí nghiệm qua các giai đoạn sinh  
trưởng, đạt cao nhất ở giai đoạn 2 tháng sau  
trồng, sau đó tốc độ tăng trưởng chậm dần ở  
các tháng tiếp theo.  
- Chiều dài cây cuối cùng:  
Chiều dài cây cuối cùng của cây Thạch đen  
tại các công thức tham gia thí nghiệm được  
trình bày qua số liệu bảng 3 dao động từ 25,5  
- 29,3 cm. Kết quả xử lý thống kê cho thấy,  
cây Thạch đen bón theo lượng phân như công  
thức 2, công thức 4 và công thức đối chứng sẽ  
cho chiều dài cây cuối cùng tương đương  
nhau với mức độ tin cậy 95%. Công thức 3 có  
chiều cao cây cuối cùng đạt 25,5 cm thấp hơn  
chắc chắn so với công thức đối chứng (2,8  
cm) và các công thức còn lại (1,6 - 3,8 cm).  
Giai đoạn sau trồng 2 tháng, tốc độ tăng  
trưởng chiều dài cây Thạch đen tại các công  
thức thí nghiệm có xu hướng tăng dao động  
từ 0,26 - 0,32 cm/ngày. Trong đó công thức 2  
có tốc độ tăng trưởng chiều dài cây nhanh  
nhất đạt 0,32 cm/ngày, cao hơn so với công  
thức đối chứng (0,28 cm/ngày) là 0,04  
cm/ngày. Hai công thức còn lại là công thức 3  
và công thức 4 tốc độ tăng trưởng chiều dài  
cây đạt 0,26 cm/ngày, thấp hơn công thức 2  
0,06 cm/ngày và thấp hơn công thức đối  
chứng 0,02 cm/ngày.  
- Số cành:  
Qua số liệu bảng 3 ta thấy, số cành của cây  
Thạch đen tại các công thức tham gia thí  
nghiệm dao động từ 5,07 - 6,47 cành. Kết quả  
xử lý thống kê cho thấy số cành của công  
thức 2 đạt 6,47 cành cao hơn chắc chắn so với  
số cành của công thức đối chứng (5,53 cành)  
và các công thức khác tham gia thí nghiệm ở  
mức độ tin cậy 95%. Công thức 3 và công  
thức 4 có số cành tương đương nhau và tương  
đương với số cành của công thức đối chứng ở  
mức độ tin cậy 95%.  
3.2. Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến tốc  
độ tăng trưởng chiều dài cây của cây Thạch  
đen tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn  
Qua bảng 2 cho thấy, tốc độ ra lá của cây  
Thạch đen tại các công thức tham gia thí  
nghiệm nhanh nhất ở giai đoạn 3 tháng sau  
trồng. Giai đoạn 1 tháng sau trồng, tốc độ ra  
lá của cây thạch đen tăng nhanh dao động từ  
0,36 - 0,40 lá/ngày. Giai đoạn sau trồng 3  
tháng tất cả các công thức tham gia thí  
nghiệm dao động từ 0,40 - 0,44 lá/ngày.  
Trong đó công thức 3 có tốc độ ra lá nhanh  
nhất trong thí nghiệm đạt 0,44 lá/ngày, cao  
hơn công thức đối chứng (0,41 lá/ngày) là  
0,03 lá/ngày và cao hơn so với các công thức  
còn lại từ 0,03 - 0,04 lá/ngày.  
- Tổng số lá trên thân chính:  
Số lá cuối cùng của cây thạch đen tại các  
công thức tham gia thí nghiệm dao động từ  
44,1 - 47,9 lá. Kết quả xử lý thống kê cho  
thấy, số lá cuối cùng của công thức 3 cao hơn  
chắc chắn so với số lá cuối cùng của công  
thức đối chứng là 3,66 lá ở mức độ tin cậy  
95%. Công thức 2 có tổng số lá trên thân  
chính đạt 44,1 lá tương đương với tổng số lá  
trên thân chính của công thức 4 và công thức  
đối chứng ở mức độ tin cậy 95%, song, thấp  
hơn chắc chắn so với tổng số lá trên thân  
chính của công thức 3 (3,8 lá).  
3.3. Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến  
đặc điểm hình thái của cây Thạch đen  
Bảng 2. Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến tốc độ ra lá của cây Thạch đen tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn  
Đơn vị tính: lá/ngày  
Tháng sau trồng  
Công thức phân bón  
1 tháng  
0,37  
0,40  
2 tháng  
0,24  
0,26  
3 tháng  
0,41  
0,40  
4 tháng (thu hoạch)  
Công thức 1 (Đ/C)  
Công thức 2  
0,17  
0,17  
0,25  
0,21  
Công thức 3  
Công thức 4  
0,38  
0,36  
0,30  
0,29  
0,44  
0,40  
406  
Nguyễn Văn Thuần và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
225(08): 403 - 408  
Bảng 3. Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến chiều dài cây, số cành và tổng số lá trên thân chính của  
cây Thạch đen tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn  
Công thức phân bón Chiều dài cây cuối cùng (cm) Số cành (cành) Tổng số lá trên thân chính (lá)  
Công thức 1 (Đ/C)  
Công thức 2  
Công thức 3  
Công thức 4  
P
28,3ab  
29,3a  
25,5c  
27,1bc  
< 0,05  
4,01  
5,53b  
6,47a  
5,47b  
5,07b  
< 0,05  
4,58  
44,3b  
44,1b  
47,9a  
45,9ab  
< 0,05  
2,40  
CV (%)  
LSD05  
2,21  
0,52  
2,18  
Bảng 4. Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến năng suất và chất lượng của cây Thạch đen  
tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn  
Công thức phân bón NSTL (tấn/ha) Độ nhớt của dịch thạch (cP) Hàm lượng pectin (mg/ml)  
Công thức 1 (Đ/C)  
Công thức 2  
Công thức 3  
Công thức 4  
P
60,67a  
62,67a  
60,00a  
55,50b  
< 0,05  
2,35  
4,1b  
4,4a  
0,4bc  
0,7a  
4,2ab  
3,3c  
0,5ab  
0,2c  
< 0,05  
3,75  
0,30  
< 0,05  
24,85  
0,22  
CV (%)  
LSD05  
2,80  
Bảng 5. Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến hiệu quả kinh tế của cây Thạch đen  
tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn  
Công thức  
phân bón  
Năng suất thân lá  
(tấn/ha)  
Tổng thu  
(triệu đồng/ha)  
Tổng chi  
(triệu đồng/ha)  
Lãi thuần  
(triệu đồng/ha)  
Công thức 1 (Đ/C)  
Công thức 2  
60,67  
62,67  
60,00  
55,50  
157,742  
162,942  
156,000  
144,300  
80,250  
81,432  
82,639  
83,820  
77,492  
81,510  
73,361  
60,480  
Công thức 3  
Công thức 4  
* Hàm lượng pectin:  
3.4. Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến  
năng suất và chất lượng của cây Thạch đen  
Hàm lượng pectin của các công thức tham gia  
thí nghiệm dao động từ 0,2 - 0,7 mg/ml. Kết  
quả xử lý thống kê cho thấy, công thức 2 có  
hàm lượng pectin cao nhất là 0,7 mg/ml.  
Qua bảng 4 cho thấy:  
* Năng suất thân lá:  
Năng suất thân lá của cây Thạch đen tại các  
công thức tham gia thí nghiệm dao động từ  
55,50 - 62,67 tấn/ha. Kết quả xử lý thống kê cho  
thấy, công thức 2 và công thức 3 có năng suất  
thân lá tương đương với công thức đối chứng  
(60,67 tấn/ha) và cao hơn công thức 4 (55,5  
tấn/ha), chắc chắn ở mức độ tin cậy 95%.  
3.5. Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến hiệu  
quả kinh tế của cây Thạch đen  
Qua bảng 5 cho thấy: Lãi thuần của cây  
Thạch đen tại các công thức tham gia thí  
nghiệm dao động từ 60,480 - 81,510 triệu  
đồng/ha. Trong đó công thức 2 có lãi thuần  
cao nhất đạt 81,510 triệu đồng/ha cao hơn  
công thức đối chứng (77,492 triệu đồng/ha) là  
4,018 triệu đồng/ha. Các công thức còn lại  
đều có lãi thuần thấp hơn công thức đối  
chứng từ 4,131 - 17,012 triệu đồng/ha.  
* Độ nhớt của dịch thạch:  
Độ nhớt dịch thạch của các công thức dao  
động từ 3,3 - 4,4 cP. Kết quả xử lý thống kê  
cho thấy, công thức 2 có độ nhớt dịch thạch  
đạt 4,4 cP tương đương với công thức 3, cao  
hơn so với công thức đối chứng và công thức  
4 ở mức độ tin cậy 95% .  
4. Kết luận  
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp  
phân bón đến sinh trưởng và năng suất cây  
407  
Nguyễn Văn Thuần và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
225(08): 403 - 408  
[2]. T. M. Nguyen, and V. H. Nguyen, “Study on  
finding the suitable multi-fertilizers for new  
tomato variety VL 2004 in winter - spring  
2008-2009 on one crop season in Huu Lung,  
Lang Son”, TNU Journal of Science and  
Technology, vol. 72, no. 10, pp. 98-105,  
2010.  
[3]. T. P. Mai, “Fertilizing rice in the Mekong  
Delta, which measures to increase the  
efficiency of fertilizer use,” Proceedings of  
Conference on Scientific Research and  
Application of Fertilizers for Rice in the  
Mekong Delta, Institute of Southern  
Agricultural Science and Technology, Hanoi  
Agricultural Publishing House, pp. 107-110,  
2005.  
Thạch đen tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn đã  
xác định được dùng tổ hợp phân bón thứ 2:  
2,5 tấn phân hữu cơ vi sinh + 26 kg N + 24 kg  
P2O5 + 45 kg K2O/ha cho năng suất cây trồng  
cao nhất và hiệu quả kinh tế cao nhất. Cụ thể,  
công thức 2 có độ nhớt dịch thạch đạt 4,4 cP,  
có hàm lượng pectin là 0,7 mg/ml, năng suất  
thân lá đạt 62,67 tấn/ha.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES  
[1]. T. K. O. Le, T. K. Tran, and H. A. De, “Study  
the effects of chemical fertilizer on growth,  
development, yield and quality of stick hybrid  
maize variety HN88 in spring 2013 and 2014  
in Cam Pha – Quang Ninh”, TNU Journal of  
Science and Technology, vol. 126, no. 12, pp.  
27-34, 2014.  
[4]. T. G. Vo, Book of microbial fertilizers,  
University of Can Tho, 2004.  
408  
pdf 6 trang yennguyen 17680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến sinh trưởng và năng suất cây thạch đen tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_anh_huong_cua_to_hop_phan_bon_den_sinh_truong_va.pdf