Phục hồi và quản lý rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng tại huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa

BÀI BÁO KHOA HỌC  
PHỤC HỒI VÀ QUẢN LÝ RỪNG NGẬP MẶN DỰA VÀO  
CỘNG ĐỒNG TẠI HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA  
Nguyễn Thị Kim Cúc1, Hà Thị Hiền1  
Tóm tắt: Hệ sinh thái rừng ngập mặn (RNM) tồn tại ở vùng chuyển tiếp giữa môi trường biển và đất  
liền. Tuy vậy, cũng như nhiều nơi trên thế giới, rừng ngập mặn tại xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh  
Thanh Hóa đã bị chặt phá nghiêm trọng. Hậu quả là cơn bão Damrey năm 2005 đã quét qua đê biển  
gây hậu quả nghiêm trọng đến đời sống xã hội và kinh tế của người dân. Nhận thức được những vai trò  
đó, một diện tích 200 ha RNM đã được phục hồi tại vùng ven biển xã Đa Lộc với phương thức quản lý  
dựa vào cộng đồng. Kết quả nghiên cứu cho thấy 100% số người tham gia đánh giá này đều có nhận xét  
tích cực về hiệu quả của hoạt động trồng, phục hồi và bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng tại địa phương.  
Về mặt môi trường, 97% người dân cho biết thiệt hại từ bão ít hơn kể từ khi có rừng trở lại. Xét về yếu  
tố phát triển kinh tế, có 57% người dân cho biết thu nhập của họ đã tăng lên kể từ khi rừng ngập mặn  
được phục hồi với giá trị kinh tế mang lại từ RNM là 65 triệu đồng/ha/năm. Hoạt động phục hồi RNM  
dựa vào cộng đồng đã đem lại những hiệu quả về mặt kinh tế - xã hội cho cộng đồng địa phương có  
rừng và những bài học bổ ích trong quản lý RNM.  
Từ khóa: rừng ngập mặn, phục hồi rừng ngập mặn, dựa vào cộng đồng  
*
RNM đã được trồng lại để bảo vệ an toàn bờ biển,  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Rừng ngập mặn là hệ sinh thái nằm ở vùng duy trì đa dạng sinh học, đồng thời mang lại sinh  
chuyển tiếp giữa đất liền và biển. Rừng được biết kế cho người dân địa phương (CARE, 2008). Tại  
đến là một hệ sinh thái hết sức quan trọng, cung xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc, cơn bão Damrey năm  
cấp các dịch vụ cho nhu cầu cuộc sống của cộng 2005 đã quét qua đê biển và làm ngập các ngôi  
đồng dân cư ven biển thông qua chức năng cung làng ven biển. Sự tàn phá đối với môi trường nông  
cấp, chức năng điều chỉnh, chức năng thông tin và nghiệp là rất nghiêm trọng, đất trồng bị axit hóa  
chức năng hỗ trợ (Cúc và Erik, 2013; Alongi, do sự tích tụ muối và không thể trồng trọt được  
2008, 2009; Millenium Ecosystem Assessment, trong nhiều năm. Người dân địa phương phải rời  
2005; Phan Nguyên Hồng, 1999). Như vậy, duy khỏi cộng đồng để tìm kiếm công việc được trả  
trì và phát triển hệ sinh thái RNM được coi là một lương ở nơi khác. Các ảnh hưởng kéo dài này có  
trong những giải pháp thích nghi và giảm thiểu tác tác động đến ổn định xã hội. Sau cơn bão, người  
động của biến đổi khí hậu (Cúc và Erik, 2013).  
dân địa phương, chính quyền và các cơ quan viện  
Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, trợ đã nhận ra một bài học rõ ràng về chức năng  
rừng ngập mặn đã bị chặt bỏ để nhường chỗ cho và giá trị của rừng ngập mặn. Những nơi rừng  
mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các dự ngập mặn còn được bảo vệ nguyên vẹn hoặc chỉ  
án cơ sở hạ tầng, du lịch và nuôi trồng thủy sản. mới được trồng khoảng 10 năm trước, đê biển  
Tuy nhiên, trước các thảm họa thiên nhiên gần không bị hư hại và do đó các vùng đất canh tác lúa  
đây và mối đe dọa ngày càng tăng đối với sự phát và hoa màu của người dân được bảo vệ.  
triển bền vững của các vùng ven biển từ biến đổi  
Nhận thức được vai trò quan trọng của RNM,  
khí hậu, các chương trình trồng và tái sinh rừng với sự hỗ trợ của một số tổ chức phi chính phủ,  
ngập mặn đã được quan tâm. Nhiều diện tích chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương đã  
nỗ lực phục hồi và bảo vệ RNM. Mục tiêu của  
nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả từ hoạt động  
1 Khoa Hóa và Môi trường, Trường Đại học Thủy lợi  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 69 (6/2020)  
43  
phục hồi và bảo vệ RNM tại xã Đa Lộc, huyện  
Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.  
2. ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
Rừng ngập mặn mới trồng đang phát triển tốt.  
Sự tồn tại và phát triển lâu dài của diện tích rừng  
trồng này sẽ phụ thuộc vào hành động của người  
dân địa phương và điều kiện môi trường, khí hậu.  
Rừng ngập mặn vẫn dễ bị ảnh hưởng bởi thời tiết  
2.1. Địa điểm nghiên cứu  
Xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa có như nhiệt độ thấp vào mùa đông, nhiệt độ quá cao  
khoảng 300 ha rừng ngập mặn (IFRC, 2010). và mùa hè, hoặc bão ven biển, đặc biệt là các khu  
Người dân địa phương sinh sống chủ yếu dựa vào vực rừng được trồng lại vào năm 2009-2012. Mặc  
sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, một dù một số người dân địa phương tin rằng, diện tích  
bộ phận người dân làm lao động tự do ở một số rừng trồng vẫn thực sự đảm nhận vai trò là hàng  
thành phố lớn. Rừng ngập mặn ở đây chủ yếu là rào chắn sóng bảo vệ cho đê biển, người dân và  
rừng trồng từ các chương trình quốc gia hoặc các chính quyền địa phương mong muốn có thêm nhiều  
tổ chức phi chính phủ với mục tiêu phục hồi rừng diện tích rừng được trồng và tăng mức độ đa dạng  
ngập mặn và cải thiện sinh kế cho người dân địa tầng, tán và thành phần loài. Trong các diện tích  
phương. Hiện nay, rừng ngập mặn chưa chính rừng ngập mặn đã trồng, rừng 13 năm tuổi đã phần  
thức giao cho xã và thôn quản lý. Tuy nhiên, xã nào đảm nhận nhiệm vụ chắn sóng vùng bờ biển và  
vẫn giám sát các hoạt động liên quan đến quản lý thúc đẩy đa dạng sinh học, tăng thu nhập và cải  
và phát triển rừng ngập mặn.  
thiện sinh kế của một bộ phận dân cư địa phương.  
Cộng đồng (ở đây được định nghĩa là cư dân  
Mục đích của hoạt động phục hồi rừng ngập mặn  
là trồng lại 200 ha rừng Trang (Kandelia obovata; thuộc 06 thôn nghiên cứu trong xã Đa Lộc) có vai  
trồng năm 2007-2008) để bảo vệ đê biển ở xã Đa trò quan trọng trong quản lý và bảo vệ rừng ngập  
Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, với các lợi ích mặn. Ban quản lý cộng đồng (BQLCĐ) chịu trách  
của phục hồi sinh thái là cải thiện sinh kế liên quan nhiệm hàng ngày về việc tổ chức người dân địa  
đến phục hồi đa dạng sinh học dưới dạng thủy sản phương thành các nhóm khác nhau cho hoạt động  
ven biển và các sản phẩm biển khác (Hình 1). Sau ươm, trồng, duy trì và bảo vệ rừng. Gần đây, thành  
đó, cây Bần (Sonneratia caseolris) đã được trồng viên Ban quản lý cộng đồng đã được cấp huyện phê  
xen vào diện tích đã trồng cây Trang làm tăng đa duyệt để quản lý và hưởng lợi từ rừng ngập mặn.  
dạng về tầng tán và đa dạng loài thực vật trong vùng.  
Rừng ngập mặn được phân loại là Rừng phòng hộ  
và do đó là tài nguyên thuộc sở hữu nhà nước. Người  
dân địa phương, bao gồm đại đa số không thuộc  
BQLCĐ, có sự quan tâm và nhiệt tình thực sự đối với  
dự án và tự hào thừa nhận rằng họ quản lý và bảo vệ  
rừng ngập mặn của họ. Cộng đồng không được trao  
quyền sở hữu rừng. Đó là một thách thức trong việc  
đưa ra các quyết định quan trọng liên quanđến rừng.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu đánh giá được thực hiện cuối năm  
2019. Nhóm nghiên cứu tiến hành phương pháp  
nghiên cứu định tính kết hợp định lượng dựa trên  
các bảng phỏng vấn, thảo luận nhóm và thảo luận  
với cán bộ chính quyền và ban ngành liên quan tại  
địa phương (JICA, 2016). Có bốn hình thức phỏng  
vấn và thảo luận được thực hiện trong quá trình khảo  
sát thực địa bao gồm:  
1. Biểu mẫu tự đánh giá: một biểu gồm sáu  
phần được gửi tới cán bộ địa phương và thành  
Hình 1. Bản đồ vị trí nghiên cứu tại xã Đa Lộc,  
huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 69 (6/2020)  
44  
viên của BQLCĐ, nhằm tìm kiếm phản hồi của họ  
về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và mối đe dọa  
iii) Mô tả tất cả các nguồn sinh kế hiện tại;  
iv) Xếp hạng các nguồn sinh kế / thu nhập này  
liên quan đến việc phục hồi và quản lý rừng ngập theo mức độ quan trọng đối với toàn thôn;  
mặn tại địa phương. Kết quả thảo luận, phỏng vấn được xây dựng  
2. Câu hỏi cộng đồng: một bộ gồm tám câu hỏi theo Sổ tay hướng dẫn Phát triển cộng đồng do Cơ  
trắc nghiệm được gửi tới 100 người dân địa phương quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản hỗ trợ và hợp tác  
tại sáu thôn để cung cấp thông tin tổng quát quan với các Cơ quan, địa phương của Việt Nam (JICA,  
điểm địa phương về rừng ngập mặn đã được phục 2016). Các số liệu được thu thập và xử lý trên  
hồi và phương pháp quản lý.  
phần mềm excel.  
3. Phỏng vấn cộng đồng: 24 cuộc phỏng vấn kéo  
dài từ 30 đến 60 phút đã được thực hiện tại sáu thôn.  
Các cuộc phỏng vấn cho phép nhóm đánh giá có  
được thông tin chi tiết về vai trò của việc phục hồi  
và quản lý rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng.  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ  
THẢO LUẬN  
3.1. Đánh giá của cán bộ địa phương và ban  
quản lý cộng đồng  
Kết quả tổng hợp cho thấy 95% những người  
4. Thảo luận nhóm: 06 nhóm thảo luận, mỗi được hỏi trả lời cho rằng hoạt động phục hồi và  
nhóm gồm 10 người tham gia từ mỗi thôn. Các bảo vệ rừng đã và đang được thực hiện tốt, 5%  
thành viên tham dự ngẫu nhiên, có quan tâm đến còn lại cho rằng rất tốt (Bảng 1). Điều quan trọng  
sự cân bằng giới tính và một loạt độ tuổi và mức nhất là hoạt động đã nhận được các phản hồi tích  
độ tham gia vào hoạt động quản lý rừng ngập mặn cực. Hầu hết thành viên của ban quản lý dựa vào  
dựa vào cộng đồng. Những người tham gia được cộng đồng là những người được bầu chọn. Họ đã  
yêu cầu thực hiện bốn nhiệm vụ sau đây:  
có kinh nghiệm và từng tham gia một số các hoạt  
i) Mô tả tất cả các nguồn sinh kế sau cơn bão động tương tự. Tuy nhiên, trong số những người  
năm 2005 nhưng trước hoạt động phục hồi rừng được hỏi, ~ 37% số người còn bàng quan trước  
ngập mặn;  
ii) Xếp hạng các nguồn sinh kế / thu nhập này chung, cán bộ địa phương và BQLCĐ được coi là  
theo mức độ quan trọng đối với toàn thôn; nhiệt tâm với hoạt động phục hồi rừng.  
hoạt động phục hồi rừng tại địa phương. Nhìn  
Bảng 1. Kết quả đánh giá của cán bộ địa phương và BQLCĐ  
Câu hỏi  
Tổng số  
%
Rất tệ  
Tệ  
Trung bình  
Tốt  
0
0
0
19  
1
0
0
0
1, Ông/Bà đánh giá như nào  
về hoạt động phục hồi và bảo  
vệ rừng ngập mặn tại địa  
phương?  
95,00  
5,00  
Rất tốt  
i) tham gia/được truyền thông về hoạt động  
ii) hoạt động được tổ chức bài bản  
iii)Tỷ lệ sống của cây trồng  
i) tham gia/được truyền thông về hoạt động  
10  
7
9
14  
1
38,46  
26,92  
34,62  
66,67  
4,76  
2. Hay cho biết lý do Ông/Bà  
đưa ra câu trả lời trên?  
3. Hay cho biết những điểm  
mạnh của hoạt động phục hồi  
và bảo vệ rừng ở địa phương?  
ii) Tập trung vào tăng sinh kế  
iii) Hoạt động đúng thời điểm (sau trận bão kỷ  
lục tại địa phương)  
6
5
4
28,57  
26,32  
21,05  
i)Hoạt động truyền thông, tập huấn, còn hạn chế  
ii) Cần nhóm quan trắc và đánh giá  
iii) Một số người dẫn vẫn chưa nhận thức được  
vai trò của rừng ngập mặn  
4. Những điểm yếu của hoạt  
động phục hồi và bảo vệ rừng  
ngập mặn ở địa phương?  
7
3
36,84  
15,79  
iv) Một số hoạt động còn chậm so với kế hoạch  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 69 (6/2020)  
45  
Câu hỏi  
Tổng số  
%
i)Sự đồng thuận và hỗ trợ của chính quyền địa  
phương  
ii) Sự sẵn lòng tham gia của cộng đồng địa  
phương  
9
29,03  
51,61  
5. Những nhân tố khách quan  
giúp hoạt động thành công  
16  
iii) Hiểu biết và kinh nghiệm trồng rừng của  
người dân  
5
1
16,13  
3,23  
6,52  
8,70  
4,78  
iv) Đúng thời điểm  
6. Những nhân tố khách quan  
làm giảm hiệu quả của hoạt  
động?  
i) Thời tiết  
ii) Côn trùng: Hà, sâu đục thân  
iii) Mốt số người dân không đồng lòng  
13  
2
8
Thời điểm khởi động các hoạt động trồng rừng phục hồi rừng ngập mặn ở địa phương. Trung bình,  
tại xã Đa Lộc (2007-2008) là điểm thuận lợi của mỗi hộ gia đình sẵn sàng đóng góp tương đương với  
hoạt động phục hồi rừng tại đây. Cơn bão năm 10.000 VNĐ/hộ gia đình/năm cho việc trồng và  
2005 đã gây hậu quả nghiêm trọng đến đời sống quản lý rừng ngập mặn ở địa phương.  
và sinh hoạt của cộng đồng. Vì vậy, việc khởi  
Nhìn chung, theo đánh giá của cán bộ địa phương  
động hoạt động phục hồi rừng ngay sau cơn bão và ban quản lý cộng đồng cho thấy, hoạt động phục  
đã thu hút được sự quan tâm và đồng lòng của cả hồi và bảo vệ rừng ngập mặn tại xã Đa Lộc đã và  
chính quyền các cấp và cộng đồng dân cư. Ngoài đang được thực hiện rất nhịp nhàng và bài bản, có sự  
ra, việc tiếp cận thực hiện hoạt động dựa vào cộng đồng thuận cao giữa người dân và chính quyền.  
đồng cũng là một điểm sáng dẫn đến thành công Hoạt động này được kỳ vọng sẽ tiếp tục phát triển  
của hoạt động này.  
rừng và ý thức bảo vệ rừng tại địa phương.  
3.2. Đánh giá của cộng đồng địa phương  
Kết quả tự trả lời bảng hỏi  
Trên cơ sở những phân tích kể trên, cán bộ địa  
phương còn đánh giá cao tinh thần trách nhiệm của  
người dân, thông qua trao đổi liên quan đến việc tự  
Có 95% bảng hỏi đã hoàn thành (trên 100 bảng  
nguyện đóng góp (đóng góp bằng tiền mặt hoặc hỏi phát ra) với các kết quả chính được trình bày  
ngày công lao động tình nguyện) cho hoạt động trong Bảng 2.  
Bảng 2. Kết quả đánh giá của cộng đồng địa phương  
Câu hỏi  
Tổng số  
%
Số Nam/tổng số  
39/95  
41,05  
Cải thiện  
Không thay đổi  
Tệ hơn  
Không  
Hai  
Bốn  
95  
0
0
100,00  
1) Hiểu biết của ông/bà về rừng ngập mặn  
thay đổi như thế nào từ năm 2005 đến nay?  
-
-
1
94  
0
1,05  
98,95  
-
2) Có bao nhiêu loài cây ngập mặn được trồng  
tại địa phương ta từ năm 2005 đến nay?  
Tốt  
Không rõ  
40  
3
51  
0
23  
3
82  
23  
42,11  
3,16  
53,68  
-
24,21  
3,16  
86,32  
24,21  
3) Tại địa phương, rừng ngập mặn phát triển  
trong các đầm tôm như thế nào?  
Không phát triển  
Bảo vệ đê khỏi sóng, bão  
Nơi nuôi dưỡng thủy sinh vật  
Nuôi ong  
Cung cấp nước ngọt  
Cung cấp gỗ và củi  
4) Rừng ngập mặn tại địa phương KHÔNG  
đem lại những lợi ích gì trong các lợi ích sau  
đây?  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 69 (6/2020)  
46  
Câu hỏi  
Tổng số  
%
Có  
Không rõ  
Không  
94  
0
0
98,95  
5) Ở đây Ban quản lý rừng không?  
-
-
Người dân địa phương bầu  
Không rõ  
UBND đề cử  
Tăng  
Không đổi  
Giảm  
92  
1
0
96,84  
1,05  
-
6) Nếu có, Ban quản lý rừng được bầu như thế  
nào?  
54  
22  
16  
1
1
92  
56,84  
23,16  
16,84  
1,05  
1,05  
96,84  
7) Thu nhập của ông /bà và so với trước năm  
2005?  
Tăng  
Không đổi  
Giảm  
8) Từ năm 2005, địa phương có còn bị ảnh  
hưởng của lụt, bão nữa không?  
Kết quả tổng hợp chỉ ra 100% số người được  
Nghiên cứu đã thực hiện 6 cuộc thảo luận  
hỏi cho rằng họ đã hiểu hơn về rừng ngập mặn, nhóm tại 06 thôn. Kết quả chung như sau:  
vai trò của rừng từ khi tham gia hoạt động phục a) Thành phần sinh kế đã thay đổi đáng kể kể  
hồi và quản lý rừng tại địa phương. Đặc biệt, có từ năm 2005 do bão và giai đoạn phục hồi chậm,  
tới 86% số người đã xác định được chính xác các sau đó, hoạt động phục hồi rừng đã mang lại nhiều  
giá trị đích thực của rừng ngập mặn.  
biến động.  
b) Nguồn sinh kế ngày càng lớn mạnh từ các  
Người dân cũng có những phản hồi tích cực về  
vai trò của chính quyền địa phương và thành viên hoạt động khai thác thủy hải sản thủ công trong và  
BQLCĐ (97% khẳng định các thành viên BQLCĐ bãi bồi ven rừng ngập mặn. Nguồn lợi sinh kế này  
được bầu từ cộng đồng).  
có thể so sánh được với thu nhập từ hoạt động sản  
Kết quả khả dĩ từ hoạt động này đó là 57% xuất nông nghiệp của đại phương.  
người dân cho biết thu nhập của họ đã tăng lên kể  
Như vậy, hiệu quả trực tiếp của hoạt động  
từ khi rừng ngập mặn được phục hồi. Khi trả lời phục hồi rừng được đánh giá nhiều nhất thông  
câu hỏi liên quan đến thiên tai, 97% người dân qua giá trị trực tiếp, đem lại sinh kế cho cộng  
cho biết thiệt hại từ bão ít hơn kể từ khi có rừng đồng địa phương.  
trở lại, nhưng điều này cũng là do thực tế là không  
có cơn bão lớn nào tấn công khu vực kể từ cơn  
bão Damrey.  
3.4. Hiệu quả kinh tế của hoạt động phục hồi  
và quản lý rừng ngập mặn  
Hoạt động trồng, phục hồi và bảo vệ rừng ngập  
mặn tại vùng nghiên cứu đã đem lại nguồn sinh kế  
Kết quả phỏng vấn  
Nghiên cứu đã thực hiện 24 cuộc phỏng vấn cho người dân thông qua nguồn thu nhập bổ sung  
với người dân địa phương tại 6 thôn. 87% số từ khai thác các sản phẩm của rừng. Đặc biệt, với  
người được hỏi cảm thấy hoạt động phục hồi rừng nhóm yếu thế, là các gia đình không có điều kiện  
tại địa phương đã đáp ứng mong đợi của họ. kinh tế để đầu tư công cụ sản xuất hoặc kinh  
Người dân đã nâng cao nhận thức về rừng, về các doanh, và các phụ nữ trong giai đoạn nông nhàn.  
vấn đề liên quan đến môi trường và biến đổi khí Họ có thể tham gia vào hoạt động khai thác thủy  
hậu. Những lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ rừng sản thủ công trong rừng và các bãi bồi ven rừng  
ngập mặn cũng đã được đánh giá một cách tích khi thủy triều xuống thấp.  
Kết quả điều tra cho thấy, trung bình mỗi  
người có thể có thu nhập khoảng 350.000  
VNĐ/ngày từ việc khai thác thủy sản thủ công.  
Khu vực bãi bồi và RNM khu vực nghiên cứu  
cực (29% số người cho rằng sản lượng khai thác  
thủy sản thủ công tăng lên, 70% đánh giá lợi ích  
gián tiếp tăng lên).  
3.3. Đánh giá thông qua thảo luận nhóm  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 69 (6/2020)  
47  
nằm trong vùng ảnh hưởng triều, với chu kì nhật sinh/qui định nơi đổ rác) đã có tác động tích cực  
triều. Người dân thường có thể tiếp cận rừng ngập đáng kể đến chính rừng ngập mặn và môi trường  
mặn vào các ngày có chu kì nước ròng, tương biển rộng lớn hơn. Ngoài ra, giá trị gián tiếp từ  
đương với thời gian làm việc 15 ngày/tháng và khả năng tích lũy lượng lớn carbon trong đất và  
khoảng 10 tháng/năm (trừ 02 tháng người dân tập sinh khối rừng ngập mặn góp vai trò đáng kể trong  
trung vào trồng và thu hoạch các sản phẩm nông thích ứng với biến đổi khí hậu.  
nghiệp). Với diện tích rừng ngập mặn hiện có tại  
địa phương, mỗi ngày, trung bình có khoảng 250  
4. KẾT LUẬN  
Hoạt động phục hồi và bảo vệ rừng ngập mặn  
người dân tham gia khai thác thủy sản. Tương dựa vào cộng đồng đã và đang được thực hiện một  
đương với gần 65 triệu đồng/ha/năm (~2.812 số địa phương ở Việt Nam. Hoạt động này ở xã  
USD/ha/năm). Như vậy, đây được coi là nguồn Đa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã đem  
sinh kế bền vững cho cộng đồng địa phương.  
lại nhiều phản hồi tích cực cả về mặt quản lý vận  
Thành viên của ban quản lý cộng đồng được hành đến những hiệu quả về mặt kinh tế - xã hội  
nhận nguồn trợ cấp định kỳ từ nguồn kinh phí nhà cho cộng đồng địa phương. Với cán bộ các ban  
nước cho hoạt động bảo vệ rừng và một phần từ ngành và chính quyền địa phương, 95% số người  
nguồn đóng góp của cộng đồng địa phương. đánh giá hoạt động tốt, và 5% còn lại cho rằng  
Những thành viên này chuyên tâm cho nhiệm vụ hoạt động đã đạt hiệu quả rất tốt. Với cộng đồng  
bảo vệ rừng. Ngoài ra, họ còn được quyền khai dân cư, 100% số người tham gia đánh giá này đều  
thác các sản phẩm ngoài gỗ từ rừng như những có nhận xét tích cực về hiệu quả của hoạt động  
công dân khác trong vùng.  
trồng, phục hồi và bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng  
Mặc dù mang lại lợi ích sinh kế rõ ràng tại địa tại địa phương.  
phương, tuy nhiên, không phải toàn bộ các hộ gia  
Kết quả khảo sát cho thấy 57% người dân cho  
đình trong địa phương đều khai thác nguồn sinh biết thu nhập của họ đã tăng lên kể từ khi rừng  
kế này. Một số nhóm được hưởng lợi từ các nguồn ngập mặn được phục hồi. Do đó, xét về mặt kinh  
sinh kế khác như những hộ gia đình tham gia nuôi tế, chỉ tính riêng sinh kế khi nông nhàn của cộng  
trồng thủy hải sản, thu mua và kinh doanh hải sản đồng thông qua hoạt động khai thác thủy sản thủ  
đánh bắt được, nuôi ong vào mùa hoa rừng nở, các công là khoảng 65 triệu đồng/ha/năm. Ngoài ra,  
gia đình thực hiện kinh doanh và dịch vụ trong địa các giá trị kinh tế khác chưa lượng giá như nguồn  
phương cũng được hưởng lợi từ việc mạnh tay chi lợi con giống, thức ăn các hộ nuôi trồng thủy sản,  
tiêu của các hộ gia đình có nguồn thu. Như vậy, sản xuất mật ong vào mùa hoa, các hộ kinh  
có thể nói, hiệu quả về mặt kinh tế từ hoạt động doanh thủy sản, cung cấp dịch vụ,… đều được  
trồng và phục hồi rừng tại địa phương là rất có ý hưởng lợi khi rừng được phục hồi. Giá trị kinh tế  
nghĩa với đời sống xã hội nơi đây.  
này có thể so sánh với giá trị thu được từ sản  
xuất nông nghiệp.  
3.5. Hiệu quả về mặt môi trường  
Mặc dù diện tích rừng trồng chưa phát triển  
Về mặt môi trường, 97% người dân cho biết  
như rừng tự nhiên nhưng đã tạo ra tác động tích thiệt hại từ bão ít hơn kể từ khi có rừng trở lại.  
cực rõ rệt đến môi trường ven biển. Hơn 200 ha Rừng ngập mặn được phục hồi tại địa phương  
bãi bồi trống nay thành rừng khép tán, có cây con đem lại môi trường không khí trong lành, nâng  
tái sinh dưới tán rừng. Diện tích rừng này giúp ổn cao ý thức của cộng đồng trong việc xả thải rác  
định bãi bồi, trống xói lở. Ngày càng nhiều các và vai trò tích lũy carbon của rừng góp phần  
sinh vật biển và chim di cư đến làm tăng đa dạng đáng kể vào nhiệm vụ thích ứng với biến đổi  
sinh học trong thảm thực vật ngập mặn. Hơn nữa, khí hậu. Mô hình quản lý rừng ngập mặn dựa  
cộng đồng địa phương đã nhận thực rõ về vai trò vào cộng đồng vùng nghiên cứu cần được đánh  
và giá trị của rừng, có ban quản lý cộng đồng và giá toàn diện hơn để có thể làm trường hợp  
đặc biệt là sự thay đổi hành vi của người dân địa điển hình để các địa phương có rừng ngập mặn  
phương liên quan đến vệ sinh môi trường (dọn vệ tham khảo.  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 69 (6/2020)  
48  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Phan Nguyên Hồng (chủ biên), 1999. Rừng ngập mặn Việt Nam. NXB Nông nghiệp. 205 trang.  
Alongi, D.M. (2008). ‘Mangrove forests: resilience, protection from tsunamis, and responses to global  
climate change’. Estuarine, Coastal and Shelf Science 76:1–13.  
Alongi, D.M. (2009). The Energetics of Mangrove Forests. New York: Springer Science, 216pp.  
CARE (2008) Community Empowerment for Forest Management (CEFM): Project Fact-sheet. CARE  
International Vietnam Program, Hanoi.  
Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA, 2016). Sổ tay hướng dẫn Phát triển cộng đồng. NXB Thanh  
Niên. 124 trang.  
Cuc, N.T.K, Erik de Ruyter van Steveninck, 2013. Production function of planted mangroves in Thanh  
Phu Nature Reserve, Mekong Delta, Vietnam. Journal of Coastal Research, DOI:  
10.2112/JCOASTRES-D-13-00104.1  
International Federation of Red Cross and Red Crescent Societies (IFRC), 2010. Planting protection:  
Evaluation of community-based mangrove reforestation and disasterpreparedness programme,  
2006–2010.  
Millennium Ecosystem Assessment (2005). Ecosystems and Human Well-being: Synthesis. Washington,  
DC: Island Press.  
Abstract:  
COMMUNITY-BASED MANGROVE RESTORATION  
AND MANAGEMENT IN HAU LOC DISTRICT, THANH HOA PROVINCE  
Mangrove ecosystems exist in the transition zone between the marine and land environment. However,  
like many parts of the world, mangroves in Da Loc Commune, Hau Loc District, Thanh Hoa Province  
have been severely distroyed. Consequently, in 2005, the typhoon named Damrey had swept through the  
sea dike, causing serious consequences to the social and economic life of the local people. Recognizing  
the roles of mangroves, an area of 200 ha of mangroves has been planted in coastal areas of Da Loc  
Commune with community-based management practices. The study results found that 100% of the  
interviewees have positive comments on the effectiveness of mangrove plantation, rehabilitation and  
protection in local community. On the environmental point of view, 97% of the local people reported  
that mangroves can reduce the damages from the storms. In terms of economic development, 57% of  
people said that their income has increased since mangrove forests were replanted with the economic  
value from mangroves approximate 65 million VND/ha/year. Community-based mangrove restoration  
activities have brought the socio-economic effects for local communities and the useful lessons in  
mangrove management.  
Keywords: mangroves, mangrove restoration, community-based.  
Ngày nhận bài:  
11/5/2020  
Ngày chấp nhận đăng: 30/5/2020  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 69 (6/2020)  
49  
pdf 7 trang yennguyen 19600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phục hồi và quản lý rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng tại huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphuc_hoi_va_quan_ly_rung_ngap_man_dua_vao_cong_dong_tai_huye.pdf