Nâng cao hiệu quả cho thuê môi trường rừng tại các vườn quốc gia ở miền Bắc Việt Nam

Kinh tế & Chính sách  
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO THUÊ MÔI TRƯỜNG RỪNG TẠI CÁC  
VƯỜN QUỐC GIA Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM  
Bùi Thị Minh Nguyệt, Đoàn Thị Hân, Trần Quang Bảo  
Trường Đại học Lâm nghiệp  
TÓM TẮT  
Việt Nam có tiềm năng lớn về tài nguyên rừng, với nhiều giá trị cả trực tiếp và gián tiếp. Một trong những hình  
thức khai thác giá trị sử dụng gián tiếp của rừng trong thời gian qua là hoạt động cho thuê môi trường rừng.  
Cho thuê môi trường rừng (MTR) để kinh doanh du lịch sinh thái là hoạt động đang được quan tâm hiện nay tại  
các khu rừng của Việt Nam, đặc biệt là tại các Vườn quốc gia (VQG). Tại miền Bắc, số lượng các VQG đang  
thực hiện cho thuê MTR còn rất thấp (3/10 VQG). Với các mô hình cho thuê được nghiên cứu cho thấy, hoạt  
động cho thuê đã góp phần thu hút khách, tăng nguồn thu, giảm sự đầu tư của Nhà nước cho công tác bảo vệ  
rừng, giải quyyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân địa phương, góp phần nâng cao nhận thức của xã hội  
về vai trò của rừng từ đó tăng trách nhiệm bảo vệ và phát triển rừng. Bài báo đã tập trung nghiên cứu 3 mô hình  
cho thuê MTR tại VQG miền Bắc là VQG Ba Vì, VQG Tam Đảo và VQG Hoàng Liên để tổng kết tình hình  
triển khai hoạt động cho thuê MTR, đánh giá thực trạng thực hiện hoạt động cho thuê như diện tích, vị trí thuê,  
mục đích thuê, giá thuê, quản lý sử dụng tiền thuê, hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường từ hoạt động cho thuê  
MTR… Từ đó đề xuất bổ sung, hoàn thiện chính sách và đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt  
động cho thuê MTR tại các VQG ở miền Bắc Việt Nam.  
Từ khóa: Cho thuê môi trường rừng, du lịch sinh thái, môi trường rừng, vườn quốc gia.  
năng về các dịch vụ MTR, việc khai thác các  
giá trị này của rừng hoàn toàn phù hợp với  
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Lâm  
nghiệp, mục tiêu Chiến lược quản lý khu bảo  
tồn, chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn  
2006 - 2020, và các chính sách của Nhà nước;  
(2) Việc khai thác các giá trị dịch vụ MTR  
kinh doanh DLST được thực hiện tương đối đa  
dạng (tự tổ chức, cho thuê, liên doanh liên kết)  
nhưng giá trị thu được chưa tương xứng với  
tiềm năng, chưa thu hút được các thành phần  
khác nhau đầu tư kinh doanh DLST; (3) Mới  
thực hiện cho thuê MTR thông qua đề án thí  
điểm tại một số VQG, nhiều khu rừng đặc  
dụng khác chỉ dừng lại ở chương trình và đề án  
do đây là hình thức hoàn toàn mới ở Việt Nam.  
Với những quy định mới trong Luật Lâm  
nghiệp 2017 và Nghị định số 156/2018/NĐ-CP  
về thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp  
nên nhiều vấn đề đặt ra liên quan đến thuê  
MTR như tăng cường hoạt động cho thuê MTR  
tại các khu rừng có nhiều giá trị dịch vụ MTR,  
kiểm soát hoạt động cho thuê MTR tại khu  
rừng đặc dụng, xác định mức độ tác động, vị  
trí thuê MTR... cần phải được giải quyết để  
nâng cao hiệu quả hoạt động thuê MTR tại các  
VQG của Việt Nam nói chung và VQG miền  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Việt Nam có tiềm năng rất lớn về tài nguyên  
rừng (khoảng trên 2,1 triệu ha rừng đặc dụng;  
4,5 triệu ha rừng phòng hộ và trên 6,7 ha rừng  
sản xuất) (Cục kiểm lâm, 2018). Theo kết quả  
nghiên cứu tổng quan và thực tiễn ở Việt Nam  
cho thấy, rừng có nhiều giá trị khác nhau về cả  
giá trị sử dụng (trực tiếp, gián tiếp) và giá trị  
phi sử dụng. Nhiều nghiên cứu chỉ ra, giá trị sử  
dụng gián tiếp của rừng chiếm từ 60 - 80%  
tổng giá trị kinh tế của rừng tạo ra. Hiện nay,  
các giá trị của rừng tạo ra chưa được khai thác  
một cách phù hợp, chủ yếu mới khai thác được  
giá trị trực tiếp, các giá trị gián tiếp khai thác  
còn khá hạn chế. Một trong các hình thức khai  
thác giá trị sử dụng gián tiếp của rừng là cho  
thuê MTR.  
Để khuyến khích và thúc đẩy hoạt động cho  
thuê MTR, Chính phủ Việt Nam đã ban hành  
nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm tạo cơ  
sở pháp lý cho hoạt động thuê MTR tại các  
khu rừng đặc dụng. Mô hình thí điểm thuê  
MTR trong thời gian qua chủ yếu để kinh  
doanh DLST tại các khu rừng đặc dụng. Sau 5  
năm thực hiện thí điểm cho thuê MTR để kinh  
doanh DLST có một số chú ý như sau: (1) Các  
khu rừng đặc dụng của Việt Nam có nhiều tiềm  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 - 2019  
183  
Kinh tế & Chính sách  
Bắc Việt Nam nói riêng.  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Nội dung nghiên cứu  
- Thực trạng cho thuê MTR tại các VQG  
miền Bắc Việt Nam.  
- Hiệu quả của các mô hình cho thuê MTR  
tại các VQG miền Bắc Việt Nam.  
- Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động  
thuê MTR tại các VQG miền Bắc Việt Nam.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
vị… để vừa đảm bảo mục tiêu bảo tồn, vừa đáp  
ứng được yêu cầu của hoạt động DLST.  
Phương án thuê MTR phải phù hợp với Qui  
hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt.  
Phần diện tích cho thuê MTR chỉ được phép  
phân định bằng bảng, mốc trên hiện trường, mà  
không được phép xây dựng tường bao quanh  
làm ảnh hưởng đến mục tiêu bảo tồn của các  
khu rừng đặc dụng.  
Căn cứ vào khoản a, mục 2, Điều 6 Quy chế  
quản lý các hoạt động DLST tại các VQG, khu  
BTTN ban hành kèm theo Quyết định số  
104/2007/QĐ-BNN ngày 27/12/2007 của Bộ  
NN&PTNT thì các chủ rừng cho các tổ chức,  
cá nhân thuê MTR để kinh doanh DLST kết  
hợp bảo tồn TNTN trong khu vực thuê. Các  
đơn vị thuê MTR bỏ vốn đầu tư thiết lập các  
khu phục vụ DLST trong diện tích được thuê,  
đảm bảo rừng phát triển và bảo tồn bền vững  
khu rừng, tạo không gian cảnh quan cho khách  
thưởng ngoạn và khám phá thiên nhiên, du lịch  
mạo hiểm, vui chơi giải trí gắn với bảo vệ  
rừng. Thiết lập hệ thống dịch vụ phù hợp với  
điều kiện địa hình, đất đai ở mỗi điểm được  
thuê MTR để đầu tư xây dựng theo thiết kế  
được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Các công  
trình phải gắn kết chặt chẽ giữa phát triển rừng  
với DLST, không ảnh hưởng tới cảnh quan và  
không có tác động xấu đến môi trường.  
2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu  
- Thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp  
+ Các báo cáo, thông tin về đặc điểm cơ bản  
của VQG nghiên cứu.  
+ Những báo cáo về hoạt động cho thuê  
MTR ở các VQG khu vực phía Bắc Việt Nam.  
- Phương pháp thu thập số liệu, thông tin  
sơ cấp  
Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu, khảo  
sát mô hình điển hình trên thực tế, phương  
pháp chuyên gia để thu thập thông tin.  
Đối tượng phỏng vấn: cán bộ quản lý tại các  
VQG, đơn vị thuê MTR, các tổ chức có liên  
quan để thu thập thông tin về quan điểm và  
đánh giá của người được hỏi về thực trạng hoạt  
động cho thuê MTR.  
2.2.2. Phương pháp xử lý, phân tích số liệu  
Các số liệu thu thập được kiểm tra và mã  
hóa phục vụ việc nhập và quản lý dữ liệu.  
Các số liệu thu thập sẽ được xử lý và phân  
tích về mặt định tính theo các nội dung  
nghiên cứu.  
Báo cáo áp dụng phương pháp thống kê mô  
tả để phân tích thực trạng các mô hình cho thuê  
môi trường rừng tại VQG miền Bắc Việt Nam.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
Theo Nghị định số 156/2018/NĐ-CP các  
chủ rừng được phép cho các tổ chức, cá nhân  
thuê môi trường rừng kinh doanh DLST, nghỉ  
dưỡng, giải trí theo đề án DLST, nghỉ dưỡng,  
giải trí được phê duyệt.  
3.2. Thực trạng cho thuê môi trường rừng  
tại các VQG miền Bắc Việt Nam  
Việt Nam hiện có 164 VQG và khu bảo tồn  
thiên nhiên với tổng diện tích được quy hoạch  
trên 2,2 triệu ha. Trong đó, có 6 VQG thuộc  
trách nhiệm quản lý của Bộ NN&PTNT, còn  
lại phân cấp cho các tỉnh. Theo Tổng cục lâm  
nghiệp, đến hết năm 2017, cả nước có 61/164  
vườn quốc gia và KBT đã tổ chức kinh doanh  
hoạt động DLST, bao gồm: 25/34 VQG và  
36/133 BTTN. Tổ chức hoạt động DLST theo  
3 hình thức: (i) Tự tổ chức (56 khu); (ii) Liên  
3.1. Cơ sở pháp lý cho thuê môi trường rừng  
tại VQG miền Bắc Việt Nam  
Theo Nghị định số 117/2010/NĐ-CP về tổ  
chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng cho  
phép quy hoạch tại một số phân khu trong  
VQG và khu BTTN phục vụ hoạt động DLST.  
Diện tích cho thuê MTR để kinh doanh DLST  
sẽ được xác định dựa trên căn cứ hiện trạng cụ  
thể ở từng địa điểm, nguyện vọng của chủ  
doanh nghiệp và sự cân đối chung của các đơn  
184  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 - 2019  
Kinh tế & Chính sách  
doanh, liên kết (11 khu) và (iii) Cho thuê MTR  
(13 khu).  
Về các VQG miền Bắc đang thực hiện cho  
thuê tính đến năm 2018 thể hiện trên bảng 1.  
Bảng 1. Các VQG miền Bắc Việt Nam đang thực hiện cho thuê MTR  
Năm thành Diện tích  
lập (ha)  
TT  
Tên VQG (Tỉnh)  
VQG Ba Bể (Bắc Kạn)  
Cho thuê MTR  
1
2
3
4
1992  
1991  
2001  
1986  
10.048,0  
11.462,0  
15.783,0  
15.200,0  
VQG Ba Vì (Hà Nội)  
Đã cho thuê  
VQG Bái Tử Long (Quảng Ninh)  
VQG Cát Bà (Hải Phòng)  
VQG.Cúc Phương (Ninh Bình – Thanh Hóa –  
Hòa Bình)  
5
6
7
1962  
1996  
1986  
22.408,0  
28.509,0  
32.877,3  
VQG Hoàng Liên (Lai Châu - Lào Cai)  
VQG Tam Đảo (Tuyên Quang – Vĩnh Phúc - Thái  
Nguyên)  
Đã cho thuê  
Đã cho thuê  
8
9
VQG Xuân Sơn (Phú Thọ)  
2002  
2003  
1986  
15.048,0  
7.126,0  
VQG Xuân Thuỷ (Nam Định)  
10 VQG Phia Oắc - Phia Đén (Cao Bằng)  
10.593,5  
Nguồn: Tổng hợp  
Trong tổng số 10 VQG ở miền Bắc, có 3  
VQG đã tiến hành cho thuê MTR để thực hiện  
kinh doanh DLST, 7 VQG còn lại chưa tiến  
hành hoạt động cho thuê MTR, có VQG thì  
thực hiện liên doanh liên kết với các đơn vị để  
kinh doanh DLST như: VQG Cát Bà, VQG  
Cúc Phương…  
Trong những năm qua, khi nhận thức được  
vai trò của hoạt động cho thuê MTR, nên một  
số VQG đã và đang tiến hành cho thuê, kết quả  
thực hiện như sau:  
- Diện tích và vị trí cho thuê môi trường rừng  
Hoạt động cho thuê MTR chủ yếu thực hiện  
ở các VQG; Diện tích cho thuê được xác định  
cụ thể cho từng đối tượng căn cứ vào năng lực  
của đơn vị và vị trí thuê. Kết quả cho thấy,  
diện tích cho thuê chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với  
tổng diện tích quản lý của VQG và rất nhỏ so  
với cả diện tích quy hoạch cho thuê MTR.  
Bảng 2. Bảng tổng hợp diện tích cho thuê MTR tại các VQG miền Bắc  
DT có thể  
cho thuê (ha)  
Mục đích  
thuê  
Diện tích đã  
cho thuê (ha)  
TT  
Đơn vị  
Vị trí thuê  
DLST  
1
VQG Ba Vì  
Phân khu phục hồi sinh thái  
523,00  
2.555,20  
Xây dựng  
hệ thống  
cấp nước  
DLST  
2
3
VQG Hoàng Liên Phân khu phục hồi sinh thái  
VQG Tam Đảo Phân khu hành chính- dịch vụ  
976,56  
48,00  
1.703,90  
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của các VQG  
Trong các VQG đang cho thuê MTR, VQG  
Ba Vì là một trong những VQG thực hiện sớm  
nhất theo đề án thí điểm thuê MTR và cũng là  
đơn vị có số lượng doanh nghiệp thuê nhiều  
nhất cả nước hiện nay. Đối với VQG Hoàng  
Liên có nhiều tiềm năng để thu hút các đơn vị  
thuê MTR kinh doanh DLST, nhưng hiện tại  
mới ký xong hợp đồng thuê MTR để xây dựng  
hệ thống cấp nước sạch cho người dân Sa Pa.  
VQG Tam Đảo hoạt động cho thuê MTR kinh  
doanh DLST đã thực hiện tại khu vực suối  
Trường Sinh - Thung lũng Long Vân, thuộc  
phân Khu Dịch vụ - Hành chính. Mục đích  
thuê MTR tại VQG chủ yếu kinh doanh DLST,  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 - 2019  
185  
Kinh tế & Chính sách  
điều này hoàn toàn phù hợp với đối tượng rừng  
có nhiều giá trị du lịch và nhu cầu của xã hội  
hiện đại.  
tùy thuộc vào đặc thù từng vườn, về cơ bản có  
một số tiêu chí như sau: Đơn vị thuê MTR phải  
có phương án kinh doanh DLST phù hợp với  
quy định của pháp luật, có năng lực quản lý và  
khả năng tài chính, có cán bộ chuyên môn  
nghiệp vụ quản lý du lịch, có vốn điều lệ lớn  
hơn kinh phí dự kiến đầu tư vào khu du lịch...  
- Đối tượng thuê môi trường rừng:  
Xác định và lựa chọn đối tượng cho thuê  
được coi là vấn đề quan trọng trong quá trình  
triển khai thực hiện cho thuê MTR tại các  
VQG. Tiêu chí đối với đối tượng thuê MTR  
Bảng 3: Các đơn vị thuê MTR kinh doanh DLST tại VQG đến năm 2018  
Thời hạn Mức độ triển  
VQG  
Đơn vị thuê  
thuê  
khai  
CTCP Tập đoàn XD và DL Bình Minh.  
CTCP Hóa dầu quân đội  
CT công nghệ Việt Mỹ  
50 năm  
50 năm  
50 năm  
Ba Vì  
Đang cho thuê  
Hoàng  
Liên  
Tam Đảo  
Tổng Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu và xây dựng  
Việt Nam  
Công ty cổ phần Trường Giang - Tam Đảo  
50 năm  
50 năm  
Đang cho thuê  
Đang cho thuê  
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo các Vườn quốc gia.  
Đối với VQG Ba Vì, trước khi ký hợp đồng  
về tình hình hoạt động thuê MTR trên địa bàn.  
- Thời gian cho thuê:  
thuê MTR các đơn vị thuê phải ký quỹ tại ngân  
hàng 10% kinh phí dự kiến đầu tư vào khu  
dịch vụ DLST để khẳng định quyết tâm đầu tư  
và được sử dụng dần theo tỷ lệ % vào việc xây  
dựng khu dịch vụ du lịch.  
Bên cạnh việc kinh doanh DLST, VQG Ba  
Vì còn là chủ thể quản lý trong công tác bảo vệ  
và phát triển rừng. Nhằm kiểm soát hoạt động  
của các công ty thuê MTR tránh tác động đến  
tài nguyên rừng, Ban quản lý Vườn đã giao cho  
Hạt kiểm lâm là đơn vị chịu trách nhiệm giám  
sát và tham gia trực tiếp vào công tác cho thuê  
MTR, đồng thời có văn bản báo cáo hàng năm  
Thời hạn cho thuê được quy định phải phù  
hợp với thời gian thuê đất và thời gian thực  
hiện dự án nhưng không quá 50 năm, sau mỗi  
chu kỳ 5 năm, cơ quan chủ quản sẽ xem xét  
quyết định tiếp tục hợp đồng hay không dựa  
trên kết quả đánh giá tác động môi trường và  
việc chấp hành các nguyên tắc đã được thỏa  
thuận. Hiện nay, các đơn vị thuê MTR tại  
VQG Ba Vì được điều chỉnh thời gian xuống  
còn 30 năm.  
- Giá cho thuê:  
Bảng 4: Tổng hợp kết quả tính giá thuê môi trường rừng tại VQG  
VQG  
Đơn vị thuê  
Giá cho thuê (đ/ha/năm)  
KDL Khoang Xanh – Suối Tiên  
KDL Thiên Sơn – Suối Ngà  
KDL Thác Đa  
KDL Ao Vua  
Du lịch Suối Mơ  
691.947  
570.921  
377.856  
632.477  
200.000  
200.000  
Ba Vì  
Du lịch Tiên Sa  
Hoàng Liên  
Tam Đảo  
- Thỏa thuận giữa bên thuê và bên cho thuê  
nhưng không quá 2% doanh thu.  
- Điều chỉnh 5 năm 1 lần  
Các địa điểm cho thuê  
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của các VQG.  
186  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 - 2019  
Kinh tế & Chính sách  
Cơ sở pháp lý tính giá cho thuê MTR: Áp  
dụng thông tư 65/2008/TTLB-BNN-BTC ngày  
26/5/2008 của Bộ NN&PTNT và Bộ Tài chính  
về hướng dẫn thực hiện Nghị định số  
48/2007/NĐ-CP ngày 28/3/2007 của Chính  
Phủ về nguyên tắc và phương pháp xác định  
giá các loại rừng. Để thực hiện cho thuê MTR,  
khó khăn lớn nhất là xác định giá thuê, mỗi  
VQG hiện nay đều có phương pháp xác định  
giá thuê riêng như thành lập ban xây dựng giá  
(VQG Ba Vì), hoặc theo mức giá sàn quy định  
và do 2 bên thỏa thuận nhưng không quá 2%  
doanh thu.  
Việc xác định đơn giá cho thuê cũng dựa  
trên cơ sở các yếu tố về vị trí địa lý, cảnh quan  
thiên nhiên, tài nguyên rừng và đầu tư của nhà  
nước về cơ sở hạ tầng, các công trình lâm  
sinh... các lợi thế văn hóa - xã hội khác trong  
khu vực thời điểm định giá.  
Tại VQG Ba Vì, số lượng khách tăng mạnh từ  
216.050 lượt khách năm 2015 lên 379.830 lượt  
khách vào năm 2017. Doanh thu từ du lịch  
tăng mạnh tại các VQG Ba vì từ 8,3 tỷ năm  
2015 lên 19,6 tỷ năm 2017.  
Đơn vị cho thuê từng bước chủ động được  
một phần nguồn kinh phí thông qua nguồn thu  
từ các dịch vụ DLST, cho thuê MTR để tái đầu  
tư cơ sở hạ tầng, bảo vệ rừng, giảm sự hỗ trợ  
đầu tư từ ngân sách nhà nước. Tại VQG Ba Vì,  
việc cho thuê đã giúp Vườn cắt giảm phần tiền  
khoán QLBVR mà Nhà nước hàng năm phải  
thanh toán cho người nhận khoán, đồng thời  
hình thành nguồn vốn bổ sung cho công tác  
QLBVR tại Vườn. Năm 2008, Vườn có nguồn  
thu từ việc cho thuê 743,4 ha rừng thuộc phân  
khu phục hồi sinh thái là 304,09 triệu  
đồng/năm. Tổng số tiền Vườn thu được sau 4  
năm (năm 2008 - 2011) từ hoạt động cho thuê  
MTR là 1.582 triệu đồng. Việc tăng nguồn thu  
đã giúp Vườn cải thiện đời sống CBCNV và  
giảm kinh phí đầu tư của Nhà nước. Tuy nhiên,  
nguồn thu từ cho thuê MTR còn chiếm tỷ trọng  
nhất nhỏ, không tương xứng với tiềm năng của  
Vườn.  
Hàng năm, tại các đơn vị nhận thuê MTR  
cũng đầu tư hàng trăm triệu đồng để thực hiện  
công tác bảo vệ, phòng cháy chữa cháy. Vì  
vậy, hoạt động BV&PTR của các đơn vị thuê  
MTR đã góp phần duy trì và phát triển nguồn  
tài nguyên rừng tốt hơn. Khi rừng được bảo vệ  
tốt hơn, diện tích rừng tăng lên sẽ góp phần  
hấp dẫn khách du lịch đến với Vườn và các  
khu du lịch. Vì vậy, chính sách "thuê môi  
trường rừng làm DLST" là hướng giải quyết  
tích cực để bảo vệ tài nguyên rừng và tăng khả  
năng khai thác dịch vụ DLST.  
- Phương thức trả tiền thuê:  
Phương thức thanh toán có thể chọn nhiều  
hình thức như thanh toán 1 năm/lần vào quý I  
hàng năm hoặc 1 lần cho cả thời hạn hợp đồng.  
Mỗi VQG áp dụng các phương thức khác  
nhau. Nhưng chủ yếu các VQG thanh toán 1  
năm 1 lần.  
- Quản lý và sử dụng tiền thuê:  
Từ thực tế cho thấy, nguồn thu từ cho thuê  
MTR đa số các VQG đều phải nộp lại ngân  
sách nhà nước. Các đơn vị lập dự toán sử dụng  
tiền thuê MTR theo quy định hiện hành và  
được phê duyệt để sử dụng. Mục đích chính  
vẫn là đầu tư lại cho BV&PTR, cải tạo cảnh  
quan môi trường.  
Tiền thu được từ hoạt thuê MTR dùng cho  
những mục đích nào đều được quy định trong  
văn bản của từng VQG trên quan điểm không  
vi phạm các quy định chung của nhà nước về  
quản lý tài chính và các vấn đề khác.  
- Hiệu quả xã hội:  
Chính sách cho thuê MTR tại VQG đã góp  
phần tạo việc làm cho người dân địa phương  
với thu nhập tương đối ổn định. Bên cạnh đó,  
chính sách cho thuê MTR còn tạo hàng nghìn  
cơ hội việc làm gián tiếp cho người dân địa  
phương như bán hàng, hướng dẫn du lịch, dịch  
vụ ăn uống... giúp người dân tăng thu nhập,  
giảm thiểu sức ép lên môi trường rừng. Tại  
3.3. Hiệu quả cho thuê môi trường rừng tại  
VQG miền Bắc  
- Hiệu quả kinh tế:  
Cho thuê MTR đã góp phần tăng số lượng  
khách đến VQG. Hầu hết các mô hình cho thuê  
cho thấy số lượng du khách đến tham quan  
tăng, cả tại Vườn và các công ty thuê MTR.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 - 2019  
187  
Kinh tế & Chính sách  
VQG Ba Vì cho thuê MTR đã góp phần tạo  
việc làm cho 1576 người dân địa phương với  
thu nhập tương đối ổn định, bao gồm 490  
người lao động trong biên chế thường xuyên  
của các khu DLST với thu nhập bình quân  
1.200.000 - 1.500.000 đồng/người/tháng; 305  
người lao động hợp đồng công việc không  
thường xuyên có thu nhập từ 1.500.000-  
2.000.000 đồng/người/tháng; 781 người làm  
dịch vụ (chụp ảnh, bán đồ, lưu niệm, hàng hóa  
và dịch vụ ăn uống...) có thu nhập bình quân  
600.000 - 800.000 đồng/người/tháng (Báo cáo  
tổng kết đề án thí điểm cho thuê MTR, 2008).  
- Hiệu quả môi trường:  
Sau khi thực hiện chính sách cho thuê MTR  
thì diện tích có rừng tại khu vực đã tăng. Ngoài  
ra, các công ty thuê MTR còn xây dựng hệ  
thống cột mốc, bao gồm: mốc các lô, mốc các  
khu như: khu tác động hoạt động DLST, khu  
bảo vệ nghiêm ngặt, khu được sử dụng xây  
dựng cơ sở hạ tầng phục vụ DLST. Tại VQG  
Ba Vì sau khi thực hiện chính sách cho thuê  
MTR thì diện tích có rừng tại khu vực đã tăng  
40,2% so với ban đầu. Tổng diện tích bị  
chuyển đổi mục đích sử dụng để làm đường  
mòn, điểm nghỉ ngơi dừng chân là 16,2 ha (rất  
nhỏ so với tổng diện tích thuê).  
thuê MTR sẽ được thực hiện trên phần rừng và  
đất rừng thuộc loại hình sở hữu nào. Quy định  
chưa rõ ràng như vậy có thể dẫn đến hệ luỵ là  
rừng thuộc sở hữu tư nhân thì có nhất thiết  
phải thực hiện các quy trình về xây dựng, thẩm  
định, cấp phép với dự án đầu tư… liên quan  
đến thuê MTR hay không;  
+ Mục đích thuê MTR cũng cần phải được  
mở rộng thêm so với quy định trong Nghị định.  
Nếu so với các quy định trước đây thì có sự thu  
hẹp, cụ thể là hoạt động nghiên cứu khoa học,  
đào tạo, sản xuất lâm sản ngoài gỗ dưới tán  
rừng... Nội dung điều 14 Nghị định không xác  
định hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo là  
nội dung của hoạt động thuê MTR mà như là  
hoạt động độc lập. Mặt khác, xuất phát từ thực  
tiễn, hoạt động thuê MTR để trồng cây dược  
liệu, lâm sản khác đã có ở một vài địa phương,  
vì vậy có cần phải bổ sung thêm quy định về  
thuê MTR nhằm thực hiện nhiều mục đích đa  
dạng hơn không? Nhưng mục đích thuê khác  
cần có những quy định gì? có được phép thuê  
không, ở loại rừng nào... cần được tiếp tục  
nghiên cứu.  
+ Thời hạn thuê MTR như trong Nghị định  
là 30 năm. So với các quy định trước đây thời  
hạn quy định trong Nghị định ngắn hơn. Đối  
chiếu với các quy định có liên quan như thời  
hạn thực hiện dự án đầu tư trong Luật Đầu tư,  
thời hạn thuê đất trong quy định của Luật Đất  
đai thì quy định về thời hạn như vậy là chưa  
phù hợp, điều này cũng gây ảnh hưởng đến  
tâm lý của nhà đầu tư khi bỏ vốn đầu tư vào  
một lĩnh vực đang rất cần sự ưu tiên của nhà  
nước. Bên cạnh đó, có những hoạt động chỉ  
khai thác lợi ích, tài sản, tài nguyên có sẵn của  
môi trường để kinh doanh thì thời gian thuê sẽ  
là bao nhiêu? Có cần phải quy định về thời  
gian quá dài cho các tổ chức, cá nhân thuê  
MTR nhưng không cần đầu tư mà chỉ tận dụng  
tài nguyên sẵn có để kinh doanh hay không?  
+ Giá cho thuê như trong Nghị định có phần  
chưa phù hợp, mặc dù đã hợp lý hơn so với  
quy định trước đây, việc quy định giá thuê  
không thấp hơn 1% tổng doanh thu là giá sàn  
quá thấp với mức trung bình. Giá cho thuê  
Kinh tế phát triển, nhận thức của người dân  
được nâng cao, môi trường, cảnh quan trong  
khu du lịch được bảo vệ và tôn tạo.  
3.4. Những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết  
đối với các VQG khi thực hiện cho thuê môi  
trường rừng theo quy định tại Luật Lâm  
nghiệp và Nghị định số 156/2018/NĐ-CP  
Chính sách cho thuê MTR dần được hoàn  
thiện, hiện nay đã được quy định tại Nghị định  
156/2018/NĐ-CP về Hướng dẫn thực hiện một  
số điều của Luật Lâm nghiệp, tuy nhiên các  
quy định còn rất hạn chế, chưa bao trùm đầy  
đủ các nội dung của chính sách cho thuê MTR.  
Một số tồn tại được tổng hợp như sau:  
+ Ngay tại điều 1 của Nghị định - Phạm vi  
điều chỉnh - Nội dung về cho thuê môi trường  
rừng chưa được ghi nhận với tư cách là một nội  
dung quan trọng trong nội dung của Nghị định;  
+ Chưa quy định rõ ràng về hoạt động cho  
188  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 - 2019  
Kinh tế & Chính sách  
MTR của các chủ rừng nên/còn được tính thêm  
mức hệ số phù hợp với từng loại rừng, khu vực  
có rừng, tính đa dạng sinh học, cảnh quan của  
rừng và các giá trị khác… Cần bổ sung thêm  
các quy định về phương thức lựa chọn giá thuê  
đa dạng, phù hợp hơn.  
+ Bên thuê phải có dự án chỉ nên áp dụng  
đối với trường hợp bên thuê là tổ chức trong  
nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài. Đối với cá  
nhân trong nước (mà không thành lập doanh  
nghiệp để thực hiện thuê MTR), hộ gia đình,  
cộng đồng dân cư thì có thể chỉ cần bản đề án  
mô tả hoạt động triển khai, quản lý, khai thác  
dịch vụ MTR (hoặc thậm chí chỉ cần những  
cam kết trong Hợp đồng là đủ, bởi đối tượng  
này thường chỉ chọn lĩnh vực riêng lẻ để thực  
hiện việc thuê MTR).  
DLST nhằm khai thác tốt cảnh quan thiên  
nhiên nhưng vẫn đảm bảo tính toàn vẹn, bền  
vững hệ sinh thái tự nhiên tại VQG.  
Ưu tiên đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng bao  
gồm cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao  
thông và nâng cấp các tuyến đường đến các  
điểm du lịch của VQG để tạo thuận lợi phát  
triển DLST.  
Đơn giản hóa các thủ tục hành chính để thu  
hút được các nhà đầu tư; hỗ trợ các nhà đầu tư  
trong quá trình hoàn thành thủ tục đầu tư.  
Khuyến khích thực hiện xã hội hóa đầu tư; bảo  
vệ, tôn tạo di tích, thắng cảnh; bảo tồn và phục  
dựng các lễ hội, hoạt động văn hóa dân gian,  
các làng nghề phục vụ phát triển du lịch.  
4. KẾT LUẬN  
Trong điều kiện các nguồn tài chính cần  
thiết cho công tác quản lý bảo vệ tài nguyên  
rừng, bảo vệ môi trường hạn chế, tiềm năng  
phát triển du lịch tại VQG rất lớn. Việc cho  
thuê môi trường rừng để kinh doanh DLST là  
cần thiết và có cơ sở để thực hiện. Điều cần  
thiết là cần phải có các tiêu chí rõ ràng, có sự  
ràng buộc trách nhiệm của các bên liên quan  
trong việc khai thác, hưởng lợi các lợi ích từ  
rừng. Các quy định cần thiết liên quan đến thuê  
MTR như loại rừng, vị trí thuê, diện tích thuê,  
mục đích thuê, giá thuê, quản lý sử dụng tiền  
thuê... cần hết sức rõ ràng, minh bạch và công  
khai. Để hạn chế được điều này, cần phải có  
một hành lang pháp lý chi tiết điều chỉnh hoạt  
động cho thuê MTR. Bên cạnh đó, vai trò của  
chủ rừng rất quan trọng trong việc thúc đẩy các  
hoạt động thuê MTR như tính chủ động của  
chủ rừng, tình hình hoàn thiện các thủ tục cần  
thiết để thực hiện cho thuê MTR…  
+ Để đảm bảo triển khai được chính sách  
trong thực tế cần có những hướng dẫn cụ thể,  
tăng cường công tác kiểm tra giám sát, sự phối  
hợp của các bên liên quan.  
+ Các mô hình cho thuê cần được nghiên  
cứu và nhân rộng, đây là những mô hình thực  
tiễn để các đối tượng khác nhau quan tâm tham  
khảo. Bên cạnh đó cần tiếp tục có những đề án  
thí điểm cho thuê MTR khác để khai thác đầy  
đủ giá trị của rừng.  
3.5. Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu  
quả thuê MTR tại VQG miền Bắc  
Hoàn thiện hệ thống chính sách, thủ tục và  
tiêu chí liên quan đến thuê MTR nhằm tạo cơ  
sở pháp lý đầy đủ cho hoạt động thuê MTR.  
Các VQG cần chủ động trong việc rà soát  
quy hoạch, lập đề án phát triển DLST tránh  
ảnh hưởng đến những tính đa dạng, tự nhiên,  
đặc trưng của VQG. Tránh tình trạng khi có  
đơn vị thuê mới tiến hành thực hiện sẽ gây mất  
thời gian, ảnh hưởng đến quyết định đầu tư.  
Thực hiện các biện pháp để quản bá hình  
ảnh của VQG, công khai trên các phương tiện  
về các đề án phát triển DLST, công khai vị trí,  
diện tích, giá thuê để các nhà đầu tư quan tâm  
có đầy đủ thông tin.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2008).  
Báo cáo hoạt động thuê môi trường rừng để kinh doanh  
du lịch sinh thái tại các khu rừng đặc dụng. Hà Nội.  
2. Bộ nông nghiệp & phát triển nông thôn (2007),  
Quyết định số 104/2007/QĐ-BNN, ngày 27/12/2007 của  
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về  
quy chế quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các  
Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, Hà Nội.  
3. Cục Kiểm lâm (2008), Báo cáo tổng kết đề án thí  
Xây dựng và củng cố các tuyến, điểm  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 - 2019  
189  
Kinh tế & Chính sách  
điểm sử dụng môi trường rừng đặc dụng để phát triển  
du lịch sinh thái và giáo dục hướng nghiệp tại VQG Ba  
Vì, Hà Nội.  
4. Phạm Trung Lương (2002), Du lịch sinh thái:  
Những vấn đề về lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt  
Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội.  
môi trường rừng tại các VQG ở khu vực phía Bắc Việt  
nam, nghiên cứu tại VQG Ba Vì, Tam Đảo, Bến En”. Báo  
cáo Luận án tiến sỹ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.  
6. Bùi Thị Minh Nguyệt và nhóm nghiên cứu  
(2018), Nghiên cứu, đánh giá thực trạng các mô hình  
làm cơ sởđề xuất chính sách cho thuê MTR ở Việt Nam,  
Đề tài cấp bộ.  
5. Bùi Thị Minh Nguyệt (2013). “Chính sách thuê  
ENHANCING THE EFFICIENCY OF FOREST ENVIRONMENT LEASE  
IN NATIONAL PARKS IN NORTH VIETNAM  
Bui Thi Minh Nguyet, Doan Thi Han, Tran Quang Bao  
Vietnam National University of Forestry  
SUMMARY  
Vietnam has great potential for forest resources, with many values both direct and indirect. One of the forms of  
exploiting the value of indirect use of forests in the past is the forest environment leasing activity. Forest  
environmental leasing (FEL) for ecotourism business is currently an active activity in Vietnam's forests,  
especially in National Parks (NPs). In the North, the number of national parks currently under lease for FEL is  
very low (3/10 NPs). With the forest environmental leasing models studied, leasing activities have contributed  
to attracting customers, increasing revenues, reducing the State's investment in forest protection, job creation  
and income increase local people, contributing to raising social awareness about the role of forests, thereby  
increasing the responsibility of forest protection and development. The paper focused on 3 models of FEL in  
Ba Vi National Park, Tam Dao National Park and Hoang Lien National Park to review the situation of  
implementing FEL activities, assess the actual status of leasing activities as leasing area, location for lease,  
leasing purpose, leasing price, management of leasing money, economic, social and environmental benefits  
from FEL activities. Since then, it is recommended to supplement, improve policies and provide some solutions  
to improve the efficiency of FEL activities in the National Parks in Northern Vietnam.  
Keywords: Ecotourism, forest environment, forest environment lease, national park.  
Ngày nhận bài  
: 21/02/2019  
: 29/5/2019  
: 05/6/2019  
Ngày phản biện  
Ngày quyết định đăng  
190  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 - 2019  
pdf 8 trang yennguyen 11580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nâng cao hiệu quả cho thuê môi trường rừng tại các vườn quốc gia ở miền Bắc Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnang_cao_hieu_qua_cho_thue_moi_truong_rung_tai_cac_vuon_quoc.pdf