Phát triển thị trường đồ gỗ của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế: Cơ hội và thách thức

Kinh tế & Chính sách  
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG ĐỒ GỖ CỦA VIỆT NAM  
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC  
Trần Văn Hùng, Vũ Thu Hương  
Phân hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp  
TÓM TẮT  
Bài viết nhằm nêu rõ thực trạng phát triển của thị trường đồ gỗ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế,  
những cơ hội và thách thức phát triển thị trường đồ gỗ của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Kết quả  
nghiên cứu cho thấy, trong những năm vừa qua nhu cầu đồ gỗ thế giới rất lớn và tăng trưởng ổn định trên  
3%/năm, ngành đồ gỗ của Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ và đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận như:  
kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của ngành tăng nhanh; sản phẩm gỗ và đồ gỗ ngày càng phong phú và đa dạng; sản  
phẩm gỗ sản xuất ngày càng có gia tăng cao; được tiêu thụ ở nhiều quốc gia và thị trường lớn trên thế giới;  
nguyên liệu gỗ sử dụng cho sản xuất ngày được tự chủ và có nguồn gốc hợp pháp. Song đồ gỗ và sản phẩm gỗ  
của Việt Nam chỉ mới chiếm một phần nhỏ so với thị phần của thế giới; ngành chế biến gỗ cũng gặp những  
thách thức là phải đối mặt với việc gia tăng xu hướng bảo hộ của Chính phủ các nước đối tác; sản phẩm xuất  
khẩu vẫn chủ yếu là sản phẩm thô; thị trường tiêu thụ nội địa chưa được khai thác triệt để và thiếu những chính  
sách hỗ trợ tiêu thụ nội địa. Bên cạnh đó, bài viết phân tích những cơ hội và thách thức của thị trường đồ gỗ nước  
ta trong bối cảnh hội nhập quốc tế, trên cơ sở đó đề xuất một số khuyến nghị đối với Chính phủ, hiệp hội chế biến  
gỗ Việt Nam, các doanh nghiệp chế biến gỗ nhằm thúc đẩy sự phát triển ngành chế biến gỗ trong thời gian tới.  
Từ khóa: Cơ hội, hội nhập quốc tế, phát triển, thách thức, thị trường đồ gỗ.  
nghiên cứu này tập trung phân tích tình hình  
phát triển thị trường đồ gỗ ở Việt Nam trong bối  
cảnh nền kinh tế hội nhập quốc tế và những cơ  
hội cũng như thách thức đặt ra đối với ngành.  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Ngành chế biến gỗ của Việt Nam đã được  
hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước  
ta. Sản phẩm chế biến không chỉ đáp ứng đủ  
nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu ra nước  
ngoài. Trước năm 1990 Việt Nam đã xuất khẩu  
đồ gỗ chủ yếu sang các nước Đông Âu và Liên  
Xô. Từ sau năm 1990, thị trường xuất khẩu đồ  
gỗ chế biến của nước ta được mở rộng sang  
Mỹ, EU, Nhật Bản, Nga và nhiều nước  
ASEAN. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO,  
đàm phán TPP và AEC đã mở ra nhiều cơ hội  
phát triển cho ngành công nghiệp chế biến gỗ  
của Việt Nam, thu hút được nhiều nhà đầu tư  
nước ngoài. Quy mô và năng lực chế biến của  
ngành tăng nhanh, sản phẩm chế biến được  
tiêu thụ rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Giá  
trị của ngành chế biến gỗ tăng nhanh thể hiện  
sự đóng góp lớn của ngành vào nền kinh tế  
quốc gia. Hiện nay, nhu cầu sử dụng đồ gỗ trên  
thế giới là rất lớn (theo Worlk Bank năm 2018  
tổng giá trị tiêu thụ về gỗ và sản phẩm gỗ của  
thế giới khoảng gần 500 tỷ USD), với tốc độ  
tăng trưởng bình quân đạt khoảng gần  
10%/năm. Đây lại là thị trường có sự tăng  
trưởng khá đều đặn, trừ một số giai đoạn kinh  
tế thế giới khó khăn khiến nhu cầu giảm sút.  
Trong một thị trường quy mô lớn như vậy, sản  
phẩm đồ gỗ nội thất Việt Nam đến năm 2018  
mới chỉ chiếm khoảng 2 - 3% tổng kim ngạch  
xuất khẩu đồ gỗ thế giới. Vì vậy, có thể nói cơ  
hội phát triển cho ngành gỗ chế biến Việt Nam  
trong tương lai còn rất lớn. Chính vì vậy,  
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu là tình hình phát triển  
của thị trường đồ gỗ Việt Nam trong bối cảnh  
hội nhập quốc tế.  
Ngành chế biến gỗ và lâm sản Việt Nam  
bao gồm ngành chế biến gỗ (gỗ và sản phẩm  
gỗ) và lâm sản ngoài gỗ. Trong phạm vi bài  
viết, tác giả tập trung phân tích ngành chế biến  
gỗ xuất khẩu của Việt Nam cơ hội và thách  
thức trong quá trình hội nhập quốc tế.  
2.2. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu  
2.2.1. Dữ liệu nghiên cứu  
Bài viết chủ yếu sử dụng nguồn số liệu thứ  
cấp được thu thập từ Hiệp hội gỗ và Lâm sản  
Việt Nam, Hiệp hội chế biến gỗ Thành phố Hồ  
Chí Minh, Hiệp hội chế biến gỗ Bình Định,  
Tổng cục Hải quan để tổng hợp nhằm sử dụng  
phân tích, đánh giá thực trạng phát triển của thị  
trường đồ gỗ Việt Nam. Cụ thể nguồn số liệu  
về tổng quan thị trường đồ gỗ thế giới, tổng  
quan thị trường đồ gỗ của Việt Nam: về kim  
ngạch xuất khẩu và tốc độ tăng của đồ gỗ và  
sản phẩm gỗ của Việt Nam giai đoạn 2010 -  
2018; về thị trường xuất khẩu và cơ cấu thị  
trường xuất khẩu; về sản phẩm gỗ và đồ gỗ xuất  
khẩu; đối với thị trường trong nước; về nguồn  
nguyên liệu cho cho sản xuất đồ gỗ và sản phẩm  
gỗ của Việt Nam giai đoạn 2010 - 2018.  
158  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
Kinh tế & Chính sách  
(CSIL), năm 2018 tổng sản lượng đồ nội thất  
và đồ gỗ của 100 quốc gia lớn nhất thế giới  
tính theo GDP ước đạt 450 tỷ USD, giá trị  
thương mại đồ gỗ nội thất của thế giới khoảng  
150 tỷ USD và tốc độ tăng trưởng đồ gỗ nội  
thất thế giới dự báo ở mức 3,2%, đây sẽ là điều  
kiện thuận lợi để ngành công nghiệp chế biến  
gỗ có cơ hội mở rộng sản xuất, xuất khẩu sản  
phẩm. Năm 2010 thương mại đồ gỗ nội thất thế  
giới đạt 106 tỷ USD thì tới năm 2015 là 130 tỷ  
USD tăng 22,64% so với năm 2010, đến năm  
2018 con số này là 150 tỷ USD tăng 15,38% so  
với năm 2015 và bình quân giai đoạn 2010-  
2018 thì tốc độ tăng trưởng của đồ gỗ nội thất  
thế giới tăng 5,4%/năm với số liệu được trình  
bày ở hình 1.  
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu  
chủ yếu là kế thừa, thống kê mô tả, phương  
pháp tổng hợp kết hợp với bảng biểu, đồ thị  
minh họa.  
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu định  
tính để phân tích bản chất, tình hình, cơ hội và  
thách thức đối với thị trường đồ gỗ và sản  
phẩm gỗ Việt Nam nhằm xác định cơ hội và  
thách thức của ngành chế biến gỗ xuất khẩu  
trong quá trình hội nhập quốc tế.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Tổng quan về thị trường đồ gỗ thế giới  
Theo dự báo của Ngân hàng thế giới (WB),  
năm 2019 tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ tiếp  
tục giữ vững sự ổn định ở mức 2% đến 3% và  
cũng theo Trung tâm nghiên cứu công nghiệp  
Hình 1. Thương mại đồ gỗ nội thất thế giới giai đoạn 2010-2018  
(Nguồn: CSIL, 2018)  
Đối với tổng sản lượng đồ gỗ nội thất thế  
tiêu thụ đồ gỗ nội thất toàn thế giới được dự  
báo sẽ tăng 3,2% trong năm 2019. Khu vực  
tăng trưởng nhanh nhất tiếp tục là châu Á và  
Thái Bình Dương, các khu vực khác tăng từ  
1% đến 3%.  
giới thì Trung Quốc chiếm 40% sản lượng toàn  
cầu. Hoa Kỳ, nhà sản xuất lớn thứ hai chiếm  
12%, theo sau là Đức (5%), Ý (4%), Ấn Độ  
(4%), Ba Lan (3%), Nhật Bản (2%), Việt Nam  
(2%), Anh (2%) và Canada (2%). Theo dự báo  
Hình 2. Dự báo tiêu thụ đồ gỗ nội thất toàn cầu năm 2019  
(% thay đổi hằng năm theo giá trị thực)  
(Nguồn: CSIL, 2018)  
Hiện nay, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của  
Việt Nam và các sản phẩm gỗ nội thất mới  
chiếm thị phần rất nhỏ trong thị phần toàn cầu.  
Do vậy, có rất nhiều cơ hội để ngành chế biến  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
159  
Kinh tế & Chính sách  
gỗ Việt Nam đầu tư nâng cao năng lực sản  
xuất và mở rộng thị trường xuất khẩu, bên  
cạnh các thị trường truyền thống, sự gia tăng  
tiêu thụ tại các thị trường mới, tiềm năng như  
Hàn Quốc, Canada, Liên minh Kinh tế Á - Âu,  
Trung Nam Á, AEC… mở ra cơ hội cho xuất  
khẩu đồ gỗ của Việt Nam thời gian tới, đặc biệt  
là đồ gỗ nội thất trang trí phong cách cổ điển.  
3.2. Tổng quan thị trường đồ gỗ của Việt Nam  
3.2.1. Về kim ngạch xuất khẩu  
Sản phẩm đồ gỗ của Việt Nam đáp ứng yêu  
cầu tiêu dùng trong nước và phục vụ xuất  
khẩu. Hàng năm sản phẩm của ngành chế biến  
gỗ xuất khẩu mang lại giá trị kim ngạch đáng  
kể, đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách  
nhà nước. Cụ thể, năm 2000 kim ngạch xuất  
khẩu đạt 345 triệu USD đến năm 2005 đạt  
1.562 triệu USD, trong giai đoạn 2000-2007,  
kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam tăng  
mạnh với mức độ tăng trưởng bình quân hàng  
năm vào khoảng trên 20%. Tuy nhiên từ giữa  
năm 2008 do tác động của cuộc khủng hoảng  
tài chính toàn cầu cùng với những khó khăn  
trong nước như thiếu vốn, chi phí lãi vay tăng  
cao, chi phí đầu tư tăng… ngành công nghiệp  
gỗ đã gặp phải rất nhiều khó khăn và đối mặt  
với nguy cơ giảm mạnh tăng trưởng trong  
những năm sau. Kết thúc năm 2008, kim ngạch  
xuất khẩu gỗ đạt 2654 triệu USD, tăng 6% so  
với năm 2007 nhưng chỉ đạt 93,3% kế hoạch  
đề ra trong năm và năm 2009 kim ngạch xuất  
khẩu đồ gỗ giảm 9,79% so với năm 2008.  
Trong năm 2008, Chính phủ đưa ra các biện  
pháp nhằm kìm chế lạm phát và giảm nhập  
siêu. Đây là điều khó khăn đối với ngành gỗ,  
một ngành mà nguyên vật liệu chính chủ yếu  
dựa vào nhập khẩu. Với giá bán không thay đổi  
và có xu hướng giảm trong khi các yếu tố đầu  
vào tác động đến giá thành tăng từ 15%-20% là  
một gánh nặng với các doanh nghiệp. Bên cạnh  
đó, giá dầu tăng dẫn đến giá vận chuyển  
nguyên liệu tăng cao, từ Nam Phi về Việt Nam  
giá vận tải chiếm đến 27% giá gỗ nguyên liệu,  
từ Nam Mỹ là 37% và từ Thái Bình Dương là  
45%… Từ sau tháng 10 năm 2009 thị trường  
xuất khẩu gỗ đã dần phục hồi và tăng trưởng  
cao. Năm 2010 đạt 3.435 triệu USD, tăng gấp  
1,2 lần so với năm 2005 và năm 2013 kim  
ngạch xuất khẩu đạt 5.591 triệu USD, tăng  
2.155,2 triệu USD tức tăng 62,72% so với năm  
2010. Năm 2014 với tốc độ tăng là 11,43% so  
với năm 2013. Năm 2015 kim ngạch của ngành  
đạt 6.899,2 triệu USD tăng 10,74% tương ứng  
với tăng 669,1 triệu USU so với năm 2014.  
Năm 2018, năm thành công lớn của ngành gỗ  
và các sản phẩm gỗ Việt Năm với kim ngạch  
xuất khẩu đạt 8,91 tỷ USD, tăng 16,32% so với  
năm 2017. Trong cả giai đoạn 2010 - 2018, tốc  
độ tăng trưởng xuất khẩu của ngành liên tục  
duy trì ở mức tương đối cao, với tốc độ tăng  
trưởng bình quân giai đoạn này là  
14,77%/năm. Ngành gỗ và các sản phẩm đồ gỗ  
có tốc độ tăng trưởng bình quân năm trên 2 con  
số và đây là thành công lớn cũng như động lực  
thúc đẩy ngành phát triển mạnh mẽ trong thời  
gian tới.  
Hình 3. Kim ngạch xuất khẩu và tốc độ tăng của đồ gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam  
giai đoạn 2010 – 2018  
(Nguồn: VIFORES, FBA Bình Định, HAWA, ForestTrend và Tổng cục Hải quan)  
Theo số liệu Tổng cục Hải quan năm 2018,  
đồ gỗ và các sản phẩm gỗ vẫn là các mặt hàng  
xuất khẩu chủ lực lớn trong mười mặt hàng  
xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sau điện thoại  
160  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
Kinh tế & Chính sách  
các loại & linh kiện (49,08 tỷ USD); hàng dệt  
may (30,49 tỷ USD); máy vi tính, sản phẩm  
điện tử & linh kiện (29,32 tỷ USD); hàng nông  
sản (17,8 tỷ USD); máy móc, thiết bị, dụng cụ  
& phụ tùng (16,55 tỷ USD); giày dép các loại  
(16,24 tỷ USD); gỗ và các sản phẩm gỗ (8,91  
tỷ USD), hàng thủy sản (8,8 tỷ USD); phương  
tiện vận tải và phụ tùng (7,96 tỷ USD) và đứng  
vị trí thứ 10 là máy ảnh, máy quay phim và  
linh kiện (5,24 tỷ USD). Kim ngạch xuất khẩu  
sản phẩm đồ gỗ của nước ta tăng mạnh qua các  
năm với mức tăng bình quân trên 10%/năm  
trong vòng 5 năm qua. Mặc dù vậy, Việt Nam  
chỉ mới đáp ứng được 6% thị phần đồ gỗ và  
lâm sản của thế giới trong khi nhu cầu tiêu thụ  
trên thị trường thế giới là rất lớn.  
Việt Nam. Trên bình diện thế giới, mặc dù có  
sự chênh lệch về số liệu từ các nguồn khác  
nhau, tất cả đều cho thấy Việt Nam nằm trong  
tốp các nước xuất khẩu lớn nhất thế giới, đứng  
vị trí thứ hai châu Á và thứ nhất ở khu vực  
Đông Nam Á. Theo số liệu từ Trung tâm  
nghiên cứu công nghiệp (CSIL), Việt Nam là  
nhà xuất khẩu đồ gỗ lớn thứ 6 thế giới, xuất  
khẩu chiếm tới trên 80% tổng giá trị sản phẩm  
sản xuất ra bởi ngành chế biến gỗ Việt Nam.  
Số liệu từ Trung tâm Thương mại quốc tế ITC  
(Trademap), Tính đến hết năm 2018, Việt Nam  
đã xuất khẩu đồ gỗ đến 171 quốc gia và vùng  
lãnh thổ trên toàn thế giới. 10 quốc gia có kim  
ngạch nhập khẩu đồ gỗ của Việt Nam lớn nhất  
đã chiếm tỷ trọng trên 85% với kim ngạch  
nhập khẩu đều trên 100 triệu USD/mỗi quốc  
gia, trong đó Hoa Kỳ chiếm trên 53% và là  
quốc gia duy nhất có kim ngạch nhập khẩu đồ  
gỗ của Việt Nam trên 1 tỷ USD. Tính tổng cho  
các quốc gia tại khu vực EU, Việt Nam cũng  
đã có giá trị xuất khẩu đồ gỗ vào khu vực này  
gần hơn 1 tỷ USD vào năm 2018, xếp thứ hai  
sau Hoa Kỳ.  
3.2.2. Về thị trường xuất khẩu  
Chế biến gỗ là một trong số ít ngành được  
đánh giá là hội nhập thành công, với kim  
ngạch xuất khẩu tăng nhanh và đóng góp quan  
trọng vào thành tích xuất khẩu của Việt Nam  
và tạo dựng được vị trí trong xuất khẩu đồ gỗ  
toàn cầu. Cụ thể, xuất khẩu đồ gỗ hiện đứng vị  
trí thứ 7 trong 10 ngành xuất khẩu chủ lực của  
Bảng 1. Mười thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam  
qua hai năm 2017 - 2018  
Năm 2017  
Năm 2018  
2018/2017  
Tỷ  
trọng  
(%)  
Tốc độ  
tăng  
(%)  
19,3  
12,2  
0,4  
TT Thị trường  
KNXK  
(1.000USD)  
Tỷ trọng  
(%)  
KNXK  
(1.000USD)  
Chênh lệch  
(1.000USD)  
1
2
3
4
Hoa Kỳ  
Nhật Bản  
Trung Quốc  
Hàn Quốc  
Anh  
3.266.772  
1.022.465  
1.068.081  
665.097  
290.406  
169.259  
158.894  
106.357  
113.826  
54.871  
42,65  
13,35  
13,95  
8,68  
3,79  
2,21  
2,07  
1,39  
1,49  
0,72  
9,70  
100  
3.897.259  
1.147.206  
1.072.353  
937.122  
289.244  
193.124  
166.203  
130.074  
107.679  
102.170  
866.558  
8.908.992  
43,75  
630.487  
124.741  
4.272  
272.025  
-1.162  
23.865  
7.309  
23.717  
-6.147  
12,88  
12,04  
10,52  
3,25  
2,17  
1,87  
1,46  
1,21  
1,15  
9,73  
100  
40,9  
-0,4  
14,1  
4,6  
22,3  
-5,4  
86,2  
16,68  
16,32  
5
6
Úc  
7
8
Ca-na-đa  
Pháp  
9
Đức  
10  
11  
Ma-lai-xi-a  
Khác  
47.299  
123.855  
1.250.263  
742.703  
7.658.729  
Tổng Cộng  
(Nguồn: Tô Xuân Phúc và cộng sự, 2019)  
Năm 2015 ngành chế biến gỗ với kim ngạch  
xuất khẩu 6,899 tỷ USD tăng 10,71% so với  
năm 2014, chiếm 4,3% thị trường toàn cầu và  
thứ 6 của thế giới. Trong năm 2015, kim ngạch  
xuất khẩu sang 5 thị trường chủ lực: Hoa Kỳ,  
Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và Anh đều  
tăng rất mạnh so với năm 2014. Trong đó kim  
ngạch xuất khẩu sang thị trường Hoa Kì đạt  
trên 2,6 tỷ USD tăng 18,26% so với năm 2014  
và chiếm 38,29% trong tổng kim ngạch xuất  
khẩu của cả nước. Trong những thị trường xuất  
khẩu lớn nhất của gỗ và sản phẩm gỗ chủ lực  
của Việt Nam năm 2015, tăng trưởng mạnh mẽ  
nhất là thị trường Hoa Kì với mức tăng là  
12,72% về kim ngạch so với năm 2014 và  
chiếm tỷ trọng 38,29% tổng kim ngạch xuất  
khẩu và tăng 2,43% so với năm 2014. Tiếp đến  
là thị trường Trung Quốc, tăng 12,72% về kim  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
161  
Kinh tế & Chính sách  
ngạch so với năm 2014 và chiếm tỷ trọng  
14,24% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả  
nước. Thị trường Nhật Bản cũng tăng 9,5% so  
với năm 2014. Kim ngạch xuất khầu của ngành  
năm 2016 đạt 7 tỉ USD, chỉ tăng 1,4% so với  
năm 2015 và có thể đây là năm mà ngành có  
tốc độ tăng thấp nhất trong giai đoạn 10 năm  
trở lại đây do thị trường xuất khẩu gặp nhiều  
khó khăn về hàng rào kỹ thuật như sản phẩm  
cần có truy xuất nguồn gốc xuất xứ, tiêu chuẩn  
về nguồn nguyên liệu gỗ hợp pháp, chứng chỉ  
rừng, tiêu chuẩn về môi trường, thuế quan...  
Năm 2017 kim ngạch xuất khẩu của ngành  
tăng 10,01% so với năm 2016.  
năm 2017. Về thị trường xuất khẩu năm 2018,  
xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang thị trường  
Hoa Kỳ tăng trưởng cao, đạt 3,89 tỷ USD, tăng  
19,3% so với năm 2017. Nhật Bản là thị trường  
xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn thứ 2 trong  
năm 2018, đạt 1,147 tỷ USD, tăng 12,2% so  
với năm 2017. Ngoài ra, năm 2018 Việt Nam  
còn xuất khẩu nhiều gỗ và sản phẩm gỗ tới một  
số thị trường khác như: Trung Quốc, Hàn  
Quốc, Anh, Úc, Ca-na-đa... Trong đó, đáng  
chú ý trị giá xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của  
Việt Nam sang thị trường Hàn Quốc đạt 937,1  
triệu USD, tăng 40,9% so với cùng kỳ năm  
2017. Tốc độ tăng trưởng gỗ và sản phẩm gỗ  
sang thị trường Hàn Quốc rất mạnh, điều này  
cho thấy các sản phẩm gỗ của Việt Nam đã đáp  
ứng được nhu cầu tiêu thụ tại thị trường này.  
Theo Tổng cục Hải quan, năm 2018 xuất  
khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 8,91 tỷ USD, tăng  
16,32% so với năm 2017; tính riêng xuất khẩu  
sản phẩm gỗ đạt 6,3 tỷ USD, tăng 9,5% so với  
Hình 4. Cơ cấu thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam năm 2018  
(Nguồn: Tô Xuân Phúc và cộng sự, 2019)  
Về cơ cấu thị trường xuất khẩu: Năm 2018  
cơ cấu thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ  
không có nhiều biến động khi xuất khẩu sang  
hầu hết các thị trường lớn đều tăng so với năm  
2017, trừ xuất khẩu sang Đức, Anh có sự sụt  
giảm nhẹ. Trong đó có năm thị trường chiếm  
kim ngạch lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung  
Quốc, Hàn Quốc và Anh lại chiếm 82,42%  
tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu. Thị trường  
Hoa Kỳ vẫn tiếp tục là thị trường xuất khẩu gỗ  
và sản phẩm gỗ lớn nhất với kim ngạch đạt gần  
3,9 tỷ USD và tăng 19,3% so với năm 2017; kế  
tiếp là thị trường Nhật Bản với mức tăng  
trưởng 12,2% đạt 1,147 tỷ USD. Năm 2018,  
trong khi xuất khẩu sang Hàn Quốc, Úc, Pháp,  
Ma-lai-xi-a tăng mạnh thì xuất khẩu sang  
Trung Quốc và một số nước trong EU lại  
trưởng chậm lại.  
như gỗ xẻ, gỗ xây dựng, đồ mộc, đồ gỗ thủ  
công mỹ nghệ, dăm mảnh, gỗ kết hợp vật liệu  
khác, ván nhân tạo và sản phẩm gỗ từ ván  
nhân tạo, sản phẩm từ lâm sản ngoài gỗ, dăm  
gỗ, ghế ngồi đệm, ghế ngồi loại khác, nội thất  
văn phòng, nội thất nhà bếp, nội thất phòng  
ngủ và các loại khác.  
Ngày nay khi xã hội càng phát triển nhu cầu  
của con người về sản phẩm gỗ ngày càng tăng  
cả về số lượng lẫn chất lượng nhưng nguồn  
nguyên liệu gỗ từ rừng tự nhiên và rừng trồng  
lại có xu hướng cạn kiệt và không đáp ứng đủ  
cho nhu cầu sản xuất chế biến gỗ hiện tại. Điều  
này đòi hỏi ngành chế biến gỗ phải tìm ra sản  
phẩm thay thế hay tận dụng những phần gỗ dư  
thừa từ sản xuất để chế biến và tái chế. Do đó,  
công nghệ ép, nén ra đời tạo ra các sản phẩm  
ván dăm, ván nhân tạo, viên nén, ván ép… mà  
nguồn nguyên liệu được tạo ra từ chấu lúa, xơ  
dừa, gỗ vụn, củi, cành, lá, rễ của các cây gỗ  
được khai thác mà từ trước đến nay không tận  
dụng được. Mở ra một hướng mới cho sản xuất  
và chế biến gỗ mà nguyên liệu chủ yếu dựa  
3.2.3. Về sản phẩm gỗ và đồ gỗ xuất khẩu  
Sản phẩm gỗ của Việt Nam rất đa dạng và  
phong phú về chủng loại cũng như mẫu mã  
đáp ứng nhu cầu trang trí nội và ngoại thất  
phù hợp với nhu cầu của mọi tầng lớp dân cư  
162  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
Kinh tế & Chính sách  
vào rừng tự nhiên hay rừng trồng.  
(giường, tủ, bàn, ghế…) chiếm 51%; đồ gỗ  
ngoài trời chiếm 27%, nguyên liệu thô (chủ  
yếu là dăm gỗ) chiếm 17%; các loại ván nhân  
tạo và ván mỏng khác chiếm 5%.  
- Theo khối lượng sản phẩm: nguyên liệu  
thô (chủ yếu là dăm gỗ) chiếm 62%, sản phẩm  
nội thất (giường, tủ, bàn, ghế…) chiếm 23%,  
đồ gỗ ngoài trời chiếm 13%, các loại ván nhân  
tạo và ván mỏng khác chiếm 12%.  
Mặt hàng chủ yếu của ngành là đồ gỗ nội  
thất, gỗ tròn và xẻ, dăm gỗ, các loại ván và đồ  
gỗ khác. Năm 2018, đồ gỗ nội thất đạt kim  
ngạch 5,23 tỷ chiếm 60,2% tăng 2,66% so với  
năm 2017. Tiếp đến là gỗ tròn và gỗ xẻ năm  
2018 tăng 99,09% với kim ngạch 1,349 tỷ  
USD và là mặt hàng có tốc độ tăng nhanh nhất,  
sản phẩm gỗ khác tăng 56,1% và dăm gỗ tăng  
24,93% so với năm 2017.  
Ngoài ra, để tạo thêm cho sản phẩm gỗ có  
sự đa dạng về mẫu mã, chủng loại, độ bền  
người ta còn thiết kế ra những sản phẩm đồ gỗ  
kết hợp với những kim loại, hợp kim, các sản  
phẩm phụ đính kèm như lục bình, song mây,  
tre nứa hay những vật liệu thay thế khác nhằm  
để tăng tính năng sử dụng của sản phẩm cũng  
như sự đa dạng về chủng loại sản phẩm phục  
vụ nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của thì  
trường trong nước và xuất khẩu.  
Sản phẩm gỗ xuất khẩu chủ yếu của Việt  
Nam là các loại đồ gỗ ngoài trời, nội thất trong  
nhà, dăm gỗ. Theo tổng hợp của Tổng cục Hải  
quan và báo cáo của các Hiệp hội gỗ và Lâm  
sản trong 3 năm trở lại đây tỷ lệ các sản phẩm  
xuất khẩu như sau:  
- Theo giá trị kim ngạch: Sản phẩm nội thất  
Bảng 2. Các mặt hàng đồ gỗ và sản phẩm gỗ chủ yếu của Việt Nam giai đoạn 2015 - 2018  
(ĐVT: triệu USD)  
Tốc độ  
2018/2017  
Giá  
trị  
136  
tăng BQ  
2015-2018  
(%)  
7,66  
43,00  
6,56  
34,70  
-44,12  
10,09  
TT  
Mặt hàng  
2015  
2016  
2017  
2018  
%
1
2
3
4
5
Đồ nội thất  
Gỗ tròn và xẻ  
Dăm gỗ  
SP gỗ khác  
Các loại ván  
Tổng cộng  
4.316  
514  
1.147  
329  
406  
6.712  
4.540  
615  
987  
407  
250  
5.230  
678  
1.073  
506  
172  
7.659  
5.366  
2,60  
1.349  
1.340  
790  
64  
8.909  
671  
267  
99,09  
24,93  
56,10  
-62,90  
16,32  
284  
-108  
6.799  
1.250  
(Nguồn: Tô Xuân Phúc và cộng sự, 2019)  
Về cơ cấu, sản phẩm đồ gỗ nội thất chiếm tỷ  
trọng cao nhất (chiếm trên 60% trong tổng kim  
ngạch xuất khẩu của ngành), tiếp đến là dăm  
gỗ, gỗ tròn và gỗ xẻ. Dăm gỗ là một trong  
những mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhất của  
ngành gỗ Việt Nam. Năm 2018, lượng dăm gỗ  
xuất khẩu đạt gần 10,4 triệu tấn khô, tăng 27%  
so năm 2017. Kim ngạch xuất khẩu đạt 1,34 tỉ  
uSD, tăng 25% so với năm 2017. Trong cơ cấu  
các mặt hàng xuất khẩu đồ gỗ và các sảm  
phẩm gỗ của Việt Nam có xu hướng chuyển  
dịch từ sản phẩm thô, sơ chế sang sản phẩm có  
giá trị gia tăng cao.  
Hình 5. Cơ cấu mặt hàng gỗ và đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2015 - 2018  
(Nguồn: Tô Xuân Phúc và cộng sự, 2019)  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
163  
Kinh tế & Chính sách  
USD/người. Đối tượng tiêu dùng chủ yếu là  
các công trình dự án mới (khoảng 40% trị giá  
tại thị trường nội địa), người dân ở khu vực  
thành thị (30%) và ở nông thôn chỉ đạt mức  
(30%). Hiện tại thị trường đồ gỗ tiêu thụ nội  
địa tại Việt Nam ước tính đạt doanh số 4 tỷ  
USD, với tốc độ tăng trưởng đồ gỗ nội thất  
bình quân trong các năm gần đây khoảng  
8%/năm. Đồ gỗ Việt Nam tại thị trường trong  
nước có ưu thế là giá cả hợp lý, nguồn gốc rõ  
ràng, mẫu mã phù hợp với nhu cầu và thị hiếu  
của người Việt… Bên cạnh đó ngành bất động  
sản đang hồi phục trở lại, kéo theo nhu cầu  
thiết bị nội thất, đồ gỗ cho các công trình cũng  
tăng theo, cho thấy dư địa tăng trưởng của  
ngành gỗ tại nội địa là rất lớn và có tốc độ tăng  
trưởng nhanh trong thời gian tới (VIFORES,  
2018). Đây chính là cơ hội cho các doanh  
nghiệp trong nước khai thác thị trường nội địa.  
Như vậy, có thể thấy nhu cầu thị trường trên  
thế giới là rất lớn, tăng trưởng nhanh và đều  
đặn hằng năm, kinh tế thế giới đang trên đà  
phục hồi, nhu cầu tiêu dùng thị trường trong  
nước của người dân đối với đồ gỗ và sản phẩm  
gỗ ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu  
chi phí tiêu dùng. Hơn nữa, nhu cầu trong nước  
cũng rất lớn nhưng vẫn chưa được sự chú trọng  
của các doanh nghiệp chế biến đồ gỗ trong  
nước. Vậy đây là cơ hội rất lớn đối với các  
doanh nghiệp chế biến gỗ nếu như trong  
tương lai các doanh nghiệp ngành gỗ biết nắm  
lấy cơ hội để chiếm lĩnh thị trường trong và  
ngoài nước.  
3.2.5. Về nguồn nguyên liệu cho cho sản xuất  
Về tổng thể, nguyên liệu phục vụ cho ngành  
chế biến gỗ Việt Nam chủ yếu từ hai nguồn cơ  
bản: nguồn nguyên liệu gỗ trong nước (gỗ tự  
nhiên và gỗ rừng trồng) và nguồn gỗ nguyên  
liệu nhập khẩu. Một điểm rất đặc trưng của  
ngành chế biến gỗ Việt Nam là sản xuất gắn  
chặt với nguồn cung nguyên liệu (gỗ tự nhiên,  
gỗ công nghiệp, các loại lâm sản ngoài gỗ).  
3.2.5.1. Về nguồn cung trong nước  
Theo công bố hiện trạng rừng của Việt Nam  
tính đến ngày 31/12/2018, toàn quốc có  
14.491,3 (1.000 ha) diện tích có rừng; trong  
đó, rừng tự nhiên 10.255,5 (1.000 ha), rừng  
trồng 4.235,8 (1.000 ha) và với tỷ lệ che phủ  
rừng là 41,7% (GSO, 2018).  
3.2.4. Đối với thị trường trong nước  
Cho đến nay chưa có một thống kê đầy đủ  
nào về thị phần của các nhóm cung cấp cho thị  
trường đồ gỗ nội địa Việt Nam. Theo Hội Mỹ  
nghệ và Chế biến gỗ TP. Hồ Chí Minh  
(HAWA), hiện có chưa quá 30 thương hiệu đồ  
gỗ Việt được người tiêu dùng Việt lựa chọn.  
Người tiêu dùng Việt Nam đang ưa dùng sản  
phẩm đồ gỗ nội thất của Đức, Pháp ở phân  
khúc cao cấp hay sản phẩm của Nhật Bản,  
Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan… Thành phố  
Hồ Chí Minh, nơi được coi là tiêu thụ sản  
phẩm nội ngoại thất cao nhất cả nước, thì các  
thương hiệu kinh doanh nội thất lớn như Phố  
Xinh, SB Funiture, Kenli… đều kinh doanh  
sản phẩm nội ngoại thất nhập khẩu từ Châu  
Âu, Thái Lan hay Nhật Bản, Hàn Quốc… Đến  
nay, cả nước có khoảng trên 1000 làng nghề  
truyền thống và các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ,  
khoảng 4.500 doanh nghiệp chế biến gỗ và lâm  
sản, trong đó doanh nghiệp tư nhân chiếm  
95%, trong đó có khoảng 3,5% doanh nghiệp  
có vốn đầu tư trên 50 tỷ đồng. Số doanh nghiệp  
chế biến sản phẩm xuất khẩu trên 1.800 doanh  
nghiệp, tăng hơn 300 doanh nghiệp so với năm  
2017. Trong đó, doanh nghiệp trong nước  
chiếm 65%, còn lại là doanh nghiệp có vốn đầu  
tư hoặc liên kết, liên doanh với doanh nghiệp  
nước ngoài. Số lao động của ngành khoảng  
500.000 lao động trong ngành chế biến, xuất  
khẩu gỗ, lâm sản, trong đó lao động được đào  
tạo, làm việc ổn định chiếm 55 - 60%. Tuy  
nhiên, sản phẩm chế biến gỗ của Việt Nam  
chỉ chiếm 20% thị trường trong nước và 80%  
thị phần trong nước nhập khẩu là do các công  
ty đa quốc gia, công ty có vốn đầu tư nước  
ngoài, đặc biệt là những trong năm gần đây  
sản phẩm của Trung Quốc có mặt ở khắp thị  
trường Việt Nam.  
Việt Nam với quy mô dân số trên 95 triệu  
người, với GDP tăng trưởng kinh tế luôn ổn  
định trên 6 - 7%/năm kể cả ở giai đoạn khó  
khăn, thị trường có qui mô dân số trẻ được cho  
là một thị trường có quy mô đáng kể và nhiều  
triển vọng. Theo kế hoạch hành động phát triển  
thị trường gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam giai  
đoạn 2014-2020 (QĐ số 957/QĐ-BNN-TCLN  
của Bộ NN&PTNN) thì bình quân tiêu dùng đồ  
gỗ trong giai đoạn 2010 - 2015 của Việt Nam  
khoảng 2,2 tỷ USD và khoảng 31,7  
164  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
Kinh tế & Chính sách  
Hình 6. Sản lượng và tốc độ tăng trưởng gỗ khai thác của Việt Nam giai đoạn 2010-2018  
(AgroInfo, GSO - 2018)  
Với mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 11 tỷ  
USD vào năm 2019. Theo tính toán, kim ngạch  
xuất khẩu sản phẩm gỗ tăng thêm 1 tỷ USD thì  
nhu cầu gỗ nguyên liệu tăng thêm khoảng 3,5  
triệu mét khối. Mỗi năm, trong nước khai thác  
khoảng 18 - 19 triệu mét khối gỗ, nhưng chỉ có  
2 - 3 triệu mét khối làm đồ gỗ, còn lại là dăm,  
các loại ván nhân tạo…” (Nguyễn Tôn Quyền,  
2018). Như vậy, nguồn cung gỗ cho doanh  
nghiệp ngành gỗ đang thiếu hụt nghiêm trọng.  
Với diện tích rừng hiện nay nguyên liệu gỗ  
trong nước mới chỉ đáp ứng được 75% nhu  
cầu, còn lại phải nhập khẩu. Cùng với đó, chất  
lượng nguyên liệu gỗ từ rừng trồng trong nước  
còn thấp do khai thác sớm, gỗ còn non, nguồn  
gỗ từ rừng trồng còn thiếu chứng nhận về quản  
lý rừng bền vững… (Bộ NN&PTNN, 2018).  
3.2.5.2. Về nguồn cung gỗ nhập khẩu  
Sản lượng gỗ khai thác không cung ứng đủ  
nhu cầu nguyên liệu phục vụ cho chế biến gỗ  
nên ngành chế biến gỗ Việt Nam phải nhập  
khẩu nguyên liệu từ nước ngoài. Kim ngạch  
nhập khẩu gỗ của Việt Nam liên tục tăng qua  
các năm. Cụ thể, năm 2018, kim ngạch gỗ  
nhập khẩu cho chế biến 2.342,57 triệu USD  
tăng 7,57% so với năm 2017. Các nhóm  
nguyên liệu nhập khẩu là gỗ tròn chiếm 19,8%,  
gỗ xẻ chiếm 39,7%, ván các loại chiếm 24,1%,  
đồ gỗ nội thất chiếm 4,6% và 1,5% là các sản  
phẩm khác vào năm 2018.  
Bảng 3. Giá trị và cơ cấu kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu gỗ của Việt Nam giai đoạn 2015 - 2018  
2015 2016 2017 2018  
Giá trị  
(triệu  
USD)  
Tỷ  
trọng  
(%)  
Giá trị  
(triệu  
USD)  
Giá trị  
(triệu  
USD)  
Tỷ  
trọng  
(%)  
Giá trị  
(triệu  
USD)  
TT  
Mặt hàng  
Tỷ trọng  
(%)  
Tỷ trọng  
(%)  
1
2
3
4
5
Gỗ tròn  
512  
22,7  
51,0  
21,0  
4,1  
537  
29,3  
668  
30,7  
40,4  
23,2  
4,1  
698  
29,8  
Gỗ xẻ  
1.147  
473  
749  
427  
90  
40,9  
23,3  
4,9  
879  
506  
88  
929  
565  
109  
42  
39,7  
24,1  
4,6  
Ván các loại  
Đồ nội thất  
Sản phẩm khác  
Tổng cộng  
92  
27  
1,2  
30  
1,6  
36  
1,6  
1,8  
2.251,17  
100 1.832,43  
100 2.177,70  
100 2.342,57  
100  
(Nguồn: Tô Xuân Phúc và cộng sự, 2019)  
Việt Nam nhập khẩu các mặt hàng gỗ từ  
trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ khác  
nhau, đứng đầu là châu Phi, kế đến Trung  
Quốc, Hoa Kỳ, EU, Campuchia là 5 nguồn  
cung gỗ và sản phẩm gỗ quan trọng nhất cho  
Việt Nam tính về giá trị kim ngạch nhập  
khẩu. Nguồn cung từ Hoa Kỳ chủ yếu là các  
loại gỗ nguyên liệu (tròn, xẻ), nguồn cung từ  
Trung Quốc chủ yếu là các loại ván, trong  
khi nguồn cung từ Campuchia và châu Phi  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
165  
Kinh tế & Chính sách  
chủ yếu là các loài gỗ tự nhiên, bao gồm một  
số loài gỗ quý. Mức độ ổn định của các  
nguồn cung này khác nhau, với Hoa Kỳ và  
Trung Quốc có độ ổn định rất lớn, trong khi  
Campuchia và châu Phi có độ biến động và  
rủi ro về mặt pháp lý rất cao. Điều này ảnh  
hưởng đến việc sản xuất cũng như xuất khẩu  
đồ gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam.  
Hình 7. Sự thay đổi cơ cấu kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu gỗ của Việt Nam giai đoạn 2015 - 2018  
(Nguồn: Tô Xuân Phúc và cộng sự, 2019)  
Kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu gỗ từ các  
nước ngày càng tăng nhanh nhằm đáp ứng cho  
như cầu tiêu dùng và sản xuất của ngành chế  
biến gỗ. Ba mặt hàng chủ lực nhập khẩu vào  
Việt Nam giai đoạn 2015 - 2018 luôn chiếm  
trên 90% tổng giá trị kim ngạch nhập khẩu.  
Tuy nhiên, năm 2015 kim ngạch nhập khẩu gỗ  
tròn chiếm tỷ lệ 22,7% đến năm 2018 chiếm  
tới 29,8%. Kim ngạch gỗ xẻ năm 2015 chiếm  
51% thù đến năm 2018 tỷ lệ này chỉ còn  
39,7%, kim ngạch các loại ván và đồ nội thất  
cũng có xu hướng tăng lên. Qua đó, có thể thấy  
xu hướng là tăng nhập khẩu các nguồn nguyên  
liệu phục vụ sản xuất chế biến và đồng thời gia  
tăng đồ gỗ nội thất phục vụ tiêu dùng nội địa.  
Hình 8. Giá trị và tốc độ tăng xuất nhập khẩu đồ gỗ, Giá trị và tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu  
nguyên liệu gỗ của Việt Nam giai đoạn 2015 - 2018  
(Nguồn: Tô Xuân Phúc và cộng sự, 2019)  
Qua bảng số liệu về kim ngạch xuất nhập  
khẩu của ngành chế biến gỗ cho thấy cán cân  
thương mại giữa xuất và nhập khẩu của ngành  
chế biến gỗ năm 2015 là 2,503 tỷ USD, giai  
đoạn 2015 - 2018 cán cân thương mại luôn  
dương và tăng nhanh cả về số tuyệt đối và  
tương đối, năm 2018 cán cân thương mại của  
ngành dương 6,566 tỷ USD, với tốc độ tăng  
bình quân giai đoạn này là 13,02%/năm. Cho  
thấy sự phát triển của ngành phát triển nhanh và  
có xu hướng tăng ổn định trong thời gian dài.  
3.3. Cơ hội và thách thức phát triển thị  
trường đồ gỗ của Việt Nam trong bối cảnh  
hội nhập quốc tế  
166  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
Kinh tế & Chính sách  
giá trị xuất khẩu đồ gỗ trong thời gian sắp tới.  
Ngành gỗ Việt Nam cũng đang đứng trước  
những thuận lợi lớn của đất nước đó là kinh tế  
vĩ mô ổn định, Nhà nước có những chính sách  
hỗ trợ ngành phát triển như quyết định số  
2728/QĐ-BNN-CB/2012 của Bộ NN&PTNN  
về phê duyệt “quy hoạch công nghiệp chế biến  
gỗ Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến  
năm 2030”, quyết định số 919/QĐ-BNN-  
TCLN, quyết định số 957/QĐ-BNN-TCLN,  
quyết định 1003/QĐ-BNN-CB năm 2014,  
quyết định 889/2013 của Thủ tướng chính phủ  
phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp  
nêu rõ: định hướng chính sách, qui hoạch phát  
triển ngành chế biến gỗ đến năm 2020, tập  
trung gia tăng tỷ lệ rừng kinh tế, phát triển  
rừng sản xuất thành ngành kinh tế quan trọng,  
chuyển cơ cấu xuất khẩu dăm gỗ sang cung  
cấp nguyên liệu cho chế biến gỗ, giảm dần  
nhập khẩu… Ngoài ra, luật Lâm nghiệp có  
hiệu lực từ ngày 1/1/2019 sẽ là cơ sở pháp lý  
quan trọng để Việt Nam tiếp tục triển khai  
chính sách phát triển lâm nghiệp bền vững và  
phát triển ngành gỗ xuất khẩu trong tình hình  
mới, đây là những lực đẩy quan trọng tiến tới  
đảm bảo nguồn nguyên liệu cho ngành gỗ.  
Việt Nam ngày càng hoàn thiện các thể chế,  
các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp như hỗ  
trợ xúc tiến thương mại ở nước ngoài, đăng ký  
bản quyền thương mại, cải cách môi trường  
kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh,  
chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân  
lực cho ngành chế biến gỗ… từ phía Chính phủ  
sẽ tạo điều kiện cho ngành gỗ đẩy mạnh xuất  
khẩu trong thời gian tới.  
3.3.1. Về cơ hội  
Cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ: Nhu cầu  
tiêu thụ của thị trường thế giới về đồ gỗ và các  
sản phẩm đồ gỗ là rất lớn, cuộc chiến tranh  
thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc đang diễn  
ra ngày càng gay gắt, sản phẩm đồ gỗ Trung  
Quốc đang bị kiện chống bán phá giá trên thị  
trường Mỹ làm cho người dân Mỹ có xu hướng  
tẩy chay hàng hóa đồ gỗ do Trung Quốc sản  
xuất tiêu thụ các sản phẩm từ các thị trường  
khác thay thế. Trong nhiều năm gần đây, kim  
ngạch xuất khẩu của ngành đồ gỗ và các sản  
phẩm gỗ tăng cao qua các năm và tăng trưởng  
ở mức hai con số, Việt Nam hiện là nước có ưu  
thế về sản xuất như nguyên liệu hợp pháp,  
tương đối ổn định; nhân công dồi dào, thủ công  
cao; sản phẩm chế biến đa dạng; một số doanh  
nghiệp có khả năng hiện đại hóa cao, phản ứng  
nhanh với hội nhập… đây chính là các động  
lực để ngành phát triển mạnh mẽ.  
Việc Việt Nam đã kết thúc đàm phán 2 hiệp  
định thương mại tự do (AFTA) với Liên minh  
Hải quan Nga-Belarus-Kazakhstan và AFTA  
Việt Nam–Hàn Quốc sẽ tạo ra sự cạnh tranh  
cho hàng nội địa thông qua giảm thuế, thúc đẩy  
đầu tư mở rộng sản xuất, chú trọng công  
nghiệp hỗ trợ… Những cơ hội này còn được  
mở rộng hơn nữa khi Hiệp định đối tác toàn  
diện xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được  
ký kết, FTA Việt Nam – EU (EVFTA) và khi  
Việt Nam đã gia nhập cộng đồng kinh tế  
ASEAN (AEC) vào cuối năm 2015. Đặc biệt  
hơn nữa khi chính phủ Việt Nam ký Hiệp định  
FLEGT VPA thể hiện cam kết của chính phủ  
loại bỏ hoàn toàn gỗ bất hợp pháp ra khỏi tất  
cả các chuỗi cung, bao gồm cả chuỗi cung xuất  
khẩu và tiêu thụ nội địa. Việc tham gia ký kết  
các hiệp định song và đa phương giữa Việt  
Nam với các quốc gia và các khối liên minh  
cũng như tham gia vào thương mại nội khối  
AEC sẽ giúp duy trì và mở rộng thị trường cho  
sản phẩm gỗ Việt Nam đối với các thị trường  
lớn như Mỹ, EU, Australia, Nhật Bản, Trung  
Quốc, Châu Phi, AEC… nâng cao hình ảnh  
quốc gia và thương hiệu cho ngành chế biến  
gỗ. Cùng với đó, nền kinh tế Mỹ, EU, Nhật  
Bản… đang phục hồi nhanh chóng khiến nhu  
cầu nhập khẩu đồ gỗ tăng cao. Việc Hoa Kỳ  
đang tạo áp lực về thuế chống phá giá đối với  
Trung Quốc - quốc gia sản xuất đồ gỗ lớn nhất  
thế giới, cũng tạo điều kiện thuận lợi để gia tăng  
3.3.2. Về thách thức  
Bên cạnh những thuận lợi thì ngành chế  
biến gỗ cũng gặp những thách thức là phải đối  
mặt với việc gia tăng xu hướng bảo hộ của  
Chính phủ các nước đối tác. Thị trường Mỹ có  
luật Lacey, thị trường EU có kế hoạch tăng  
cường thực thi luật đối với gỗ và các sản phẩm  
gỗ nhập khẩu vào các quốc gia nội khối. Cụ  
thể, theo các qui định của FLEGT VPA,  
nguyên liệu dùng để chế biến gỗ phải có nguồn  
gốc xuất xứ, sản phẩm gỗ xuất khẩu sang EU  
phải có chứng nhận chuỗi hành trình sản phẩm,  
không được trộn lẫn các sản phẩm gỗ hợp pháp  
và chưa được xác minh. Chẳng hạn, nếu là gỗ  
rừng trồng tại Việt Nam thì phải được khai  
thác theo đúng luật pháp Việt Nam, hoặc được  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
167  
Kinh tế & Chính sách  
cấp chứng chỉ quản lý rừng của một bên thứ ba  
đáng tin cậy… Để đáp ứng yêu cầu này, doanh  
nghiệp trong ngành phải chuyên nghiệp hóa  
qui trình sản xuất, kinh doanh trên cơ sở tuân  
thủ luật pháp, bảo đảm nguồn gốc sản phẩm.  
Song thực tế phần lớn các doanh nghiệp chế  
biến gỗ nước ta hiện có qui mô vừa và nhỏ,  
thường mua gỗ của dân không lưu lại hồ sơ.  
Các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất đồ xuất  
khẩu phải nhập đến 70 - 80% nguyên liệu gỗ  
nhập khẩu, chi phí nhập khẩu gia tăng và hầu  
như các doanh nghiệp chưa quản lý được toàn  
bộ quá trình vận chuyển gỗ nên khó chứng  
minh được nguồn gốc xuất xứ. Nếu tình trạng  
này kéo dài, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ  
không thể cạnh tranh nổi với những nước trong  
khu vực có khả năng tự cung ứng nguyên liệu  
như Trung Quốc, Malaysia, Indonesia… Xu  
hướng cạnh tranh các nước có xu hướng đặt ra  
các hàng rào kỹ thuật nhằm thắt chặt hơn việc  
quản lý nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm gỗ,  
đòi hỏi các nhà xuất khẩu phải có chứng nhận  
FSC, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường của sản  
phẩm… các rào cản này làm cản trở quá trình  
khai thác, chế biến, làm gia tăng chi phí, khó  
khăn cho việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu,  
thị trường đầu ra đối với ngành chế biến gỗ.  
Mặc dù kim ngạch xuất khẩu lớn, tăng  
trưởng nhanh qua các năm nhưng hệ số lợi  
nhuận và giá trị gia tăng chưa cao mà nguyên  
nhân chính là do các doanh nghiệp chế biến gỗ  
xuất khẩu lệ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập  
khẩu, không chủ động được sản xuất, phụ  
thuộc vào chính sách xuất nhập khẩu gỗ  
nguyên liệu cũng như chính sách tỷ giá làm gia  
tăng chi phí đầu vào. Chính vì vậy ngay từ bây  
giờ các doanh nghiệp ngành gỗ cần phải tập  
trung đầu tư cho vùng nguyên liệu, tận dụng  
nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước, xây  
dựng qui trình sản xuất nguyên liệu gỗ bền  
vững đạt chứng chỉ yêu cầu do Mỹ, EU,  
AEC… đặt ra, đặc biệt chú trọng đối với việc  
đổi mới qui trình công nghệ sản xuất, nâng cao  
chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường xuất  
khẩu… Để chuẩn bị cho sự phát triển của  
ngành thì đòi hỏi phải có sự đầu tư quyết liệt  
của các doanh nghiệp trong ngành cũng như  
cần có sự hỗ trợ đúng lúc, kịp thời để cho  
ngành chế biến gỗ phát triển mạnh và vươn ra  
thế giới.  
chung chưa cao; hiện mới chỉ có khoảng 10%  
doanh nghiệp chế biến gỗ tại Việt Nam đạt tiêu  
chuẩn quốc tế. Mẫu mã sản phẩm đồ gỗ Việt  
Nam còn đơn điệu, chưa thật sự phong phú, đa  
dạng và còn lệ thuộc vào mẫu mã của nước  
ngoài, nên kém sức cạnh tranh. Nhiều doanh  
nghiệp, kể cả doanh nghiệp lớn vẫn chạy theo  
gia công, chưa chú trọng đến việc đầu tư công  
nghệ, đào tạo công nhân kỹ thuật có tay nghề  
cao, thiếu các nhà thiết kế các sản phẩm gỗ mang  
bản sắc riêng nhưng có tính công nghệ cao.  
Trên 90% sản phẩm gỗ Việt Nam phải bán  
qua khâu trung gian và chủ yếu được sản xuất,  
gia công, chế biến theo sự đặt hàng và thiết kế  
mẫu từ khách hàng nước ngoài. Theo Tổng cục  
Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNN), hiện chỉ có  
khoảng 300 doanh nghiệp chế biến gỗ FDI là  
có quy mô lớn, tạo ra khoảng 50% tổng kim  
ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ cả nước. Các  
doanh nghiệp FDI, liên doanh và một số doanh  
nghiệp trong nước có khả năng đầu tư công  
nghệ, thiết bị tiên tiến có khả năng tự sản xuất  
theo thiết kế và có thể tìm kiếm thị trường tiêu  
thụ, nâng cao giá trị gia tăng. Còn lại, phần lớn  
các cơ sở chế biến gỗ có công nghệ, thiết bị  
còn lạc hậu, chưa được đầu tư đúng mức về  
các công đoạn như sấy gỗ, hoàn thiện bề mặt  
sản phẩm...  
Qui mô tiêu thụ của thị trường trong nước  
còn chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có, thị  
trường nội địa đang bị bỏ ngỏ cho các nhà sản  
xuất xuất khẩu các nước láng giềng, đặc biệt là  
các nhà sản xuất đồ gỗ Đông Nam Á (thậm chí  
có số liệu cho rằng đồ gỗ từ Trung Quốc, Đài  
Loan, Hong Kong, Malaysia và Thailand  
chiếm khoảng 80% thị phần đồ gỗ Việt Nam,  
ngành sản xuất nội địa chỉ cung cấp khoảng 10  
- 20% nhu cầu trong nước). Tuy nhiên, trên  
thực tế do không có số liệu thống kê đầy đủ về  
các thị trường, đặc biệt thị trường khu vực  
nông thôn và tiêu dùng cá nhân ở thành thị (nơi  
được cho là sử dụng nhiều đồ gỗ nội địa do thu  
nhập hạn chế, ít khả năng tiêu thụ sản phẩm  
nhập khẩu) nên rất khó xác định chính xác thị  
phần tiêu thụ đồ gỗ nội địa. Hơn nữa, những số  
liệu gián tiếp về lượng tiêu thụ gỗ nguyên liệu  
cho thấy một thực tế khác về thị phần của các  
nhà sản xuất chế biến gỗ nội địa trên thị trường  
Việt Nam có 340 làng nghề gỗ, bình quân mỗi  
năm tiêu thụ gần 1 triệu m3 gỗ nguyên liệu và  
sản phẩm từ các làng nghề này hầu hết chỉ  
Chất lượng mặt hàng gỗ Việt Nam nhìn  
168  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
Kinh tế & Chính sách  
cung cấp cho sản xuất nội địa. Ngoài ra, các  
sản phẩm đồ gỗ xây dựng, gỗ gia dụng (cửa, tủ  
bếp, ván sàn...) hầu hết là sản phẩm nội địa do  
đồ gỗ nước ngoài giá cao, chỉ phù hợp với tầng  
lớp trung thượng lưu. Hiện Việt Nam mới có  
một số ít hệ thống kênh phân phối nội địa, quy  
mô nhỏ. Việc thiếu kênh phân phối là một  
điểm yếu nhất của thị trường đồ gỗ Việt Nam  
hiện nay (VIFORES). Nguyên nhân chính do  
các cửa hàng bán lẻ đồ gỗ phần lớn là độc lập  
theo kiểu bán buôn nhỏ hoặc tự sản tự tiêu,  
chưa có hệ thống kênh phân phối đủ mạnh để  
phủ sóng cả nước và định hướng tiêu dùng nội  
địa. Bên cạnh đó còn thiếu những chính sách  
hỗ trợ phát triển thị trường nội địa.  
trợ các doanh nghiệp chế biến gỗ từ khâu tạo  
nguyên liệu đầu vào, thắt chặt và thực thi luật  
lâm nghiệp, kiểm soát chặt chẽ nguồn gốc  
nguyên liệu gỗ nhập khẩu, chính phủ cần tập  
trung ưu tiên đầu tư vào các khâu như đào tạo  
tay nghề, xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh  
nghiệp tìm kiếm thị trường trong và ngoài  
nước, chú trọng tạo điều kiện để các doanh  
nghiệp khai thác thị trường nội địa, đàm phán  
các hiệp định thương mai tự do đa và song  
phương, kết nối các khâu trong chuỗi cung  
theo hướng tạo sự chuyển đổi đột phá trong mô  
hình phát triển, tiếp tục cải các thể chế, tạo môi  
trường hành lang pháp lý thuận lợi cho các  
doanh nghiệp và kêu gọi đầu tư thúc đẩy ngành  
chế biến gỗ phát triển.  
4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ  
Trong những năm qua ngành công nghiệp  
chế biến gỗ đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ,  
không ngừng tăng nhanh về số lượng, chất  
lượng cũng như chủng loại sản phẩm. Các sản  
phẩm gỗ của Việt Nam không chỉ có uy tín và  
tiêu thụ trong nước mà được tiêu thụ ở hơn 120  
quốc gia trên thế giới với hơn 3.000 mặt hàng  
sản phẩm các loại đưa Việt Nam trở thành một  
trong năm nước có giá trị xuất khẩu đồ gỗ lớn  
nhất thế giới. Mặc dù đạt được nhiều thành tựu  
trong hơn 10 năm vừa qua nhưng ngành chế  
biến gỗ vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém và sự  
phát triển mang tính thiếu bền vững, cụ thể là  
chất lượng sản phẩm sản xuất có giá trị chưa  
cao, thiếu thông tin trên thị trường, thiếu nguồn  
vốn đầu tư và máy móc thiết bị còn lạc hậu và  
tay nghề của người lao động thấp, lao động  
chưa qua đào tạo còn chiếm tỷ trọng lớn, chưa  
có thương hiệu riêng cho sản phẩm, không chủ  
động được nguồn nguyên liệu mà phụ thuộc  
nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập từ bên  
ngoài với khoảng 70 - 80% nhu cầu nguyên  
liệu gỗ của cả nước, sản phẩm bị cáo buộc về  
việc sử dụng nguồn nguyên liệu bất hợp pháp,  
chưa khai thác hết khả năng vốn có để nâng  
cao hiệu quả, hầu hết các doanh nghiệp chế  
biến gỗ đều có quy mô vừa và nhỏ, chưa có sự  
liên kết với nhau… đã khiến các doanh nghiệp  
gặp nhiều khó khăn trong việc cạnh tranh với  
thế giới đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế  
thế giới hiện nay.  
Đối với các Hiệp hội chế biến gỗ cần thu  
thập thông tin về các nguồn cung cấp gỗ  
nguyên liệu hợp pháp, tuyên truyền ý thức  
chấp hành và tuân thủ các qui định của các  
hiệp định mà Việt Nam đã ký kết, thành lập  
các sàn giao dịch gỗ và các sản phẩm gỗ từ  
khâu đầu vào đến khâu đầu ra, tìm kiếm và hỗ  
trợ các doanh nghiệp trong chuyển giao công  
nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, tìm kiếm thị  
trường trong và ngoài nước, xúc tiến thương  
mại… làm cầu nối giữa doanh nghiệp với các  
cơ quan quản lý Nhà nước, cần kịp thời phản  
ánh những kiến nghị, khó khăn, vướng mắc  
trong thực tiễn sản xuất, giúp cho cơ quan quản  
lý nhà nước nắm bắt và có các giải pháp kịp  
thời, tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi  
cho doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu.  
Đối với các doanh nghiệp trong ngành chế  
biến gỗ cần nâng cao nhận thức khi sử dụng  
nguồn nguyên liệu đầu vào hợp pháp, đa dạng  
hóa mẫu mã sản phẩm, tăng cường sản xuất  
các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, tăng  
cường đào tạo và tự đào tạo nguồn nhân lực  
chất lượng cao phục vụ sản xuất, đổi mới dây  
truyền công nghệ, hiện đại hóa công nghệ sản  
xuất, giảm chi phí và nâng cao chất lượng sản  
phẩm, tìm kiếm mở rộng thị trường nước ngoài  
nhằm thúc đẩy xuất khẩu đồng thời đẩy mạnh  
và khai thác tối đa thị trường trong nước, xây  
dựng hình ảnh và thương hiệu, nâng cao năng  
lực sản xuất và hiệu quả kinh doanh.  
Xuất phát từ những thách thức đặt ra đối với  
ngành chế biến gỗ, cần có một số kiến nghị  
như sau:  
Để cho ngành chế biến gỗ phát triển nhanh  
và tăng trưởng bền vững thì cần đòi hỏi có sự  
vào cuộc quyết liệt của Chính phủ và các Hiệp  
hội đóng vai trò hỗ trợ thúc đẩy, tạo môi  
Đối với Chính Phủ cần có các kế hoạch hỗ  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
169  
Kinh tế & Chính sách  
No.II. ISBN 978-967-5221-19-4.  
trường kinh doanh thuận lợi, ngoài ra cũng cần  
có sự nỗ lực của các doanh nghiệp chế biến gỗ  
trong việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nhằm  
đưa sản phẩm đồ gỗ Việt Nam đến tay người  
tiêu dùng trong nước và vươn ra thị trường thế  
giới, thúc đẩy tăng trưởng của ngành ngày  
càng nhanh và phát triển bền vững.  
6. Norchahaya Binti Hashim (2011): “Sustainability  
of Resources For Wood - Based Industry”by WBCSD’s  
Sustainable Forest Products industry (SFPI) working  
group and Bank of America.  
7. Tô Xuân Phúc và cộng sự (2019): “Việt Nam xuất  
nhập khẩu gỗ 2018: Một năm nhìn lại và xu hướng năm  
2019”. Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFORES),  
Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ Thành phố Hồ Chí Minh  
(HAWA), Hội chế biến gỗ tỉnh Bình Dương (BIFA),  
Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định (FPA Bình Định) và  
Tổ chức Forest Trends.  
8. Nguyễn Tôn Quyền (2015), “Thực trạng ngành  
công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam”. Hà Nội: Hiệp hội  
chế biến gỗ Việt Nam.  
9. Trần Văn Thắng và cộng sự (2011): “Thực trạng  
và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh  
nghiệp gỗ Việt Nam” được đăng trên Tạp chí Quản lý  
kinh tế, số 38, 12/2011 ĐH Cần Thơ.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Andrea Sujová1, Petra Hlaváčková1, Katarína  
Marcineková (2015) “ Evaluating the comparetitiveness  
of wood processing industry” DRVNA INDUSTRIJA  
66 (4) 281-288 (2015).  
2. AGROINFO (2018), “Báo cáo thường niên ngành  
gỗ Việt Nam 2018 và triển vọng 2019”, Báo cáo thường  
niên ngành gỗ của Viện Chính sách và Chiến lược - Bộ  
NN&PTNN.  
3. Bộ Công thương: Bản tin thị trường Nông, Lâm,  
Thủy Sản.  
4. Chính Phủ (2019), “Tài liệu báo cáo ngành công  
nghiệp chế biến, xuất khẩu gỗ, lâm sản năm 2018 -  
thành công, bài học kinh nghiệm; giải pháp bứt phá năm  
2019”. Hà Nội, ngày 22/02/2019.  
5. H.Norini and A.R.Rohana (2009) “Wooden furniture  
industry productivity, cost of production for certain selected  
products, primary imput content and policiés for  
sustainability”. PD 192/03 Rev.3 (M) Technical Report  
10. Trang web:  
+ Tổng cục hải quan:  
n/Default.aspx);  
+ Tổng cục thống kê:  
(https://www.gso.gov.vn/xnkhh/)  
DEVELOPING VIETNAM'S WOODEN MARKET IN THE CONTEXT  
OF INTERNATIONAL INTEGRATION:  
OPPORTUNITIES AND CHALLENGES  
Tran Van Hung1, Vu Thu Huong1  
1Vietnam National University of Forestry – Southern campus  
SUMMARY  
The paper aims to clarify the current situation developing of Vietnam's wooden furniture market in the context  
of international integration. The research results show that, in recent years, the world demand for furnitures are  
very large and grows steadily over 3%/year, Vietnam's wooden furniture industry has had a strong development  
and achieved remarkable achievements: export turnover increased rapidly; wooden products and wooden  
furniture are increasingly abundant and diverse; the wooden products with high added value; consumed in  
many countries and major markets around the world; the timber industry is increasingly autonomous in terms  
of production materials and legal timber. But Vietnam's wooden products and wood products account for only a  
small portion of the world market share; the wood processing industry also faces challenges of facing increased  
protectionism by partner governments; export products are still mainly raw products; the domestic consumption  
market has not been fully exploited and there is a lack of policies to support domestic consumption. Besides,  
the article also analyzes the opportunities and challenges of our wooden furniture market in the context of  
international integration. Stemming from all these facts, this article proposes some recommendations to the  
Government, Vietnam wood processing association and wood processing enterprises to promote the  
development of wood processing industry in the coming time.  
Keywords: Challenges, developments, furniture market, international integration, opportunities.  
Ngày nhận bài  
: 23/8/2019  
: 14/10/2019  
: 21/10/2019  
Ngày phản biện  
Ngày quyết định đăng  
170  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
pdf 13 trang yennguyen 17820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phát triển thị trường đồ gỗ của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế: Cơ hội và thách thức", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphat_trien_thi_truong_do_go_cua_viet_nam_trong_boi_canh_hoi.pdf