Đánh giá tình hình sinh trưởng của các loài cây bản địa theo các dạng lập địa khác nhau: Nghiên cứu trường hợp với 3 loài cây lim xanh, trám trắng và huỷnh tại tỉnh Quảng Bình

Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn  
pISSN: 2588-1191; eISSN: 2615-9708  
Tập 130, Số 3A, 2021, Tr. 37–54; DOI: 10.26459/hueunijard.v130i3A.5644  
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SINH TRƯỞNG CỦA CÁC LOÀI CÂY  
BẢN ĐỊA THEO CÁC DẠNG LẬP ĐỊA KHÁC NHAU:  
NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VỚI 3 LOÀI CÂY LIM XANH,  
TRÁM TRẮNG VÀ HUỶNH TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH  
1
2
3
Trần Trung Thành *, Hồ Đắc Thái Hoàng , Nguyễn Phương Văn  
1 Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế, 102 Phùng Hưng, Huế, Việt Nam  
2 Viện Tài nguyên và Môi trường, Đại học Huế, 07 Hà Nội, Huế, Việt Nam  
3 Trường Đại học Quảng Bình, 312 Lý Thường Kiệt, Đồng Hới, Quảng Bình, Việt Nam  
Tóm tắt: Bài báo trình bày kết quả đánh giá sự phù hợp, sinh trưởng và phát triển của các loài cây trồng bản  
địa trên các dạng lập địa khác nhau tại tỉnh Quảng Bình. Kết quả phân tích tại các ô theo dõi đo đếm và bố  
trí thí nghiệm trên các loài Lim xanh (Erythrophleum fordi Oliv), Trám trắng (Canarium album Raeusch),  
Huỷnh (Tarrietia javanica Blume) từ năm 1 đến năm 6 cho thấy tỷ lệ sống của các loài đạt khá cao, trên 82%;  
Lượng tăng trưởng bình quân tới tuổi 6 về đường kính của các loài cây dao động từ 1,46-1,95cm/năm; Biện  
pháp xử lý thự bì có ảnh hưởng rõ rệt tới sinh trưởng chiều cao và đường kính ngang ngực của các loài.  
Công thức xử lý thực bì phù hợp là xử lý thực bì theo băng. Các dạng lập địa khác nhau ảnh hưởng đến tỷ  
lệ sống và các chỉ tiêu sinh trưởng của các loài. Cây Lim xanh và cây Trám trắng thích hợp hơn với dạng lập  
địa B.  
Từ khóa: Cây bản địa, lập địa, phục hồi rừng, trồng rừng, Lim xanh, Trám Trắng, Huỷnh  
ASSESSMENT OF GROWTH OF INDIGENOUS PLANTS ON  
DIFFERENT TYPES OF SITE: RESEARCH ON LIM XANH,  
TRAM TRANG AND HUYNH SPECIES IN QUANG BINH  
PROVINCE  
1
2
3
Tran Trung Thanh *, Ho Đac Thai Hoang , Nguyen Phuong Van  
1 University of Agriculture and Forestry, Hue University, 102 Phung Hung St., Hue, Vietnam  
2 Institute of Resouces and Environment – Hue University, 7 Ha Noi, Hue, Vietnam  
3 Quang Binh University, 312 Ly Thuong Kiet, Đong Hoi, Quang Binh, Vietnam  
Nhận bài: 8–1–2020; Hoàn thành phản biện: 13–10–2020; Ngày nhận đăng: 10–12–2020  
Trần Trung Thành và CS.  
Tập 130, Số 3A, 2021  
Abstract: The paper presents the results of assessing the suitability, growth and development of native  
plants on different types of sites in Quang Binh province. Analytical results on monitoring plots for meas-  
urement and experiments arranged on Lim Xanh (Erythrophleum fordi Oliv), Tram Trang (Canarium album),  
and Huynh (Tarrietia javanica) species from 01 to 06 years show a high survival rate of over 82%; The average  
growth amount up to age 6 in diameter of tree species ranges from 1.46–1.95cm / year; Measures of plant  
treatment clearly affect the growth of height and diameter at chest height of species. The suitable plant treat-  
ment formula is to treat vegetation by barrier. The different types of sites affect the survival rate and growth  
indicators of the species. Lim Xanh and Tram Trang are more suitable for site type B.  
Keywords: Native plants, site, forest restoration, plantation, Erythrophleum fordi Oliv, Canarium album Rae-  
usch, Tarrietia javanica  
1
Đặt vấn đề  
Đến năm 2018 có 4.235.770 ha rừng trồng tập trung chiếm 29,2% diện tích rừng cả nước [1].  
Xấp xỉ 60 % diện tích này là các loài Keo, Bạch đàn, Thông, Mỡ, Bồ đề… phần lớn các loài cây này  
đều được trồng thuần loài đều tuổi, kém bền vững cả về phương diện sản lượng và sinh thái.  
Dưới áp lực của các nhu cầu về gỗ, đặc biệt gỗ cung cấp cho công nghiệp được dự đoán vào  
3
khoảng 1,8 tỷ m hàng năm (FAO) và để đáp ứng nhu cầu này không thể trông cậy hoàn toàn vào  
nguồn gỗ từ rừng tự nhiên trong bối cảnh lâm nghiệp hiện nay. Mặt khác, với cơ chế thị trường  
trong kinh doanh rừng cũng ảnh hưởng không nhỏ; việc mở rộng diện tích rừng trồng thuần loài  
với mục tiêu kinh doanh thiếu kiểm soát, đặc biệt một số loài lâm đặc sản như Quế, Hồi, Trẩu…  
đã dần làm mất đi những loài cây bản địa. Một số nơi việc trồng những loài cây nhập nội một  
cách thiếu kiểm soát có thể là cơ hội tốt cho việc xuất hiện các loài ngoại lai xâm hại, chèn ép và  
tiêu diệt các loài cây bản địa. Lựa chọn các loài cây trồng là cây bản địa và phương thức trồng  
theo hướng đa dạng hóa lâm sinh sẽ góp phần vào giải quyết được những tồn tại này [9].  
Tại tỉnh Quảng Bình, quá trình phục hồi rừng trong những năm qua đã đạt được một số  
kết quả nhất định. Ngoài diện tích rừng trồng các loài Keo, Bạch đàn, Thông… thì cũng có một  
số lượng lớn diện tích các loài cây trồng bản địa từ các chương trình, dự án trồng rừng của nước  
ngoài như KFW, JICA… Hiện nay việc đánh giá công tác trồng rừng bằng các loài cây bản địa  
trong vùng chỉ dựa trên báo cáo khái quát kết quả nghiệm thu trồng rừng, chăm sóc và báo cáo  
tình hình sinh trưởng chung của các loài cây đem trồng từ các lâm trường, dự án trồng rừng v.v,  
nhưng chưa được điều tra và nghiên cứu cụ thể về diện tích, trữ lượng, chất lượng rừng trồng,  
tăng trưởng của rừng để đánh giá khả năng đóng góp và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp  
chế biến gỗ cũng như các giá trị khác của rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Mặt khác các loài  
cây bản địa có khả năng thích ứng và có tốc độ sinh trưởng khác nhau ở hoàn cảnh nơi trồng  
rừng khác nhau. Khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi của môi trường, hoàn cảnh sống và  
tốc độ sinh trưởng cũng thay đổi theo thời gian và không gian nhất định. Vì vậy, việc nghiên cứu  
38  
Jos.hueuni.edu.vn  
Tập 130, Số 3A, 2021  
sinh trưởng của các loài cây bản địa trong những dạng lập địa khác nhau và biện pháp kỹ thuật  
gây trồng cụ thể là một việc làm cần thiết, làm cơ sở khoa học cho việc lựa chọn cây trồng phù  
hợp để góp phần đẩy nhanh công tác phát triển rừng theo hướng phát triển bền vững thoả mãn  
yêu cầu kinh tế, sinh thái môi trường và xã hội cho các vùng kinh tế sinh thái.  
Do đó chúng tôi tiến hành đánh giá sự phù hợp, sinh trưởng và phát triển của các loài cây  
trồng bản địa là loài Lim xanh (Erythrophleum fordi Oliv), Trám trắng (Canarium album Raeusch),  
Huỷnh (Tarrietia javanica Blume) trên một số dạng lập địa tại tỉnh Quảng Bình; trên cơ sở đó đề  
ra những khuyến nghị nhằm mục đích nâng cao hiệu quả công tác trồng rừng và phục hồi rừng  
ở khu vực nghiên cứu.  
2
Đối tượng và phương phꢀp nghiên cứu  
2.1  
Đối tượng nghiên cứu  
Nghiên cứu tập trung vào các loài Lim xanh (Erythrophleum fordi Oliv), Trám trắng (Canar-  
ium album Raeusch), Huỷnh (Tarrietia javanica Blume) từ năm 1 đến năm 6 được trồng tại các  
huyện Quảng Ninh, huyện Minh Hoá và Bố Trạch tỉnh Quảng Bình.  
2.2  
Phương phꢀp nghiên cứu  
+ Phương phꢀp thu thập số liệu: Thu thập các số liệu, tài liệu, các báo cáo đánh giá về kết  
quả điều tra lập địa, trồng rừng và khoanh nuôi rừng của các chương trình, dự án tại tỉnh Quảng  
Bình, các bản đồ hiện trạng rừng, bản đồ thiết kế trồng rừng.  
+ Phương phꢀp điều tra chuyên ngành: Thiết lập ô mẫu để điều tra, đo đếm theo dõi các  
chỉ tiêu sinh trưởng của các loài cây bản địa trồng ở khu vực nghiên cứu.  
– Lập ô đo đếm: Mỗi loài tiến hành lập 3 ô đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng, tỷ lệ sống, đánh  
2
giá phẩm chất cây đứng với diện tích 500 m .  
Các chỉ tiêu đo đếm gồm: đường kính ngang ngực (D1.3), chiều cao vút ngọn (Hvn)  
Đánh giá phẩm chất cây đứng:  
Cây sinh trưởng tốt là những cây thân thẳng, không cụt ngọn, tán lá phát triển cân đối,  
không bị sâu, bệnh hại.  
Cây sinh trưởng xấu là những cây cong queo, cụt ngọn, tán lá không cân đối và bị sâu bệnh  
hại ở mức độ trung bình trở lên.  
Cây sinh trưởng trung bình là cây nằm giữa hai cấp phẩm chất nêu trên.  
Tỷ lệ cây sống: Số cây sống trên tổng số cây đem trồng.  
39  
Trần Trung Thành và CS.  
Tập 130, Số 3A, 2021  
Hình 1. Sơ đồ vị trí các ô điều tra đo đếm  
Việc chọn loài dựa trên kết quả bước đầu về gây trồng trên diện tích rộng theo dự án trồng  
rừng (Dự án khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng) hoặc trồng thử nghiệm quy mô nhỏ, phân tán trong  
khu vực nghiên cứu; Đây là các loài có phân bố tự nhiên, có đặc điểm sinh thái tự nhiên phù hợp  
với các dạng lập địa tại khu vực nghiên cứu.  
Thí nghiệm lựa chọn loài cây trồng phù hợp với các dạng lập địa: Tiến hành điều tra các  
chỉ tiêu của 3 loài trên cùng một dạng lập địa B. Biện pháp kỹ thuật tác động: Xử lý thực bì, Làm  
đất, chăm sóc bằng cách phát dọn thực bì, dây leo, tỉa cành.  
Thí nghiệm về ảnh hưởng của biện pháp xử lý thực bì đến sinh trưởng cây trồng: bố trí các  
ô đo đếm đối với hai loài Lim xanh và Trám trắng trồng trên cùng điều kiện lập địa, có cùng  
phương thức trồng và sử dụng hai biện pháp xử lý thực bì khác nhau là xử lý thực bì theo băng  
(CT1) và xử lý thực bì toàn diện (CT2). Xử lý thực bì theo băng: Băng chặt rộng 2m chạy dài theo  
40  
Jos.hueuni.edu.vn  
Tập 130, Số 3A, 2021  
đường đồng mức, băng chừa rộng 2m. Trên băng chặt xử lý thực bì toàn diện, xếp gọn thực bì  
thành từng dải theo đường đồng mức và giữ lại cây gỗ tái sinh mục đích.  
Thí nghiệm ảnh hưởng của các dạng lập địa đến sinh trưởng của cây trồng: Nghiên cứu sử  
dụng cây Lim xanh và Trám trắng trồng trên các dạng lập địa khác nhau để đánh giá ảnh hưởng.  
Sử dụng phương pháp phân dạng lập địa theo phân loại của Đức, trong đó sử dụng các yếu tố  
chủ đạo bao gồm: Đá mẹ và loại đất, độ dày tầng đất và tỷ lệ đá lẫn, nhóm cây tái sinh mục đích  
và thực vật chỉ thị. Các loài cây được bố trí theo dõi trên các dạng lập địa B và C.  
Nhóm dạng lập địa B: Nhóm đá mẹ: Fs (nhóm đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt mịn),  
Fq (nhóm đá trầm tích vụn thô và sa thạch); Cấp đất: cấp 1 (độ dày tầng đất > 50cm và tỷ lệ đá  
lẫn <= 50%), cấp 2 (độ dày tầng đất 30–50cm và tỷ lệ đá lẫn <= 50%); Nhóm thực bì: nhóm b  
(mật độ cây gỗ tái sinh từ 150–400 cây/ha, độ che phủ > 50%, chiều cao thực bì từ 1m trở lên,  
phạm vi che phủ của thực bì > 50%);  
Nhóm dạng lập địa C: Nhóm đá mẹ Fa (nhóm đá mẹ macma chua), Fs (nhóm đá trầm tích  
và biến chất có kết cấu hạt mịn), Fq (nhóm đá trầm tích vụn thô và sa thạch); ); Cấp đất: cấp 1  
(độ dày tầng đất > 50cm và tỷ lệ đá lẫn <= 50%); Nhóm thực bì: nhóm c (mật độ cây gỗ tái sinh <  
150 cây/ha, độ che phủ từ 20–50%, chiều cao thực bì từ 1m trở lên, phạm vi che phủ của thực bì  
20–50%), nhóm d (mật độ cây gỗ tái sinh rất ít hoặc không có, độ che phủ < 20%, chiều cao thực  
bì từ 1m trở lên, phạm vi che phủ của thực bì < 20%).  
Điều tra cây bụi thảm tươi dưới tán rừng: Trong ÔTC, tôi lập 5 ô dạng bản, được bố trí 4 ô  
ở 4 góc 1 ô ở giữa, với diện tích mỗi ô dạng bản là 4m2 (2 × 2m). Trong các ô dạng bản, chúng tôi  
tiến hành điều tra mô tả các chỉ tiêu như loài cây chủ yếu, chiều cao trung bình, chất lượng  
(tốt, trung bình, xấu), tỷ lệ che phủ (%).  
+ Phương phꢀp xꢁ lꢂ số liệu  
– Tính các loại tăng trưởng:  
Tăng trưởng thường xuyên hàng năm là số lượng biến đổi được của một nhân tố điều tra  
trong 1 năm: Zt = ta – ta-1  
Trong đó: ta là nhân tố điều tra; a là năm; ta-1 là nhân tố điều tra tại a-1 năm  
Tăng trưởng bình quân chung là số lượng biến đổi được của nhân tố điều tra tính bình  
quân 1 năm trong suốt thời kỳ sinh trưởng của cây rừng (trong a năm).  
Z
ta  
a
=   
nt  
 =  
a
Kiểm tra sự thuần nhất về các chỉ tiêu sinh trưởng (Hvn, D1.3) giữa các OTC sử dụng tiêu  
chuẩn t của Student với:  
41  
Trần Trung Thành và CS.  
Tập 130, Số 3A, 2021  
X 1 − X 2  
T =  
s12 s22  
+
n1 n2  
s12 s22  
+
(n1 −1)(n2 − 2)(  
)
n1 n2  
Bậc tự do k tính theo công thức:K =  
2 2  
2   
s1  
s2  
(n1 −1)  
+ (n2 −1)  
n1  
n2  
Nếu │T│tính  
t05 tra bảng với bậc tự do K thì giả thuyết H0 được chấp nhận, sai khác là  
không rõ rệt.  
Nếu │T│tính > t05 tra bảng với bậc tự do K thì giả thuyết H0 được bị bác bỏ, sai khác là rõ  
rệt.  
Các số liệu điều tra được sử dụng bằng phương pháp thống kê toán học, phân tích mẫu,  
phương sai và dùng các tiêu chuẩn để phân tích, tổng hợp tài liệu và tính toán đảm bảo độ chính  
xác trong nghiên cứu khoa học và xử lý trên phần mềm Excel, SPSS của máy vi tính theo các tài  
liệu của Ngô Kim Khôi, Nguyễn Hải Tuất.  
3
Kết quả nghiên cứu  
3.1  
Kết quả trồng rừng và phục hồi rừng bằng cây bản địa  
Theo mục tiêu chiến lược tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, tỉnh Quảng Bình nằm trong vùng  
kinh tế - sinh thái Bắc Trung Bộ với định hướng xây dựng vùng nguyên liệu gỗ lớn thứ hai của  
cả nước cung cấp nguyên liệu gỗ cho công nghiệp giấy và ván nhân tạo ở các khu vực gần nhà  
máy, xây dựng vùng nguyên liệu gỗ lớn ở các khu vực xa hơn cho các nhà máy chế biến đồ mộc  
trong và ngoài vùng; xây dựng, củng cố hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn của dãy Trường  
Sơn, phòng hộ ven biển chống cát bay, chắn sóng và chống sạt lở bờ biển [10]. Trong những năm  
qua ngành lâm nghiệp tỉnh Quảng Bình đã triển khai đồng bộ các giải pháp về quy hoạch đất đai,  
quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng, cơ cấu sản xuất, thị trường, vốn, nhân lực theo hướng phát  
huy lợi thế của địa phương và khả năng cạnh tranh của sản phẩm; đã và đang hoàn thành phương  
án sắp xếp, đổi mới, cổ phần hóa lại các doanh nghiệp lâm nghiệp nhà nước thuộc thẩm quyền.  
Bên cạnh đó các chương trình dự án hỗ trợ người dân nhận đất nhận rừng để quản lý bảo vệ và  
kinh doanh sản xuất ngày càng tăng. Cơ cấu các loài cây trồng cũng có thay đổi, chuyển từ Keo,  
Thông… sang các loài cây bản địa. Một số diện tích trồng rừng bản địa và khoanh nuôi tái sinh  
rừng được thể hiện ở bảng 1.  
42  
Jos.hueuni.edu.vn  
Tập 130, Số 3A, 2021  
Bảng 1. Diện tích trồng rừng cây bản địa và khoanh nuôi tái sinh rừng tính đến năm 2016  
Dạng lập địa (ha)  
Khoanh nuôi tái sinh  
Hộ  
tham  
gia  
Tổng  
diện  
tích (ha)  
Địa điểm  
(huyện/xã)  
STT  
Trồng mới  
Tổng  
666,92  
666,92  
1.065,58  
129,11  
251,42  
221,84  
61,19  
A1  
A2  
Tổng  
14,20  
14,20  
720,70  
100,82  
242,87  
6,95  
B
C
D
I
1
Quảng Ninh  
Trường Sơn  
Minh Hóa  
Hóa Sơn  
330  
330  
1.129  
148  
348  
123  
29  
681,12  
681,12  
1.786,29  
229,93  
494,29  
228,79  
62,37  
620,34  
620,34  
746,03  
109,75  
126,97  
208,72  
61,19  
46,58  
46,58  
319,56  
19,36  
124,45  
13,12  
0,00  
14,20  
14,20  
2,59  
2,59  
II  
2
712,92  
93,04  
242,87  
6,95  
5,19  
5,19  
3
Trọng Hóa  
Trung Hóa  
Thượng Hóa  
Dân Hóa  
4
5
1,18  
1,18  
6
481  
743  
221  
157  
220  
145  
2.202  
770,91  
1.069,98  
410,03  
263,77  
242,66  
153,51  
3.537  
402,03  
770,46  
301,64  
206,89  
108,42  
153,51  
2.503  
239,40  
539,88  
227,30  
111,43  
47,64  
162,62  
230,59  
74,34  
95,46  
60,79  
368,89  
299,52  
108,39  
56,89  
134,24  
368,89  
241,46  
52,50  
54,72  
134,24  
III  
7
Bố Trạch  
5,62  
3,45  
2,17  
52,44  
Xuân Trạch  
Hưng Trạch  
Sơn Trạch  
52,44  
8
9
10  
Thượng Trạch  
Tổng cộng  
153,51  
1.906  
597  
1.034  
954  
11  
69  
Nguồn: Dự án khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng, 2016  
Qua số liệu bảng 1 cho thấy tổng diện tích trồng và khoanh nuôi tái sinh trên địa bàn 3  
huyện Quảng Ninh, Minh Hóa và Bố Trạch đạt 3.537 ha, trong đó khoanh nuôi đạt 2.503 ha và  
trồng mới đạt 1.034 ha với sự tham gia của 2.202 hộ gia đình. Các loài cây trồng chủ yếu là Lim  
xanh, Trám trắng, Huỷnh, Keo lá tràm.  
Như vậy, với diện tích bước đầu đạt được có thể làm tiền đề cho việc chuyển dịch cơ cấu  
cây trồng lâm nghiệp trên địa bàn; tuy nhiên vấn đề đặt ra là cần phải có những nghiên cứu cụ  
thể về sự thích nghi với vùng sinh thái, sinh trưởng phát triển của cây trồng và hiệu quả của các  
mô hình làm cơ sở cho việc phát triển trên diện rộng. Mặt khác, từ khi chính quyền giao đất lâm  
nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định vào mục đích lâm nghiệp thực hiện dự án trồng  
rừng, phục hồi rừng cho tới nay, chưa có một nghiên cứu nào về tác động, ảnh hưởng của công  
tác trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng trên địa bàn.  
43  
Trần Trung Thành và CS.  
Tập 130, Số 3A, 2021  
3.2  
Đꢀnh giꢀ tỷ lệ sống, khả năng sinh trưởng các loài cây trồng trên cùng dạng lập địa  
Tỷ lệ sống cây trồng qua cꢀc năm  
Tỷ lệ sống là một trong những chỉ tiêu để đánh giá khả năng thích nghi của các loài cây với  
điều kiện lập địa; Nghiên cứu tập trung vào dạng lập địa B vì đây là dạng lập địa chủ yếu ở khu  
vực nghiên cứu; Qua theo dõi tại các ô đo đếm hàng năm và kết quả thống kê được thể hiện tại  
bảng 2.  
Qua số liệu tại bảng 2 cho thấy, tỷ lệ sống của các loài cây thay đổi theo thời gian và có sự  
khác nhau giữa các loài cây với nhau. Năm thứ nhất tỷ lệ sống cao nhất dao động từ 95,3–98,2%  
và tỷ lệ này vẫn giữ ở mức cao trong hai năm tiếp theo bởi được trồng dặm và chăm sóc tốt. Trong  
các năm tiếp theo tỷ lệ sống giảm xuống những vẫn đạt từ 82,3–84,3% ở năm thứ 6; Loài Trám  
trắng có tỷ lệ sống cao nhất và thấp nhất là Huỷnh.  
Đối với cây Lim xanh tỷ lệ sống rất cao ở năm thứ nhất là 96,2%, tỷ lệ sống có xu hướng  
giảm dần, đặc biệt có sự giảm khá mạnh (giảm 4,1%) ở năm thứ 3 sang năm thứ tư. Đến năm thứ  
6 tỷ lệ sống của cây Lim xanh là 83,2%.  
Tương tự như cây Lim xanh, cây Trám trắng cỏ tỷ lệ sống cao ở năm thứ nhất là 98,2% và  
giảm mạnh ở năm thứ 3 sang năm thứ 4 (giảm 5,9%) từ 94,2% xuống còn 88,3%. Đến năm thứ 6  
tỷ lệ sống của cây Trám trắng ổn định ở mức 84,3%.  
Cây Huỷnh có tỷ lệ sống ban đầu thấp hơn so với cây Lim xanh và Trám trắng, ở mức  
95,3%. Tỷ lệ sống của cây Huỷnh có xu hướng giảm khá mạnh từ năm thứ nhất đến năm thứ 4  
(mỗi năm giảm khoảng 3%). Đến năm thứ 5 và thứ 6 tỷ lệ sống ổn định hơn, năm thứ 6 đạt 82,3%.  
Bảng 2. Diễn biến tỷ lệ sống của các loài cây trồng trên cùng dạng lập địa B  
Tỷ lệ sống qua cꢀc năm (%)  
Loài cây  
Tuổi 1  
96,2  
Tuổi 2  
94,3  
Tuổi 3  
92,3  
Tuổi 4  
88,2  
Tuổi 5  
84,1  
Tuổi 6  
83,2  
Lim xanh  
Trám trắng  
Huỷnh  
98,2  
96,4  
94,2  
88,3  
86,3  
84,3  
95,3  
91,4  
87,8  
84,7  
83,5  
82,3  
Nguồn: Dự án khu vực Phong Nha – Kẻ Bàng, số liệu điều tra 2016  
44  
Jos.hueuni.edu.vn  
Tập 130, Số 3A, 2021  
Đꢀnh giꢀ khả năng sinh trưởng  
Sinh trưởng là một biểu hiện quan trọng của động thái rừng, nó ảnh hưởng quyết định đến  
mục tiêu kinh doanh của sản xuất lâm nghiệp. Kết quả đánh giá sinh trưởng đường kính ngang  
ngực, chiều cao vút ngọn của các loài cây bản địa điều tra từ tuổi 1 đến tuổi 6 được tổng hợp ở  
bảng 3.  
Qua bảng 3 cho thấy loài có sinh trưởng đường kính nhanh nhất là Trám trắng với lượng  
tăng trưởng là 11,68 cm và loài sinh trưởng thấp nhất là Lim xanh đạt 8,73 cm. Lượng tăng trưởng  
bình quân tới tuổi 6 về đường kính của các loài cây được điều tra cho thấy dao động từ  
1,46–1,95 cm/năm; Trong đó đạt giá trị lớn nhất ở loài Trám trắng là 1,95 cm/năm và thấp nhất là  
Lim xanh đạt 1,46 cm/năm.  
Hệ số biến động về sinh trưởng đường kính và chiều cao giữa các loài cây trong các ô đo  
đếm là khá thấp, dao động từ 15,49–22,5 % đối với đường kính và từ 16,98–19,49 % đối với chiều  
cao, cho thấy các cây trong từng ô đo đếm và các loài cây với nhau có sự chênh lệch không quá  
lớn. Trám trắng là loài có độ phân hóa về cả đường kính và chiều cao thấp nhất, tức là sinh trưởng  
đồng đều nhất.  
Sinh trưởng chiều cao vút ngọn của các loài dao động từ 4,58–4,91m, trong đó đạt sinh  
trưởng cao nhất là loài Trám trắng với 4,91 m, tiếp theo là loài Lim xanh đạt 4,71 m và thấp nhất  
là loài Huỷnh đạt 4,58 m. Lượng tăng trưởng bình quân về chiều cao của các loài dao động từ  
0,76–0,82 m/năm.  
Kết quả phân tích phương sai một nhân tố cho thấy các giá trị Sig. tính toán đều đạt 0,000  
< 0,05, đối với cả 2 chỉ tiêu sinh trưởng chiều cao và đường kính, chứng tỏ giữa các ô đo đếm có  
sự sai khác rõ rệt về sinh trưởng của các loài cây trồng. Sử dụng tiêu chuẩn Ducan để so sánh các  
ô đo đếm với nhau cho thấy loài Trám trắng cho sinh trưởng tốt nhất.  
Bảng 3. Sinh trưởng D1.3, Hvn của các loài cây trồng qua 6 năm  
Đường kính ngang ngực (D1,3m)  
Chiều cao vút ngọn (Hvn)  
Loài cây  
∆D1.3  
(cm/năm)  
SD1.3  
(%)  
∆Hvn  
(m/năm)  
SHvn  
(%)  
D
1.3  
Sig05  
Sig05  
H
vn (m)  
(cm)  
Lim xanh  
Trám trắng  
Huỷnh  
8,73  
1,46  
1,95  
1,67  
20,92  
15,49  
22,5  
0,000  
0,000  
0,000  
4,71  
4,91  
4,58  
0,79  
0,82  
0,76  
19,38  
16,98  
19,49  
0,000  
0,000  
0,000  
11,68  
10,04  
Nguồn: Số liệu điều tra, 2016  
45  
Trần Trung Thành và CS.  
Tập 130, Số 3A, 2021  
Đꢀnh giꢀ chất lượng rừng  
Chất lượng rừng trồng được đánh giá thông qua phân loại phẩm chất cây rừng: Tỷ lệ phần  
trăm số lượng cây tốt, cây trung bình và cây xấu. Cây rừng sinh trưởng tốt hay xấu là kết quả tác  
động tổng hợp của nhiều yếu tố như khí hậu, điều kiện lập địa, loài cây trồng, các biện pháp kỹ  
thuật lâm sinh… Đánh giá chất lượng rừng trồng nhằm đánh giá khả năng chống chịu và sự thích  
ứng của loài cây đối với điều kiện nơi trồng. Kết quả đánh giá chất lượng của loài cây tại tuổi 6  
được thể hiện qua bảng 4.  
Số liệu điều tra tại bảng 4 cho thấy đến tuổi 6 các cây trồng trong cùng điều kiện lập địa  
đều sinh trưởng tốt, tỷ lệ cây có phẩm chất tốt dao động 42,6–57,1%; tỷ lệ cây có phẩm chất trung  
bình dao động từ 34,1–37,8%; cây phẩm chất xấu chiếm tỷ lệ khá thấp, dao động từ 8,8–19,6%.  
Trong 3 loài thì Trám trắng có chất lượng cây tốt cao nhất là 57% và thấp nhất loài Lim xanh là  
42,6%. Tỷ lệ khép tán (là số cá thể cây rừng có giao tán trên số lượng cây được trồng) của Lim  
xanh đạt cao nhất 82,3% và thấp nhất là Huỷnh 73,7%.  
Như vậy, qua các kết quả đánh giá về tỷ lệ sống và các chỉ tiêu sinh trưởng, chất lượng của  
các cây trong ô đo đếm có thể thấy bước đầu các loài cây bản địa được đưa vào thử nghiệm là  
Lim xanh, Trám trắng và Huỷnh thích hợp với điều kiện và dạng lập địa tại khu vực nghiên cứu,  
kết luận đánh giá các loài cây có tiềm năng trong công tác trồng rừng và phục hồi rừng tại các  
nhóm dạng lập địa ở khu vực nghiên cứu.  
3.3  
Ảnh hưởng của biện pháp xꢁ lý thực bì đến khả năng sinh trưởng  
Ảnh hưởng của biện pháp xꢁ lý thực bì tới tỷ lệ sống  
Ảnh hưởng của các biện pháp xử lý thực bì tới tỷ lệ sống của các loài Lim xanh và Trám  
trắng tại khu vực nghiên cứu sau 6 năm trồng được tổng hợp tại bảng 5.  
Bảng 4. Chất lượng cây trồng trong cùng điều kiện lập địa B  
Tỷ lệ khép tán (%)  
Chất lượng cây trồng (%)  
Loài cây  
Lim xanh  
Tốt  
Trung bình  
Xấu  
82,3  
78,4  
73,7  
42,6  
57,1  
47,2  
37,8  
34,1  
36,1  
19,6  
8,8  
Trám trắng  
Huỷnh  
16,7  
46  
Jos.hueuni.edu.vn  
Tập 130, Số 3A, 2021  
Bảng 5. Tỷ lệ sống các loài cây trồng các biện pháp xử lý thực bì khác nhau  
Loài  
Công thức  
Tỷ lệ sống (%)  
Tuổi 1  
Tuổi 2  
Tuổi 3  
Tuổi 4  
Tuổi 5  
Tuổi 6  
Lim xanh  
Trám trắng  
CT1  
CT2  
CT1  
CT2  
97,2  
94,2  
98,6  
95,4  
95,3  
91,3  
97,2  
93,2  
95,3  
88,2  
95,4  
90,4  
88,2  
86,1  
86,4  
84,4  
86,1  
83,1  
84,5  
80,5  
82,3  
79,2  
83,2  
78,3  
* Chú thích: CT1 là công thức xử lý thực bì theo băng; CT2 là công thức xử lý thực bì toàn diện  
Qua số liệu tại bảng cho thấy, tỷ lệ sống của các loài Lim xanh và Trám trắng trong các  
công thức xử lý thực bì đều có sự biến động theo thời gian, loài Lim xanh ở tuổi 1 biến động từ  
94,2–97,2% và đến tuổi 6 thì chỉ còn 79,2–82,3%; Trám trắng ở tuổi 1 dao động từ 95,4–98,6% đến  
tuổi 6 tỷ lệ này còn 78,3–83,2%. Thực tế qua số liệu thống kê tại các ô đo đếm của thức xử lý thực  
bì theo băng (CT1) và công thức xử lý thực bì toàn diện (CT2) cho thấy đối với cây Lim xanh tích  
hợp với CT1 hơn, bởi cây Lim xanh ưa bóng trong giai đoạn đầu, cần có sự che chắn trong thười  
gian đầu sau khi trồng; Tương tự đối với cây Trám trắng, công thức xử lý thực bì theo băng (CT1)  
có tỷ lệ sống cao hơn đối với xử lý thực bì toàn diện (CT2).  
Ảnh hưởng của biện pháp xꢁ lý thực bì đến khả năng sinh trưởng của cây trồng  
Kết quả đánh giá ảnh hưởng của biện pháp xử lý thực bì đến sinh trưởng chiều cao và  
đường kính cây được thể hiện ở bảng 6.  
Qua số liệu tại bảng 7 cho thấy biện pháp xử lý thự bì có ảnh hưởng rõ rệt tới sinh trưởng  
chiều cao và đường kính ngang ngực của các loài Lim xanh và Trám trắng trong các công thức  
xử lý thực bì, cụ thể:  
Bảng 6. Sinh trưởng đường kính, chiều cao của các loài cây trồng trong các biện pháp xử lý thực bì  
Sinh trưởng đường kính  
Sinh trưởng chiều cao  
Công  
thức  
Loài cây  
∆D1.3  
(cm/năm)  
∆Hvn  
(m/năm)  
SD1.3 (%)  
SHvn (%)  
D
8,71  
7,4  
1.3 (cm)  
H
4,76  
vn (m)  
Lim xanh  
CT1  
CT2  
CT1  
CT2  
1,45  
20,99  
21,07  
15,47  
18,41  
0,79  
19,64  
27,66  
16,27  
18,27  
1,23  
1,94  
1,75  
3,57  
4,81  
4,5  
0,59  
0,8  
Trám  
trắng  
11,68  
10,5  
0,75  
* Chú thích: CT1 là công thức xử lý thực bì theo băng; CT2 là công thức xử lý thực bì toàn diện  
Nguồn: Số liệu điều tra, 2016  
47  
Trần Trung Thành và CS.  
Tập 130, Số 3A, 2021  
Đường kính ngang ngực của Lim xanh và Trám trắng trong công thức xử lý thực bì theo  
băng đạt là 8,71 cm và 11,68 cm cao hơn hẳn so với công thức xử lý thực bì toàn diện chỉ đạt 7,4  
cm và 10,5 cm. Lượng tăng trưởng bình quân về đường kính của Lim xanh trong CT1 là 1,45 cm  
và Trám trắng là 1,94cm trong khi ở CT2 chỉ đạt 1,23 cm và 1,75 cm. Hệ số biến động sinh trưởng  
đường kính của Lim xanh và Trắm trắng trong CT1 và CT2 cho thấy các loài Lim xanh và Trám  
trắng trong công thức xử lý thực bì theo băng sinh trưởng đồng đều hơn xử lý thực bì toàn diện.  
Chiều cao vút ngọn của Lim xanh trong CT1 qua kết quả điều tra cho thấy cao hơn hẳn so  
với ở CT2. Lượng trăng trưởng bình quân về chiều cao ở Lim xanh trong CT1 cao hơn so với ở  
CT2. Tuy nhiên, đối với Trám trắng thì sinh trưởng chiều cao ở CT1 thấp hơn ở CT2 và lượng  
tăng trưởng bình quân ở CT1 thấp hơn ở CT2; Hệ số biến động sinh trưởng chiều cao vút ngọn  
của Lim xanh có sự biến động lớn hơn ở Trám trắng nên có thể thấy Lim xanh sinh trưởng đồng  
đều hơn Trám trắng.  
Sử dụng tiêu chuẩn t của Student để so sánh giữa hai công thức; kiểm tra sự sai khác của  
phương sai bằng tiêu chuẩn F cho thấy P = 0,54 > 0,05 nên có thể kết luận phương sai hai mẫu  
bằng nhau; Giá trị |t Stat|= 11,1 > t Critical two-tail = 1,97, cho thấy hai mẫu có sự sai khác, như  
vậy sinh trưởng chiều cao ở CT1 cao hơn hẳn ở CT 2; tương tự ở Trám trắng giá trị |t Stat|= 3,48  
> t Critical two-tail = 1,97, hai mẫu có sự sai khác, sinh trưởng chiều cao ở CT1 cao hơn ở CT2.  
Quan sát thực tế hiện trường cho thấy đối với loài Lim xanh ở phương pháp xử lý thực bì  
toàn diện, cây phân cành khá sớm, tỷ lệ khép tán sớm hơn ở phương pháp xử lý thực bì theo  
băng. Điều này sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ lợi dụng gỗ về lâu dài đối với mục đích kinh doanh rừng  
gỗ lớn. Kết quả này khá phù hợp với các nghiên cứu về ảnh hưởng của lớp cây bụi thảm tươi đối  
với sinh trưởng của Lim xanh tại Hương Sơn (Hà Tĩnh) cho thấy nơi có độ tàn che cao (80-90%)  
sinh trưởng đường kính cổ rễ và chiều cao đạt cao giá trị cao nhất, ở nơi có độ tàn che thấp dưới  
70% thì sinh trưởng thấp hơn hẳn [10]. Điều này cho thấy đối với giai đoạn đầu tính chịu bóng  
của Lim xanh còn rất cao; mặt khác khi vượt qua được chiều cao bình quân của cây bụi, thảm  
tươi thì cần hạn chế việc loại bỏ lớp cây bụi để duy trì độ ẩm và tạo hình cho thân cây.  
Chất lượng sinh trưởng của các loài cây được thể hiện ở bảng 7.  
Bảng 7. Ảnh hưởng của biện pháp xử lý thực bì đến chất lượng cây trồng  
Chất lượng cây trồng (%)  
Loài cây  
Lim xanh  
Trám trắng  
Công thức  
Tỷ lệ khép tán (%)  
Tốt  
41,2  
35,2  
54,1  
50,1  
Trung bình  
37,5  
Xấu  
21,3  
40,3  
12,8  
14,8  
CT1  
CT2  
CT1  
CT2  
82  
85  
78  
72  
24,5  
33,1  
35,1  
* Chú thích: CT1 là công thức xử lý thực bì theo băng; CT2 là công thức xử lý thực bì toàn diện  
Nguồn: Số liệu điều tra, 2016  
48  
Jos.hueuni.edu.vn  
Tập 130, Số 3A, 2021  
Kết quả nghiên cứu cho thấy Lim xanh trong công thức xử lý thực bì theo băng có chất  
lượng cây tốt và cây trung bình cao hơn ở công thức xử lý thực bì toàn diện. Kết quả này tương  
tự đối với loài Trám trắng. Tuy nhiên sự chênh lệch giữa tỷ lệ cây tốt 35,2–41,2% và cây xấu  
21,3–40,3% ở Lim xanh cao hơn Trám trắng là 50,1–54,1% và 12,8–14,8%. Tỷ lệ khép tán của Lim  
xanh ở CT1 là 82% thấp hơn ở công thức 2 là 85%. Đối với Trám trắng thì tỷ lệ khép tán ở CT1  
đạt 78% cao hơn ở CT2 đạt 72%.  
Như vậy, qua kết quả điều tra hai loài Lim xanh và Trám trắng tại các công thức xử lý thực  
bì khác nhau có thể thấy rằng thực bì có tác động tới sinh trưởng các loài cây bản địa tại khu vực  
nghiên cứu. Công thức xử lý thực bì phù hợp là xử lý thực bì theo băng. Tùy vào từng thời điểm  
để có thể có các biện pháp tác động tới thực bì khác nhau nhằm đem lại hiệu quả tốt nhất. Qua  
kết quả trên cũng có thể thấy rằng lớp phủ thực bì không những có ý nghĩa trong giai đoạn đầu  
nhằm tạo tiểu khí hậu rừng, cải thiện tính chất đất rừng, hạn chế cỏ dại, tạo bóng… mà còn có ý  
nghĩa trong giai đoạn sinh trưởng về sau của cây bản địa trước khi chúng khép tán hoặc trước  
khi chúng ưu sáng hoàn toàn.  
3.4  
Ảnh hưởng của các dạng lập địa đến các loài cây  
Trong thực tiễn sản xuất lâm nghiệp hiện nay, đất quy hoạch cho trồng rừng sản xuất  
không phải là những lập địa tốt nhất xét về cả điều kiện tự nhiên và điều kiện thảm thực vật [7].  
Tại khu vực nghiên cứu đất dành cho trồng rừng và khoanh nuôi tái sinh phần lớn trước đó là  
đất rừng tự nhiên nhưng sau đó bị mất đi do nhiều nguyên nhân khác nhau. Với đặc điểm địa  
hình phức tạp, bị chia cắt bởi các dãy núi, bên cạnh đó lại chịu ảnh hưởng của các tiểu khí hậu  
vùng khác nhau nên thảm thực bì cũng thay đổi và có sự khác biệt tùy theo khu vực.  
Ảnh hưởng của các dạng lập địa tới tỷ lệ sống  
Kết quả nghiên diễn biến tỷ lệ sống của hai loài Lim xanh và Trám trắng trên các dạng lập  
địa tại khu vực nghiên cứu thể hiện tại bảng 8.  
Bảng 8. Tỷ lệ sống các loài cây trồng theo các dạng lập địa khác nhau  
Loài  
Công thức  
Tỷ lệ sống (%)  
Tuổi 1  
96,2  
Tuổi 2  
94,3  
Tuổi 3  
Tuổi 4  
88,2  
Tuổi 5  
84,1  
Tuổi 6  
83,2  
Lim xanh  
LĐ B  
LĐ C  
LĐ B  
LĐ C  
92,3  
87,2  
94,2  
90,4  
91,4  
90,3  
84,1  
82,1  
77,2  
Trám trắng  
98,2  
96,4  
88,3  
86,3  
84,3  
94,2  
92,3  
86,4  
84,2  
80,2  
* Chú thích: LĐB là lập địa B, LĐC là Lập địa C  
Nguồn: Dự án khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng  
49  
Trần Trung Thành và CS.  
Tập 130, Số 3A, 2021  
Qua bảng kết quả tỷ lệ sống các loài cây ở các dạng lập địa qua các năm tuổi thấy rằng tỷ  
lệ sống tại nhóm dạng lập địa B của hai loài Lim xanh (96,2%) và Trám trắng (98,2%) cao hơn ở  
nhóm dạng lập địa C với các tỷ lệ 91,4% và 94,2%. Tỷ lệ sống giảm dần theo thời gian và đến tuổi  
6 biến động từ 77,2–83,2% ở Lim xanh và 80,2–84,25 ở Trám trắng.  
Ảnh hưởng của các dạng lập địa đến khả năng sinh trưởng  
Kết quả nghiên cứu sinh trưởng đường kính và chiều cao của hai loài Lim xanh và Trám  
trắng trồng trên các dạng lập địa khác nhau thể hiện ở bảng 9.  
Qua kết quả tại bảng cho thấy rằng sinh trưởng về đường kính của cây Lim xanh trên nhóm  
dạng lập địa B qua các chỉ tiêu đường kính bình quân đạt 8,95 cm, lượng tăng trưởng đường kính  
đạt 1,49 cm/năm tốt hơn hẳn ở nhóm dạng lập địa C với các chỉ tiêu tương ứng là 7,23 cm và  
1,2 cm/năm. Tương tự với các chỉ tiêu chiều cao bình quân (4,74 m), lượng tăng trưởng chiều cao  
bình quân (0,79 m/năm) cũng cao hơn tại nhóm dạng lập địa C tương ứng là 3,61 m và 0,6 m/năm.  
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sinh trưởng đường kính của Trám trắng trong điều kiện  
lập địa B là 11,2 cm và 1,87 cm/năm cao hơn tại điều kiện lập địa C chỉ đạt 10,44 cm và 1,74  
cm/năm. Sinh trưởng chiều cao của Trám trắng trong điều kiện lập địa B với các chỉ tiêu chiều  
cao bình quân 4,78 m và lượng tăng trưởng bình quân 0,79 m/năm cao hơn trong điều kiện lập  
địa C là 4,49 m và 0,75 m/năm.  
Sử dụng các tiêu chuẩn t đánh giá cho thấy các giá |t Stat|= 4,23,1> t Critical two-tail =  
2,16, nên có thể kết luận có sự sai khác về sinh trưởng của các loài cây trên các nhóm dạng lập  
địa khác nhau.  
Bảng 9. Sinh trưởng đường kính, chiều cao của các loài cây trồng tại các dạng lập địa  
Sinh trưởng đường kính  
Sinh trưởng chiều cao  
Loài cây  
Lim xanh  
Lập địa  
LĐB  
∆D1.3  
(cm/năm)  
∆Hvn  
(m/năm)  
SHvn  
(%)  
D
1.3  
H
vn  
SD1.3 (%)  
(cm)  
(m)  
8,95  
1,49  
20,15  
21,59  
16,14  
18,55  
4,74  
0,79  
0,6  
20,38  
26,22  
18,53  
17,58  
LĐC  
LĐB  
LĐC  
7,23  
11,2  
1,2  
3,61  
4,78  
4,49  
Trám trắng  
1,87  
0,79  
0,75  
10,44  
1,74  
* Chú thích: LĐB là lập địa B, LĐC là Lập địa C  
Nguồn: Số liệu điều tra, 2016  
50  
Jos.hueuni.edu.vn  
Tập 130, Số 3A, 2021  
Bảng 10. Ảnh hưởng của các nhóm dạng lập địa đến chất lượng cây trồng  
Chất lượng cây trồng (%)  
Loài cây  
Lim xanh  
Trám trắng  
Công thức  
Tỷ lệ khép tán (%)  
Tốt  
43,2  
32,2  
56,1  
53,1  
Trung bình  
36,6  
Xấu  
20,2  
35,3  
11,8  
12,6  
LĐ B  
LĐ C  
LĐ B  
LĐ C  
84  
86  
83  
81  
32,5  
32,1  
34,3  
* Chú thích: LĐB là lập địa B, LĐC là lập địa C  
Nguồn: Số liệu điều tra, 2016  
Kết quả đánh giá ảnh hưởng của các nhóm dạng lập địa tới chất lượng cây trồng được thể  
hiện tại bảng 10.  
Qua bảng cho thấy rằng chất lượng cây trồng trên các nhóm dạng lập địa có sự khác nhau,  
ở lập địa B cả hai loài Lim xanh và Trám trắng có tỷ lệ cây tốt (43,2% và 56,1%) cao hơn ở lập địa  
C (32,2 và 53,1%). So sánh giữa Lim xanh và Trám trắng cho thấy Lim xanh có tỷ lệ cây xấu tại  
các dạng lập địa B (20,2%) và C (35,3%) đều cao hơn Trám trắng tại lập địa B (11,8%) và lập địa C  
(12,6%). Tuy nhiên sự chênh lệch nhau giữa các tỷ lệ của loài Trám tráng ở các nhóm lập địa là  
không lớn.  
Khép tán cây rừng là một bước ngoặt quan trọng trong quá trình hình thành rừng, nó có  
thể tăng sức đề kháng với các nhân tố môi trường bất lợi, giảm bớt được sự cạnh tranh cỏ dại,  
giữ được tính ổn định quần xã thực vật, tăng cường tác dụng bảo vệ đất rừng. Trong quá trình  
trồng rừng, chăm sóc rừng nếu rừng khép tán sớm hoặc không khép tán trong thời kỳ dài về cơ  
bản sẽ làm mất đi khả năng hình thành rừng, nên phải tăng mật độ trồng rừng ở mức độ cần thiết  
để xúc tiến hình thành rừng và khép tán sớm [3]. Tỷ lệ khép tán của hai loài Lim xanh và Trám  
trắng đều đạt mức cao, dao động từ 84–86% đối với Lim xanh và 81–83% đối với Trám trắng.  
Như vậy, đánh giá tỷ lệ sống và các chỉ tiêu sinh trưởng của hai loài Lim xanh và Trám  
trắng tại các dạng lập địa khác nhau cho thấy đối với các dạng lập địa khác nhau thì chất lượng  
cây trồng có sự sai khác nhau. Cây Lim xanh và cây Trám trắng thích hợp hơn với dạng lập địa  
B.  
Đꢀnh giꢀ tình hình thảm thực vật dưới tán rừng  
Nghiên cứu lớp cây bụi thảm tươi dưới tán rừng để biết được mức độ ảnh hưởng của nó  
đến quá trình sinh trưởng của các loài cây trong khu vực. Cây bụi thảm tươi là thành phần quan  
trọng tham gia vào quần xã thực vật rừng, là nơi trú ngụ của chim chóc, các loài côn trùng có ích,  
có khả năng bảo vệ và làm giàu đất, làm giàu nguồn nước và hạn chế sự phát triển của cỏ dại…  
Thông qua việc trả lại cành khô, lá rụng phân giải làm cho đất tơi xốp, tăng độ phì cho đất.  
51  
Trần Trung Thành và CS.  
Tập 130, Số 3A, 2021  
Bảng 11. Kết quả điều tra cây bụi, thảm tươi dưới tán rừng trồng dạng lập địa C  
Loài  
Lim  
xanh  
Loài cây chủ yếu  
Độ tàn che (%)  
Chất lượng  
HTB (m)  
Cỏ tranh, Mua, Sim, Sầm sì, Ba bét,  
Trinh nữ, Cỏ xước...  
70,60  
Trung bình  
1,13  
Thẩu tấu, Cỏ tranh, Bồ cu vẽ, Bục bục,  
Cựa gà, Củ cam, Màng tang, Cỏ  
xước…  
Cỏ lào, Dương xỉ, Mẫu đơn, Ba gạc,  
Chủ ké …  
Trám  
trắng  
60,30  
75,57  
Trung bình  
Trung bình  
0,98  
1,32  
Huỷnh  
Nguồn: Số liệu điều tra, 2016  
Bên cạnh đó, nó cũng có những mặt tiêu cực như: Sự cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng,  
nước… gây ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển cây rừng.  
Tỷ lệ che phủ của thảm tươi là mức độ che kín của tán cây bụi, thảm tươi theo phương  
thẳng đứng trên một đơn vị diện tích rừng được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm. Kết quả điều tra  
đánh giá tình hình cây bụi thảm tươi dưới tán rừng tại dạng lập địa C, công thức xử lý thực bì  
theo băng (CT2) được tổng hợp tại bảng 11.  
Số liệu trong bảng 11 cho thấy: Thành phần cây bụi, thảm tươi ở đây kém đa dạng, chủ  
yếu là: Cỏ tranh, Mua, Sim, Trinh Nữ, Thẩu tấu… Chiều cao bình quân lớp cây bụi thảm tươi của  
mô hình rừng trồng tuổi 6 từ 0,98–1,32m, với độ tàn che từ 60,3–75,57%. Qua điều tra quan sát  
thực tế cho thấy lớp cây bụi thảm tươi tại khu vực nghiên cứu khá rậm rạp, có nơi chiều cao lớp  
cây bụi thảm tươi tới 2m, điều này đã kìm hãm sinh trưởng của cây bản địa đặc biệt là loài Lim  
xanh trong giai đoạn đầu.  
Nhìn chung tầng cây bụi thảm tươi có chiều cao trung bình thấp hơn chiều cao tầng cây  
bản địa, với độ tàn che >50% nên không có cạnh tranh về ánh sáng với tầng cây bản địa ở tuổi 6  
mà chỉ cạnh tranh về dinh dưỡng, nước, khoáng có tác dụng chống xói mòn, bảo vệ đất. Vì vậy  
khi tiến hành chăm sóc tầng cây bản địa nhất thiết phải phát dọn dây leo, bụi rậm để giảm sự  
cạnh tranh đó tạo không gian dinh dưỡng tốt nhất cho cây bản địa phát triển.  
4
Kết luận  
Các loài cây bản địa chủ yếu được trồng và khoanh nuôi tái sinh trên địa bàn 3 huyện  
Quảng Ninh, Minh Hóa và Bố Trạch tỉnh Quảng Bình là Lim xanh, Trám trắng, Huỷnh…tổng  
diện tích đạt 3.537 ha, trong đó khoanh nuôi đạt 2.503 ha và trồng mới đạt 1.034 ha với sự tham  
gia của 2.202 hộ gia đình. Tỷ lệ sống của các loài đạt khá cao, trên 82 %, loài có sinh trưởng đường  
kính nhanh nhất là Trám trắng với lượng tăng trưởng là 11,68 cm và loài sinh trưởng thấp nhất  
là Lim xanh đạt 8,73 cm; Lượng tăng trưởng bình quân tới tuổi 6 về đường kính của các loài cây  
52  
Jos.hueuni.edu.vn  
Tập 130, Số 3A, 2021  
dao động từ 1,46–1,95 cm/năm; Trong đó đạt giá trị lớn nhất ở loài Trám trắng là 1,95 cm/năm và  
thấp nhất là Lim xanh đạt 1,46 cm/năm.  
Biện pháp xử lý thực bì có ảnh hưởng rõ rệt tới sinh trưởng chiều cao và đường kính ngang  
ngực của các loài Lim xanh và Trám trắng. Công thức xử lý thực bì phù hợp là xử lý thực bì theo  
băng. Tùy vào từng thời điểm để có thể có các biện pháp tác động tới thực bì khác nhau nhằm  
đem lại hiệu quả tốt nhất. Tỷ lệ sống và các chỉ tiêu sinh trưởng của hai loài Lim xanh và Trám  
trắng tại các dạng lập địa khác nhau cho thấy đối với các dạng lập địa khác nhau thì chất lượng  
cây trồng có sự sai khác nhau. Cây Lim xanh và cây Trám trắng thích hợp hơn với dạng lập địa  
B.  
Tài liệu tham khảo  
1. Bộ Nông nghiệp & PTNT, (2019), Quyết định số 911/QĐ-BNN-TCLN về việc công bố hiện trạng  
rừng toàn quốc năm 2018.  
2. Dự án khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng, (2016), Báo cáo kết quả điều tra lập địa, trồng rừng và  
khoanh nuôi tái sinh rừng 2010–2016, hợp phần KfW, 120.  
3. Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế và Vũ Tấn Phương, (2005), Hệ thống đánh giá đất lâm nghiệp  
Việt Nam, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 116.  
4. Hoàng Văn Thắng, (2007), Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng hỗn loài cây lá  
rộng bản địa cung cấp gỗ lớn ở Ngọc Lặc - Thanh Hóa và Cầu Hai - Phú Thọ, Luận văn thạc  
sỹ khoa học lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm Nghiệp, Xuân Mai, Hà Tây.  
5. Nguyễn Hải Tuất, Nguyễn Trọng Bình, (2005), Khai thác và sử dụng SPSS để xử lý số liệu nghiên  
cứu trong lâm nghiệp, Nxb. Nông nghiệp Hà Nội, 203.  
6. Nguyễn Hữu Vĩnh, Ngô Quang Đê, Phạm Xuân Quảng, (1986), Trồng rừng, Giáo trình Đại  
học Lâm nghiệp, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.  
7. Nguyễn Văn Khánh, (1996), Nghiên cứu phân vùng lập địa lâm nghiệp Việt Nam, Luận án  
tiến sĩ khoa học Nông nghiệp, Trường đại học Lâm nghiệp, Hà Nội.  
8. Nguyễn Xuân Quát, (1996), Vấn đề trồng cây bản địa, Thông tin khoa học kỹ thuật và kinh  
tế lâm nghiệp - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 11–12.  
9. Phạm Xuân Hoàn, Bùi Thế Đồi, Phạm Văn Điển, (2011), Kỹ thuật lâm sinh nâng cao, Giáo  
trình đại học lâm nghiệp, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội, 152tr.  
10. Trần Quốc Hoàn, (2014), Nghiên cứu phân vùng lập địa phục vụ cho sản xuất lâm nghiệp tại tỉnh  
Bình Phước, Luận án tiến sỹ Lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp, Xuân Mai, Hà Nội.  
11. Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam - Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), (2002), Sử  
dụng cây bản địa vào trồng rừng ở Việt Nam, Nxb. Nông Nghiệp.  
53  
Trần Trung Thành và CS.  
Tập 130, Số 3A, 2021  
12. Võ Đại Hải, (1996), Góp phần tìm chọn cây bản địa chất lượng cao dùng để trồng rừng ở Việt  
Nam, Thông tin khoa học lâm nghiệp, 7–10.  
13. Forestry Department Peninsular Malaysia, Perak State Forestry Department, Japan Interna-  
tional Cooperation Agency, (1999), Silviculture Manual for Multi-Storied Forest Management.  
54  
pdf 18 trang yennguyen 17460 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá tình hình sinh trưởng của các loài cây bản địa theo các dạng lập địa khác nhau: Nghiên cứu trường hợp với 3 loài cây lim xanh, trám trắng và huỷnh tại tỉnh Quảng Bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_tinh_hinh_sinh_truong_cua_cac_loai_cay_ban_dia_theo.pdf