Đề xuất sửa đổi một số quy định về sở hữu rừng trong Dự thảo luật bảo vệ và phát triển rừng (Sửa đổi)

Kinh tế & Chính sách  
ĐỀ XUẤT SỬA ĐỔI MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ SỞ HỮU RỪNG  
TRONG DỰ THẢO LUẬT BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG (SỬA ĐỔI)1  
Nguyễn Thị Tiến1, Võ Mai Anh2, Nguyễn Thị Ngọc Bích3,  
Vũ Ngọc Chuẩn4, Nguyễn Thu Trang5  
1,2,3,4,5Trường Đại học Lâm nghiệp  
TÓM TẮT  
Quyền sở hữu là một trong những khái niệm cơ bản, cốt lõi của các chế định về tài sản. Tùy theo mỗi quốc gia  
mà pháp luật cho phép chủ sở hữu được thực hiện các hành vi nhất định đối với tài sản theo ý chí của mình. Dự  
thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng đã có những sửa đổi nhất định liên quan đến quy định về sở hữu rừng. Tuy  
nhiên, về quyền sở hữu rừng trong Dự thảo vẫn còn có những điểm bất cập, chưa thực sự phù hợp với chế định  
về quyền sở hữu trong Hiến pháp cũng như trong các văn bản luật có liên quan. Bên cạnh đó, việc chỉ rõ những  
điểm tồn tại và tích cực của quy định về quyền sở hữu trong dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi là  
phân tích cơ sở khoa học của sở hữu rừng đáp ứng cho việc ban hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi)  
thay thế Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004. Vì vậy, việc nghiên cứu chỉ ra những điểm bất cập trong các  
quy định về chủ rừng và sở hữu rừng trong Dự thảo Luật bảo vệ và phát triển rừng là có ý nghĩa hết sức quan  
trọng.  
Từ khóa: Bảo vệ và phát triển rừng, quyền sở hữu, quyền sở hữu rừng.  
còn có một vài điểm mâu thuẫn, chưa phù hợp  
với các văn bản Luật khác có liên quan. Vì vậy,  
để hoàn thiện hơn nữa Luật BV&PTR, góp  
phần phục vụ cho việc sửa đổi Luật BV&PTR,  
chúng tôi có đưa ra một số góp ý với mong  
muốn góp phần hoàn thiện văn bản Luật  
BV&PTR mới.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Luật Bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR)  
2004 ra đời, cùng với các chính sách của Đảng,  
Nhà nước đối với công tác lâm nghiệp đã làm  
chuyển biến sâu sắc nhận thức của các cấp ủy  
Đảng, chính quyền và các tầng lớp nhân dân đối  
với công tác bảo vệ và phát triển rừng, làm thức  
dậy một tiềm năng to lớn từ việc sản xuất, kinh  
doanh nghề rừng. Do vậy, trong những năm qua  
cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế thì  
tỷ trọng đóng góp của nghề rừng vào GDP đã  
tăng đáng kể, cơ sở hạ tầng được đầu tư nhiều  
hơn, đời sống của nhân dân miền núi đã được  
cải thiện tốt hơn. Tuy nhiên, trong quá trình  
triển khai thực hiện các quy định về quyền sở  
hữu rừng trong Luật BV&PTR 2004 cũng vẫn  
còn có những điểm bất cập, hạn chế nhất định.  
Dự thảo Luật BV&PTR đã được rất nhiều các  
chuyên gia góp ý, đánh giá. Một trong những  
nội dung được rất nhiều chuyên gia, nhà khoa  
học quan tâm góp ý đó chính là quy định về  
quyền sở hữu rừng. Tuy nhiên, chế định này  
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Nội dung nghiên cứu  
- Làm rõ quy định về các hình thức sở hữu  
rừng trong Dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển  
rừng.  
- Chỉ ra những điểm bất cập về sở hữu rừng  
trong quy định của Dự thảo Luật Bảo vệ và  
phát triển rừng với các quy định về chế độ sở  
hữu.  
- Đề xuất sửa đổi quy định về sở hữu rừng  
trong Dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
- Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Thu  
thập các quy định có liên quan về sở hữu rừng,  
chế độ sở hữu trong các văn bản Luật.  
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Được  
dùng để phân tích, tổng hợp các thông tin thu  
trong văn bản dự thảo Luật BV&PTR mới vẫn  
1 Dự thảo 6 (xin ý kiến các Đoàn đại biểu Quốc hội)  
181  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP THÁNG 10/2017  
Kinh tế & Chính sách  
thập được nhằm đưa ra những nhận định, đánh  
giá, chỉ ra những điểm hạn chế, mâu thuẫn,  
những điểm tích cực trong quy định về sở hữu  
rừng tại Dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển  
rừng để từ đó đề xuất sửa đổi quy định này.  
III. KÊT QUẢ NGHIÊN CỨU  
nhận thừa kế rừng từ chủ rừng khác theo quy  
định của pháp luật”.  
Như vậy, theo quy định trên có hai hình  
thức sở hữu rừng đó là sở hữu toàn dân và sở  
hữu của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Việc  
quy định hai hình thức sở hữu rừng như trên đã  
có tiến bộ đáng kể so với quy định về hình  
thức sở hữu rừng tại Luật Bảo vệ và phát triển  
rừng năm 2004. Về hình thức sở hữu toàn dân  
thì nhà nước công nhận quyền sở hữu đối với  
rừng tự nhiên và rừng trồng bằng nguồn vốn  
nhà nước. Còn rừng do tổ chức cá nhân bỏ vốn  
trồng rừng không phân biệt rừng đặc dụng,  
phòng hộ hay rừng sản xuất thì được công  
nhận quyền sở hữu. Đây được coi là một chế  
định tương đối tiến bộ hơn so với Luật Bảo vệ  
và phát triển rừng 2004 khi Luật này chỉ quy  
định quyền sở hữu đối với rừng sản xuất là  
rừng trồng.  
3.1. Cơ sở khoa học và luật pháp cho việc  
xác định sở hữu rừng  
Đây là một trong những chế định có ý nghĩa  
quan trọng đối với công tác quản lý, bảo vệ và  
phát triển rừng. Quy định này được coi là gốc  
của vấn đề. Vì vậy, đã có rất nhiều các chuyên  
gia, các nhà nghiên cứu trong quá trình đánh  
giá Luật BV&PTR 2004 đã chỉ ra những bất  
cập, hạn chế của chế định về quyền sở hữu đối  
với rừng. Tuy nhiên, trong Luật BV&PTR  
2004 thì không có một quy định riêng về các  
hình thức sở hữu rừng mà chỉ đưa ra khái niệm  
sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng trong Điều  
3. Để khắc phục những thiếu sót này, hiện tại,  
Dự thảo Luật BV&PTR mới đã có riêng một  
điều về các hình thức sở hữu rừng. Theo đó,  
Dự thảo quy định như sau:  
Về chế độ sở hữu đối với rừng tự nhiên, Dự  
thảo quy định toàn bộ diện tích rừng tự nhiên  
hiện nay thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước  
đại diện chủ sở hữu. Tuy nhiên, việc tuyệt đối  
hóa “tất cả rừng tự nhiên” ở Việt Nam đều  
thuộc sở hữu toàn dân, ở một số khía cạnh, sẽ  
không phù hợp với thực tế hiện nay, và rất có  
thể sẽ dẫn đến tình trạng xung đột trong quản  
lý sử dụng rừng một cách gay gắt hơn, giống  
với hiện trạng trong lĩnh vực đất đai hiện tại.  
Việc diễn giải “rừng là của chung” rất dễ dẫn  
đến tình trạng các chủ thể, bao gồm cả tổ chức  
Nhà nước, doanh nghiệp hay người dân, tìm  
cách khai thác rừng “của Nhà nước” để tư lợi;  
hệ quả là làm triệt tiêu động lực bảo vệ rừng  
của các chủ thể tích cực và làm giảm hiệu quả,  
chất lượng công tác quản lý, bảo vệ rừng nói  
chung. Khi chính sách cấm khai thác gỗ  
thương mại rừng tự nhiên và chủ trương đóng  
cửa rừng tự nhiên do Chính phủ chỉ đạo vẫn  
“Điều 7. Sở hữu rừng2  
1. Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đối với  
rừng thuộc sở hữu toàn dân, bao gồm:  
a) Rừng tự nhiên;  
b) Rừng trồng do Nhà nước đầu tư;  
c) Rừng do Nhà nước thu hồi, được tặng  
cho hoặc các hình thức khác theo quy định của  
pháp luật.  
2. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng  
dân cư sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng,  
bao gồm:  
a) Rừng do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân,  
cộng đồng dân cư tự đầu tư;  
b) Rừng được nhận chuyển nhượng, tặng cho,  
2 Dự thảo 6 (xin ý kiến các Đoàn đại biểu Quốc hội)  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP THÁNG 10/2017  
182  
Kinh tế & Chính sách  
còn hiệu lực đã vô hình chung khóa chặt cơ hội  
được hưởng lợi từ rừng tự nhiên của các chủ  
thể nhận giao rừng. Nói cách khác, “chủ rừng”  
đối với rừng tự nhiên, đặc biệt đối với chủ rừng  
hộ gia đình, cộng đồng, chỉ là một “hư quyền”  
mà không phải là thực quyền cho chủ rừng.  
Quyền sở hữu rừng tự nhiên, xét trên cả 2  
tiêu chí: diện tích và giá trị rừng, ở thời điểm  
hiện nay, khi chính sách giao đất giao rừng cho  
hộ gia đình, cá nhân đã được thực hiện vài  
chục năm với hàng triệu ha rừng tự nhiên và  
đất trống đồi trọc đã được giao và Nhà nước đã  
thực hiện nhiều dự án trợ giúp cho dân bảo vệ  
phát triển rừng thì không thể ghi vào dự thảo  
Luật BV&PTR là Nhà nước sở hữu rừng tự  
nhiên một các chung chung như vậy, cần thừa  
nhận quyền sở hữu khác về rừng tự nhiên: sở  
hữu cá thể, cộng đồng, tư nhân và chế độ đồng  
sở hữu (nhà nước - tư nhân).  
hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu  
và thống nhất quản lý”3. Rừng tự nhiên, theo  
Hiến pháp, có thể được định nghĩa là một loại  
tài sản. Tuy nhiên, Dự thảo Luật BV&PTR lại  
chỉ đang định nghĩa “Rừng là hệ sinh thái bao  
gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi  
sinh vật rừng, và các yếu tố khác, trong đó  
thành phần chính là cây gỗ, tre, nứa, họ dừa  
với chiều cao trên 5 mét đối với hệ thực vật núi  
đất hoặc trên 2 mét đối với các hệ thực vật  
khác đạt độ dài che từ 0,1 trở lên; diện tích  
liền vùng từ 0,5 ha trở lên”4. Định nghĩa này  
mới chỉ đề cập đến khía cạnh sinh thái, sinh  
học mà chưa bao quát hết vai trò, ý nghĩa và  
giá trị của rừng xét trên các phương diện kinh  
tế và xã hội. Vì vậy, Dự thảo cần bổ sung định  
nghĩa rõ ràng hơn về rừng theo hướng rừng là  
một loại tài sản. Quy định này sẽ giúp định  
hình các quy định về chế độ sở hữu, quyền  
cũng như nghĩa vụ của các chủ thể liên quan  
đến rừng một cách xuyên suốt và thống nhất.  
3.2. Thực tiễn của sở hữu rừng tại Việt Nam  
và những vấn đề đang đặt ra  
Theo số liệu công bố5 tính đến ngày  
31/12/2016, diện tích rừng hiện có 14.377.682  
ha. Trong đó, rừng tự nhiên 10.242.141 ha;  
rừng trồng 4.135.541 ha. Diện tích rừng đủ tiêu  
chuẩn để tính độ che phủ toàn quốc là  
13.631.934 ha, độ che phủ tương ứng là  
41,19%. Trog tổng số 8.839.154 ha rừng gỗ thì  
có tới 588.150 ha rừng nghèo kiệt. Với con số  
này thì việc xác định chế độ sở hữu cũng như  
cơ chế khai thác sử dụng là hết sức khó khăn.  
Trong khi đó, Hiến pháp 2013 quy định  
“Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng  
sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên  
Do đó, Nhà nước cần công nhận quyền sở  
hữu khác về rừng tự nhiên: sở hữu cá thể, cộng  
đồng, tư nhân và chế độ đồng sở hữu (nhà  
nước và tư nhân). Bởi lẽ, chất lượng rừng biến  
đổi theo thời gian phụ thuộc vào quá trình tái  
sinh tự nhiên và xúc tiến tái sinh do các chủ  
rừng đầu tư. Do đó, không phải ở mọi thời  
điểm sở hữu rừng tự nhiên (xét theo chỉ tiêu  
chất lượng, giá trị rừng) đều thuộc sở hữu Nhà  
nước. Quyền sở hữu Nhà nước với rừng chỉ  
nên xác lập ở lọai rừng đặc dụng và phòng hộ  
(khu phòng hộ tập trung) và một ít rừng tự  
nhiên sản xuất tập trung (những công ty lâm  
nghiệp quốc doanh có quy mô lớn), còn lại nên  
chuyển đổi thành các loại sở hữu khác với  
phương thức thích hợp.  
Bên cạnh đó, Hiến pháp 2013 quy định  
“Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng  
sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài  
nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà  
nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở  
3 Điều 53, Hiến pháp 2013  
4Khoản 2, Điều 3 - Giải thích từ ngữ  
5Quyết định số 1819/QĐ-BNN-TCLN ngày 16/5/2017  
về công bố hiện trạng rừng toàn quốc.  
183  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP THÁNG 10/2017  
Kinh tế & Chính sách  
thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước  
đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu  
toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và  
thống nhất quản lý”6. Như vậy, tất cả các  
nguồn tài nguyên đều thuộc sở hữu toàn dân do  
nhà nước thống nhất quản lý. Trong Luật Đất  
đai 2013, ghi: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân  
do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” (điều 5);  
Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với  
đất đai, trao quyền sử dụng đất cho người sử  
dụng đất và điều tiết các nguồn lợi từ đất đai.  
Theo Hiến pháp quy định thì rừng tự nhiên  
cũng thuộc sở hữu toàn dân và trong dự thảo  
Luật BV&PTR, tại Khoản 1 Điều 7 ghi “Nhà  
nước sở hữu rừng tự nhiên…”. Nhưng theo  
chúng tôi, tuy cùng là tài nguyên thiên nhiên  
song tài nguyên rừng tự nhiên có những đặc  
điểm khác với tài nguyên đất đai và do đó  
quyền sở hữu rừng của Nhà nước đối với đất  
đai có khác với rừng tự nhiên. Đặc điểm khác  
biệt cơ bản của rừng tự nhiên và đất đai là:  
rừng tự nhiên là tài nguyên tái tạo được, được  
bảo vệ & phát triển sẽ sinh sôi nẩy nở cả về  
diện tích, chất lượng và giá trị rừng; có đất đai  
là tài nguyên không tái tạo được. Rừng luôn  
gắn với đất đai không thể tách rời. Chu kỳ sinh  
trưởng của cây rừng tự nhiên rất dài; chu kỳ  
sản xuất của rừng tự nhiên thường từ 25 - 30  
năm (khai thác chọn theo phương án điều chế  
rừng). Quá trình tái sản xuất trong kinh doanh  
rừng tự nhiên vừa là quá trình tái sản xuất tự  
nhiên và quá trình tái sản xuất kinh tế, khi áp  
dụng phương thức thâm canh rừng thì quá trình  
tái sản xuất kinh tế ngày càng có vai trò quan  
trọng. Tiêu chí đo lường rừng tự nhiên khác với  
đất đai: tiêu chí đo lường đất đai thông thường  
là diện tích, tính bằng m2, ha… Nhưng đối với  
rừng tự nhiên, tiêu chí diện tích là không đủ,  
đồng thời với diện tích là tiêu chí chất lượng  
rừng. Thông thường hiện nay mới dùng trữ  
lượng gỗ m3/ha, là chưa đủ, vì cùng một trữ  
lượng nhưng tổ thành loài cây khác nhau rừng  
có giá trị rất khác nhau. Đối với rừng tự nhiên  
sản xuất, tiêu chí chất lượng rừng là cực kỳ  
quan trọng, nó là yếu tố quan trọng nhất để  
quyết định giá rừng cao hay thấp (tính trên ha).  
Rừng tự nhiên có giá trị về môi trường sinh  
thái, đa dạng sinh học và cả kinh tế, gấp nhiều  
lần rừng trồng. Ở nước ta chưa có nghiên cứu  
tính giá trị môi trường bằng tiền, nhưng ở các  
nước phát triển cho thấy giá trị môi trường  
chiếm trên 90% tổng giá trị của rừng (giá trị  
lâm sản hàng hóa chỉ chiếm 4 - 5%). Giá trị  
môi trường của rừng là giá trị phi hàng hóa,  
hiện nay tòan xã hội đang sử dụng mà không  
phải trả phí. Tuy giá trị lâm sản hàng hóa của  
rừng tự nhiên nhỏ so với tổng giá trị của rừng,  
nhưng đối với nền kinh tế địa phương ở vùng  
còn rừng, rừng tự nhiên vẫn là một nguồn lực  
đáng kể cho phát triển, đặc biệt là đối với miền  
núi. Đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số  
còn gắn bó nhiều với rừng tự nhiên, nhất là  
lâm sản ngoài gỗ. Như vậy, việc xác định chế  
độ sở hữu đối với rừng tự nhiên trong dự thảo  
cần làm rõ vấn đề này.  
Hình thức sở hữu theo quy định của Bộ luật  
dân sự: theo quy định tại Mục 2 Chương XIII  
có quy định hình thức sở hữu như sau: Trên cơ  
sở chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở  
hữu tư nhân, các hình thức sở hữu bao gồm sở  
hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân,  
sở hữu chung, sở hữu của tổ chức chính trị, tổ  
chức chính trị - xã hội, sở hữu của tổ chức  
chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội,  
tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Như vậy, ngoài  
6 Điều 53, Hiến pháp 2013  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP THÁNG 10/2017  
184  
Kinh tế & Chính sách  
hình hai hình thức sở hữu như dự thảo Luật  
BV&PTR quy định thì còn có rất nhiều các  
hình thức sở hữu khác. Vì vậy, việc chỉ quy  
định có hai hình thức sở hữu như trong Dự  
thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng là chưa  
thực sự phù hợp với các hình thức sở hữu trong  
Bộ luật Dân sự. Điều này sẽ khiến cho quá  
trình thực thi pháp luật trong thực tiễn sẽ hết  
sức khó khăn vì có sự thiếu thống nhất về một  
quy định trong các văn bản pháp luật. Do đó,  
việc bổ sung thêm các hình thức sở hữu rừng là  
yêu cầu thiết yếu của Dự thảo luật này.  
tự nhiên thứ sinh, rừng phục hồi tự nhiên hoặc  
rừng tự nhiên phục hồi, rừng trồng bằng nguồn  
đầu tư của Nhà nước. Đối với rừng sản xuất có  
thể đa dạng hóa về hình thức sở hữu; trong đó  
có quy định sở hữu riêng và sở hữu chung đối  
với diện tích rừng kinh tế (cả tự nhiên, rừng  
trồng) hình thành do tổ chức hoặc người dân tự  
đầu tư, bảo vệ và khoanh nuôi, phục hồi và làm  
giầu rừng. Quy định sở hữu cộng đồng đối với  
các loại rừng kinh tế được giao cho cộng đồng  
và do cộng đồng đầu tư hình thành vốn rừng.  
Dự thảo cần bổ sung định nghĩa rõ ràng  
hơn về rừng theo hướng rừng là một loại tài  
sản. Quy định này sẽ giúp định hình các quy  
định về chế độ sở hữu, quyền cũng như nghĩa  
vụ của các chủ thể liên quan đến rừng một  
cách xuyên suốt và thống nhất.  
3.3. Một số ý kiến đề xuất góp ý quy định về  
sở hữu rừng trong dự thảo Luật (kiến nghị  
sửa trực tiếp vào Điều 7 trong Dự thảo  
Luật)  
Sở hữu rừng là một vấn đề quan trọng, nó sẽ  
là căn cứ pháp lý, là gốc để quy định các vấn  
đề khác có liên quan như chế độ khai thác, chế  
độ quản lý, bảo vệ, cơ chế hưởng lợi. Do đó,  
việc sửa đổi quy định này là hết sức cần thiết  
và cần phải đi theo các hướng sửa đổi sau:  
Quyền sở hữu Nhà nước với rừng chỉ nên  
xác lập ở loại rừng đặc dụng và phòng hộ (khu  
phòng hộ tập trung) và một ít rừng tự nhiên sản  
xuất tập trung (những công ty lâm nghiệp quốc  
doanh có quy mô lớn), còn lại nên chuyển đổi  
thành các loại sở hữu khác với phương thức  
thích hợp.  
IV. KẾT LUẬN  
Trước tình hình suy thoái tài nguyên rừng  
hiện nay, Nhà nước luôn không ngừng hoàn  
hiện pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, đặc  
biệt là việc sửa đổi Luật Bảo vệ và phát triển  
rừng 2004 với nhiều điểm mới sửa đổi, bổ  
sung chắc chắn sẽ mang đến những tác động  
tích cực cho việc bảo vệ tài nguyên rừng. Đối  
với mỗi cá nhân, tổ chức việc hiểu rõ về quyền  
sở hữu rừng giúp chúng ta nghiêm chỉnh chấp  
hành pháp luật và nâng cao ý thức hành động  
về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, nhằm  
bảo vệ có hiệu quả môi trường sống của con  
người.  
Phân biệt rõ các loại hình sở hữu đối với  
rừng (xác định giá trị tài sản đối với rừng):  
khác với đất đai, rừng có thể là sở hữu toàn  
dân, có thể là sở hữu chung, sở hữu riêng.  
Quy định chi tiết các loại hình sở hữu đối  
với rừng, cụ thể: Quyền sở hữu toàn dân do  
Nhà nước đại diện chủ sở hữu với rừng chỉ nên  
xác lập ở loại rừng tự nhiên nguyên sinh, rừng  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Cục Kiểm lâm (2015). Báo cáo tổng kết đánh giá  
tình hình thực hiện Luật BV&PTR.  
2. Quốc Hội (2004). Luật bảo vệ và phát triển rừng.  
3. Quốc hội. Dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng.  
4. Quốc Hội (2013). Hiến Pháp 2013.  
5. Quốc Hội (2013). Luật Đất đai.  
185  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP THÁNG 10/2017  
Kinh tế & Chính sách  
RECOMMENDATIONS FOR AMENDMENTS TO A NUMBER OF  
PROVISIONS ON FOREST OWNERSHIP IN THE DRAFT LAW ON  
FOREST PROTECTION AND FOREST DEVELOPMENT (AMENDED)  
Nguyen Thi Tien1, Vo Mai Anh2, Nguyen Thi Ngoc Bich3,  
Vu Ngoc Chuan4, Nguyen Thu Trang5  
1,2,3,4,5Vietnam National University of Forestry  
SUMMARY  
Ownership right is one of the basic and core concepts of property regulations. Depending on the country where  
the law allows the owner to perform certain acts on the property according to its will. The Draft Law on Forest  
Protection and Development (amended) has made certain amendments related to the forest ownership  
regulations. However, forest ownership in the Draft still has some shortcomings, not really in line with the right  
of ownership in the Constitution as well as in related laws. In addition, the identification of the existing and  
positive aspects of ownership provisions in the Draft Law of Forest Protection and Development has not  
analyzed the scientific basis of forest ownership in response to the promulgation of the Law on Forest  
Protection and Development (amended) replaced the Law on Forest Protection and Development in 2004.  
Therefore, the paper is to point out the inadequacies in the regulations on forest owners and forest owners in the  
Draft Law on Forest Protection and Development, so it is very essential.  
Keywords: Forest protection and development, forest ownership, ownership interest.  
Ngày nhận bài  
Ngày phản biện  
Ngày quyết định đăng  
: 28/8/2017  
: 16/9/2017  
: 28/9/2017  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP THÁNG 10/2017  
186  
pdf 6 trang yennguyen 8660 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đề xuất sửa đổi một số quy định về sở hữu rừng trong Dự thảo luật bảo vệ và phát triển rừng (Sửa đổi)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfde_xuat_sua_doi_mot_so_quy_dinh_ve_so_huu_rung_trong_du_thao.pdf