Hội thảo Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho ngành Lâm nghiệp: Thành tựu và định hướng phát triển

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN  
TỔNG CỤC LÂM NGHIỆP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP  
HỘI THẢO  
ĐÀO TẠO, PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHO NGÀNH  
LÂM NGHIỆP: THÀNH TỰU VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN  
Hà Nội, ngày 05 tháng 6 năm 2020  
LỜI NÓI ĐẦU  
Lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt, kinh tế kỹ thuật đặc  
thù liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm từ trồng rừng, quản lý, bảo vệ, sử dụng  
rừng, chế biến và thương mại lâm sản. Luật Bảo vệ và Phát triển rừng có ghi  
"Rừng là tài nguyên quý báu của đất nước, có khả năng tái tạo, là bộ phận quan  
trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, gắn  
liền với đời sống của nhân dân với sự sống còn của dân tộc”  
Trong 75 năm qua, công tác đào tạo nguồn nhân lực của các Trường Đại học,  
cao đẳng, trung cấp nghề, Viện nghiên cứu trực thuộc Bộ NN&PTNT đã đóng góp  
vai trò quan trọng trong phát triển ngành Lâm nghiệp. Việt Nam xếp thứ 5 trên thế  
giới về xuất khẩu sản phẩm gỗ trong tương lai không xa, nước ta sẽ trở thành Trung  
tâm sản xuất đồ gỗ của thế giới. Tuy nhiên, một trong những vấn đề quan trọng, cấp  
bách trong giai đoạn hiện nay của ngành chính là số lượng và chất lượng nguồn nhân  
lực còn nhiều hạn chế nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao.  
Hưởng ứng kỷ niệm 75 năm thành lập ngành Lâm nghiệp, Trường Đại học  
Lâm nghiệp phối hợp với Tổng cục Lâm nghiệp chủ trì tổ chức Hội thảo “Đào tạo,  
phát triển nguồn nhân lực cho ngành lâm nghiệp: Thành tựu và định hướng  
phát triển”. Kỷ yếu của Hội thảo bao gồm nhiều bài viết có chất lượng tốt thể  
hiện được các thành tựu trong Đào tạo nguồn nhân lực của ngành Lâm nghiệp; đề  
ra những định hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho các ngành nghề  
đào tạo từ cao đẳng nghề đến đại học, sau đại học; các giải pháp phát triển mối  
quan hệ hợp tác giữa nhà trường, các cơ quan quản lý và doanh nghiệp trong đào  
tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của ngành Lâm nghiệp và toàn xã hội.  
Thay mặt các đơn vị đào tạo trong ngành Lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm  
nghiệp trân trọng cảm ơn Bộ NN&PTNT, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục dạy  
nghề, các Sở NN&PTNT, Sở KHCN, các cơ quan, tổ chức, cá nhân, các nhà quản  
lý, doanh nghiệp và các thầy cô giáo đã tạo điều kiện để Nhà trường hoàn thành  
nhiệm vụ đào tạo phát triển nguồn nhân lực, góp phần quan trọng trong sự phát  
triển của ngành Lâm nghiệp nước nhà.  
TM. BAN TỔ CHỨC  
NGND.GS.TS. Trần Văn Chứ  
MỤC LỤC  
TS. Nguyễn Quốc Trị, Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp  
Trường Đại học Lâm nghiệp  
CHƯƠNG TRÌNH HỘI THẢO  
Thời gian tổ chức: Ngày 05 tháng 6 năm 2020  
Địa điểm: Hội trường G6, Trường Đại học Lâm nghiệp  
Thời gian  
Nội dung  
Chịu trách nhiệm  
7:30-8:00 Đón tiếp đại biểu  
Ban tổ chức  
Ban tổ chức  
8:00-8:10 Giới thiệu Trường Đại học Lâm nghiệp  
8:10-8:20 Khai mạc Hội thảo  
Ban tổ chức  
GS.TS. Trần Văn Chứ  
Hiệu trưởng -  
8:20-8:30 Phát biểu chào mừng Hội thảo  
Báo cáo tham luận  
Trường Đại học Lâm nghiệp  
GS.TS. Phạm Văn Điển  
Phó tổng cục trưởng -  
Tổng cục Lâm nghiệp  
Giải bài toán nhân lực phục vụ phát triển Lâm  
nghiệp bền vững ở Việt Nam  
PGS.TS. Phạm Minh Toại  
Trưởng phòng Đào tạo -  
Trường Đại học Lâm nghiệp  
Đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Lâm  
nghiệp: Thực trạng và định hướng phát triển  
PGS.TS. Phí Hồng Hải  
Phó Viện trưởng -  
Viện Khoa học Lâm nghiệp  
Việt Nam  
Gắn kết giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo  
8:30-9:40  
phát triển nguồn nhân lực ngành Lâm nghiệp  
của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam  
Ngô Sỹ Hoài - Phó Chủ tịch  
kiêm tổng thư ký - Hiệp hội  
Gỗ và Lâm sản Việt Nam  
Hợp tác và liên kết giữa Nhà trường và Doanh  
nghiệp để phát triển nguồn nhân lực cho ngành  
công nghiệp gỗ  
Nguyễn Tiến Lâm  
Phó Giám đốc -  
Sở NN&PTNT tỉnh Nghệ An  
Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực  
trong quản lý và sản xuất Lâm nghiệp tại tỉnh  
Nghệ An  
Ký kết thỏa thuận hợp tác giữa Trường Đại  
9:40-9:50  
Ban tổ chức  
học Lâm nghiệp với Doanh nghiệp  
9:50-10:05 Giải lao  
Toàn thể đại biểu  
10:05-11:20 Phiên thảo luận  
Toàn thể đại biểu  
TS. Hà Công Tuấn  
Thứ trưởng thường trực -  
Bộ NN&PTNT  
11:20-11:30 Phát biểu của Lãnh đạo Bộ NN&PTNT  
11:30-12:00 Kết luận Hội thảo  
Chủ trì Hội thảo  
PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM  
TS. Nguyễn Quốc Trị, Tổng cục trưởng  
Tổng cục Lâm nghiệp  
I. MỘT SỐ THÀNH TỰU LÂM NGHIỆP VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011- 2020  
1. Thực hiện tốt nhiệm vụ tham mưu xây dựng thể chế chính sách  
- Trình Quốc hội ban hành Luật Lâm nghiệp (Luật số 16/2017/QH14) thay thế  
Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 theo hướng chủ động ứng phó với biến đổi  
khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.  
- Tham mưu Chính phủ ban hành 22 Nghị định nhằm cụ thể hóa Luật Lâm  
nghiệp; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 27 Quyết định, 03 Chỉ thị.  
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành 67 Thông tư; 34 Quyết  
định hướng dẫn thực hiện các Nghị định của Chính phủ trong lĩnh vực lâm nghiệp.  
2. Về thực hiện các chỉ tiêu ngành  
- Tăng diện tích rừng từ 13,15 triệu ha, độ che phủ 39,7% năm 2011, lên gần  
14,61 triệu ha, độ che phủ 41,89% năm 2019; dự kiến đạt 14,65 triệu ha, độ che phủ  
42% vào năm 2020.  
- Giai đoạn 2010 - 2015 giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp có tốc độ tăng  
trưởng bình quân là 5,87%. Giai đoạn 2016 - 2020 giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp  
có tốc độ tăng trưởng bình quân là 5,94% .  
1
   
- Về xuất khẩu lâm sản, Việt Nam đã trở thành quốc gia đứng thứ 5 trên thế  
giới, thứ 2 Châu Á, thứ nhất Đông Nam Á về xuất khẩu lâm sản, hiện sản phẩm đồ  
gỗ của Việt Nam đã có mặt tại hơn 120 quốc gia và vùng lãnh thổ.  
- Thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng  
Giai đoạn 2013 - 2020 tổng nguồn thu từ DVMTR đạt 15.657 tỷ đồng, bình  
quân mỗi năm 1.957 tỷ đồng. Đây là nguồn lực rất quan trọng để góp phần vào phát  
triển kinh tế đất nước nói chung và phát triển kinh tế ngành Lâm nghiệp nói riêng.  
Góp phần tạo việc làm, thu nhập, góp phần xóa đói, giảm nghèo, đặc biệt là đồng bào  
dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa.  
3. Công tác quản lý, bảo vệ rừng  
Diện tích rừng bị mất do chặt phá trái phép và cháy rừng hàng năm liên tục  
giảm so với năm trước khoảng 30 - 50%, số vụ giảm khoảng 10%.  
4. Về Nghiên cứu khoa học  
Tập trung nghiên cứu chọn tạo giống cho các loài cây trồng rừng chủ lực, đặc  
biệt đã sử dụng công nghệ sinh học trong việc chọn, tạo và nhân giống để tạo ra các  
giống cho tăng năng suất, chất lượng gỗ cao và chống chịu với các điều kiện môi  
trường bất lợi công nhận 216 giống mới; nghiên cứu thiết kế, chế tạo công cụ, thiết bị  
cơ giới hóa các khâu sản xuất của lâm nghiệp; ứng dụng ảnh vệ tinh có độ phân giải  
cao trong quản lý, bảo vệ rừng.  
5. Về hợp tác quốc tế trong Lâm nghiệp  
2
- Tham gia chủ động, tích cực và có trách nhiệm các Công ước quốc tế, tổ chức  
đa phương, diễn đàn về lâm nghiệp toàn cầu và khu vực: thực hiện 34 đầu mối hợp  
tác quốc tế; 13 Hiệp định, cam kết cấp quốc tế và châu lục; 09 đầu mối hợp tác khu  
vực ASEAN; và 10 đầu mối hợp tác song phương về Lâm nghiệp.  
- Chủ động đàm phán, ký kết và thực hiện các hiệp định thương mại: thực hiện  
thành công đàm phán về Hiệp định Đối tác tự nguyện về thực thi lâm luật, quản trị  
rừng và thương mại lâm sản.  
6. Công tác quy hoạch ngành Lâm nghiệp  
Thực hiện soát quy hoạch lại 3 loại rừng phù hợp với yêu cầu thực tiễn, đảm  
bảo yêu cầu bảo tồn, phòng hộ và phát triển kinh tế bền vững. Quy hoạch ổn định 164  
khu rừng đặc dụng, trong đó có 33 Vườn quốc gia, 57 Khu Dự trữ thiên nhiên, 12  
Khu bảo tồn loài và sinh cảnh; 53 Khu bảo vệ cảnh quan; 9 Khu nghiên cứu khoa  
học, thực nghiệm.  
II. TỒN TẠI, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN  
1. Tồn tại, hạn chế  
- Về bảo vệ rừng: Vẫn còn những điểm nóng về phá rừng, vận chuyển, tàng trữ  
lâm sản trái phép và chống người thi hành công vụ. Cháy rừng, mất rừng vẫn tiềm ẩn  
rủi ro.  
- Về phát triển rừng: Đầu tư vào phát triển rừng còn hạn chế, khâu tuyển chọn  
và sử dung giống chất lượng còn khó khăn dẫn đến năng suất rừng còn thấp, hiệu quả  
thấp.  
- Về chế biến lâm sản: năng suất lao động còn thấp, thiếu hụt nguồn lao động có  
tay nghề cao, chưa hình thành được chuỗi cung ứng.  
2. Nguyên nhân chủ yếu  
- Nhận thức của một số cấp ủy đảng, chính quyền chưa đầy đủ, thiếu kiên quyết  
ngăn chặn nạn phá rừng, gây cháy rừng;  
- Đầu tư cho công tác bảo vệ và phát triển rừng chưa tương xứng, đặc biệt cơ sở  
vật chất cho công tác phòng chống cháy rừng, bảo vệ rừng còn nhiều hạn chế;  
- Công tác quy hoạch sử dụng Quy hoạch đất lâm nghiệp tại nhiều địa phương  
không nghiêm, xử lý sai phạm thiếu kiên quết.  
III. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU  
1. Quan điểm  
a) Lâm nghiệp là ngành kinh tế - kỹ thuật đặc thù theo chuỗi bao gồm quản lý,  
bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng, chế biến và thương mại lâm sản.  
b) Lâm nghiệp phát triển bền vững toàn diện về các mặt kinh tế, xã hội và môi  
trường góp phần quan trọng cho phát triển bền vững đất nước, đảm bảo hài hòa giữa  
3
phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và bảo vệ đa dạng sinh học.  
c) Xã hội hóa lâm nghiệp nhằm huy động nguồn lực của toàn xã hội cho phát  
triển lâm nghiệp bền vững.  
d) Hội nhập quốc tế sâu, rộng tạo động lực mở rộng thị trường cho phát  
triển lâm nghiệp bền vững và thực hiện cam kết quốc tế.  
e) Lâm nghiệp "môi trường", lâm nghiệp "bảo tồn có khai thác" là những  
hướng đi có triển vọng nhằm giảm thiểu biến đổi khí hậu, bảo vệ đa dạng sinh học,  
cải thiện sinh kế và tăng nguồn thu từ rừng.  
2. Mục tiêu  
- Duy trì, ổn định tỷ lệ che phủ rừng đạt 42%;  
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp: 5,0-6,5%/năm;  
- Giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản: đạt 18-20 tỷ USD vào năm 2025;  
- Nâng cao năng suất, chất lượng và phát huy giá trị của từng loại rừng; tạo  
thêm việc làm, tăng thu nhập cho dân cư, góp phần xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo  
quốc phòng, an ninh.  
IV. ĐỊNH HƯỚNG TRONG GIAI ĐOẠN 2021 - 2025  
- Phát triển ngành lâm nghiệp bền vững, toàn diện về các mặt kinh tế, xã hội và  
môi trường góp phần quan trọng cho phát triển bền vững chung của đất nước, gắn với  
xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới.  
- Thực hiện liên kết giữa các hộ gia đình, các trang trại với các doanh nghiệp,  
các nhà khoa học và các cấp chính quyền ở địa phương.  
- Kết hợp hài hoà giữa phát triển vùng nguyên liệu với chế biến quy mô lớn,  
tập trung hiện đại đồng thời phát huy thế mạnh chế biến thủ công với sơ chế của cơ  
sở chế biến vừa và nhỏ và của hộ gia đình.  
- Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, công nghệ mới, tiên tiến, thân  
thiện với môi trường vào các khâu của chuỗi hoạt động, tạo ra đột phá phát triển  
ngành lâm nghiệp.  
- Tích cực, chủ động hội nhập quốc tế nhằm nâng cao vai trò, giá trị của ngành  
lâm nghiệp.  
V. GIẢI PHÁP  
1. Giải pháp về bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng  
- Tăng cường công tác kiểm soát, kiểm tra và thanh tra việc chuyển mục đích  
sử dụng đất có rừng sang mục đích khác; thực hiện nghiêm Nghị quyết 71/NQ-CP.  
- Kiểm tra, đôn đốc các địa phương đẩy mạnh việc phân công, phân cấp trách  
nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp.  
4
- Tăng cường Công tác tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm thực  
hiện các quy định của Pháp luật về BVR, PCCCR và quản lý nương rẫy; điều tra, xử  
lý nghiêm triệt để các vụ vi phạm.  
2. Giải pháp thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu  
- Thực hiện tốt công tác giống cây lâm nghiệp; phát triển trồng cây phân tán;  
sử dụng có hiệu quả nguồn gỗ cao su khai thác từ các vườn cây tái canh.  
- Triển khai quản lý rừng bền vững theo Luật Lâm nghiệp.  
- Đổi mới trong quản lý lưu thông hàng hóa lâm sản; đảm bảo nguồn gốc hợp  
pháp, Phát triển thương mại điện tử.  
3. Giải pháp huy động nguồn lực trong và ngoài nước  
Chủ động hội nhập, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế; có biện pháp bảo vệ  
thị trường nội địa; đẩy mạnh đàm phán và ký kết các hiệp định song phương về  
thương mại lâm sản. vận động, thu hút nguồn vốn ODA và FDI.  
5. Giải pháp về cơ chế, chính sách  
- Triển khai hiệu quả, đồng bộ Luật Lâm nghiệp và các cơ chế, chính sách hiện  
hành; đồng thời nghiên cứu xây dựng hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện các cam  
kết quốc tế như: CP-TPP, VPA/FLEGT; một số cơ chế, chính sách để tháo gỡ khó  
khăn cho doanh nghiệp.  
- Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình, đề án đã được Chính phủ phê  
duyệt; xây dựng Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030,  
tầm nhìn đến 2040, Quy hoạch Lâm nghiệp cấp quốc gia giai đoạn 2021-2030 tầm  
nhìn đến năm 2050.  
6. Giải pháp về khoa học, công nghệ và đào tạo  
- Ưu tiên các nghiên cứu cải thiện giống cây trồng và thâm canh rừng, giống  
nhập ngoại có chất lượng cao, giống biến đổi gen;  
- Cải thiện chương trình đào tạo, dạy nghề, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao,  
gắn nhà trường với doanh nghiệp; đổi mới chương trình giảng dạy, đào tạo tại các  
trường đại học, cao đẳng, dạy nghề.  
5
ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHO NGÀNH LÂM NGHIỆP:  
THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN  
Trường Đại học Lâm nghiệp  
1. ĐẶC ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC CỦA NGÀNH LÂM NGHIỆP  
1.1. Bối cảnh chung  
Lâm nghiệp là một ngành kinh tế - kỹ thuật bao gồm quản lý, bảo vệ, phát  
triển, sử dụng rừng; chế biến và thương mại lâm sản (Nguyễn Bá Ngãi và Nguyễn  
Quốc Trị, 2020), có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, đảm bảo an  
sinh xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Hiện nay, ngành Lâm nghiệp đang quản lý  
14,6 triệu ha đất có rừng (trong đó: gần 10,3 triệu ha rừng tự nhiên và gần 4,3 triệu ha  
rừng trồng). Tính đến thời điểm 31/12/2019, độ cho phủ của rừng đạt khoảng 41,85%  
tính đến thời điểm 31/12/2019 (Bộ NN&PTNT, 2020a). Nếu chỉ tính riêng năm 2019,  
cả nước đã trồng được 293.152 ha rừng, sản lượng khai thác gỗ rừng trồng đạt  
khoảng 210.000ha tương đương 19,5 triệu m3; sản phẩm lâm sản của Việt Nam được  
xuất khẩu sang trên 140 quốc gia với giá trị xuất khẩu đạt 11,2 tỷ USD, tăng 19,2%  
so với năm 2018 (Bộ NN&PTNT, 2020b) và cao hơn rất nhiều so với con số xuất  
khẩu chỉ đạt 4,1 tỷ USD vào năm 2011.  
Công tác quản lý rừng cũng đã và đang được Ngành lâm nghiệp tập trung triển  
khai theo hướng thúc đẩy triển khai công tác quản lý rừng bền vững và xã hội hóa  
nghề rừng được đề cập trong mục tiêu chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai  
đoạn 2006 - 2020 và Đề án quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng tại Quyết định  
số 1228/QĐ-TTg ngày 01/10/2018 của Thủ tướng chính phủ. Tính đến cuối năm  
2019, diện tích rừng đã có 11,56 triệu ha rừng được giao cho chủ rừng (chiến 78,7%  
tổng diện tích rừng toàn quốc); trên 269.163 ha thuộc địa bàn trên 24 tỉnh đã được  
cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững; 59.528 ha diện tích Cao su của Tập đoàn công  
nghiệp Cao su Việt Nam được xây dựng phương án quản lý rừng bền vững với  
11.432ha được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững của Việt Nam (Bộ NN&PTNT,  
2020b).  
Nghề rừng đã góp phần quan trọng trong việc cải thiện sinh kế của trên 25  
triệu người, với trên 12 triệu là đồng bào dân tộc thiểu số đang sống gần rừng. Bên  
cạnh các nguồn thu từ gỗ và lâm sản ngoài gỗ, đã có hàng trăm nghìn chủ rừng ở các  
lưu vực hồ thủy điện được hưởng trên 15.657 tỷ đồng tiền chi trả dịch vụ môi trường  
rừng trong giai đoạn 2013 - 2020.  
Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực lâm nghiệp tiếp tục được đẩy mạnh, bên cạnh  
nhiều chương trình hợp tác song phương và đa phương, các dự án quốc tế lớn đã  
được triển khai, năm 2010 Chính phủ Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EU) đã đàm  
phán thành công Hiệp định Đối tác tự nguyện về thực thi lâm luật, quản trị rừng và  
7
   
thương mại lâm sản (Hiệp định VPA/FLEGT), Hiệp định này chính thức có hiệu lực  
từ 01/6/2019; Nghị định thư hợp tác về lâm nghiệp giữa Tổng cục Lâm nghiệp và Cơ  
quan Lâm nghiệp Hoa kỳ đã được ký năm 2013...  
Bên cạnh kết quả đạt được, Ngành lâm nghiệp đang đứng trước những thách  
thức của xu thế hội nhập, toàn cầu hóa, biến đổi khí hậu, năng suất lao động thấp,  
ngành nghề đặc thù có sức hấp dẫn không cao; vẫn còn nhiều điểm nóng về công tác  
bảo vệ rừng do nguồn nhân lực thực thi công tác bảo vệ rừng còn mỏng, địa bàn bảo  
vệ khó khăn...  
1.2. Mục tiêu chiến lược của Ngành lâm nghiệp  
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khóa X và Văn kiện Đại hội Đảng toàn  
quốc lần thứ XI khẳng định: đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đã trở thành mục  
tiêu chiến lược, là chìa khóa để ngành phát triển mạnh, từ đó sẽ làm tăng năng suất  
lao động, chất lượng sản phẩm, hiện đại hóa phương thức quản lý, tổ chức sản xuất;  
ứng dụng công nghệ cao để sử dụng hiệu quả tài nguyên, nâng cao năng suất, chất  
lượng, giá trị gia tăng và phát triển bền vững góp phần thực hiện thành công mục tiêu  
phát triển Nông - Lâm - Ngư nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn  
với giải quyết tốt các vấn đề nông dân, nông thôn.  
Theo quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 đã được  
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, người học sau khi tốt nghiệp không những có kiến  
thức và trình độ chuyên môn giỏi mà còn phải có những kỹ năng để không bị thay thế  
bởi robot và trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là kỹ năng sáng tạo, hợp tác, kỹ năng tư duy  
phản biện...; có năng lực tự chủ và thích ứng tốt với môi trường làm việc thay đổi  
nhanh chóng, có ý thức trách nhiệm cao với bản thân, với gia đình, cộng đồng và đất  
nước.  
Chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 (Ban hành  
kèm theo Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/2/2007 của Thủ tướng Chính phủ)  
xác định mục tiêu: “Thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 16,24  
triệu ha đất được quy hoạch cho lâm nghiệp;...đảm bảo có sự tham gia rộng rãi hơn  
của các thành phần kinh tế và tổ chức xã hội vào các hoạt động lâm nghiệp nhằm  
đóng góp ngày càng tăng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường  
sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học, cung cấp các dịch vụ môi trường, xóa đói giảm  
nghèo, nâng cao mức sống cho người dân nông thôn miền núi và góp phần giữ vững  
an ninh quốc phòng”. Cụ thể, đến năm 2020, tỷ lệ che phủ của rừng đạt 42%, tốc độ  
tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt khoảng 5,0 - 5,5%; giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm  
sản đạt tối thiểu 12,5 tỷ USD (Bộ NN&PTNT, 2020b).  
Có thể nói, mục tiêu toàn diện, bao trùm và xuyên suốt của lâm nghiệp trong  
thời kỳ 1986 - 2020 là chống mất rừng và suy thoái rừng; khôi phục và phát triển  
rừng, từng bước nâng cao chất lượng rừng đến năm 2020 ngành lâm nghiệp phát triển  
8
theo hướng bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường; từng bước chuyển đổi mô  
hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh;  
nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm và dịch vụ môi trường rừng; giá trị sản xuất lâm  
nghiệp hàng năm cao và ổn định; đáp ứng nhu cầu gỗ, lâm sản cho tiêu dùng trong  
nước và xuất khẩu; góp phần tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện sinh kế, bảo  
vệ môi trường sinh thái để phát triển bền vững (Nguyễn Bá Ngãi và Nguyễn Quốc  
Trị, 2020).  
Với những mục tiêu chiến lược nêu trên, việc đánh giá đầy đủ về thực trạng  
nguồn nhân lực trong toàn ngành góp phần đề xuất giải pháp phát triển đặc biệt là  
phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao để triển khai từng hoạt động cụ thể là rất  
cần thiết.  
2. THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH LÂM NGHIỆP  
2.1. Quy mô và đặc điểm nguồn nhân lực ngành Lâm nghiệp  
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, nguồn nhân lực có độ tuổi từ 15  
tuổi trở lên đang làm việc trong lĩnh vực Nông - Lâm - Ngư nghiệp năm 2018 là  
5.151,9 nghìn người thấp hơn so với con số thống kê cùng kỳ năm 2013 là 6.280,4  
nghìn người (Tổng cục Thống kê, 2019). Trong đó, nguồn nhân lực đang làm việc  
cho lĩnh vực lâm nghiệp chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ (khoảng 1,0%) so với tổng số lao  
động trong lĩnh vực này. Như vậy, có thể thấy với sự chuyển dịch cơ cấu của nền  
kinh tế theo hướng công nghiệp và dịch vụ, tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông - lâm -  
ngư nghiệp có xu hướng giảm dần hàng năm (Trần Quang Bảo, 2014).  
Cũng theo thống kê của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ lao động có độ tuổi từ 15  
tuổi trở lên trong lĩnh vực nông - lâm - thủy sản đã qua đào tạo tại thời điểm thống kê  
năm 2018 chỉ đạt 4,1% tổng số lao động trong ngành, cao hơn con số 3,5% theo  
thống kê năm 2013; năng suất lao động xã hội của lao động trong lĩnh vực này đạt  
bình quân 39,8 triệu đồng/người/năm tại thời điểm năm 2018 (Tổng cục Thống kê,  
2019).  
Như vậy, có thể thấy nguồn nhân lực của ngành Lâm nghiệp chưa thực sự  
tương xứng với quy mô của diện tích đất rừng được quản lý, với tiềm năng và vai trò  
kinh tế, xã hội, môi trường mà rừng mang lại cho đất nước.  
2.2. Nhu cầu nhân lực ngành lâm nghiệp  
Căn cứ Quyết định số 18/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 về việc phê duyệt Chiến  
lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 -2020, tỷ lệ nhân lực qua đào  
tạo khối ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng từ mức 15,5% năm 2010 lên khoảng 50%  
vào năm 2020. Tuy nhiên, thực tế nhu cầu về nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân  
lực có chất lượng cao không đồng đều giữa các ngành. Với ngành gỗ, hiện cả nước có  
khoảng 4500 doanh nghiệp, trong đó có 1863 doanh nghiệp trực tiếp xuất khẩu, 700  
doanh nghiệp FDI và 340 làng nghề chế biến gỗ, với hơn 420.000 lao động thường  
9
xuyên tại các nhà máy chế biến gỗ và lâm sản và hàng triệu lao động gián tiếp có liên  
quan. Tuy nhiên, hiện kỹ sư chế biến lâm sản, thiết kế nội thất chỉ chiếm 1 - 2%; 20-  
30% lao động được đào tạo bài bản, còn lại là lao động phổ thông (70 - 80%) chưa  
qua đào tạo. Dự báo đến năm 2020 cần khoảng 64.000 người có trình độ Đại học, trên  
Đại học và 266.860 công nhân kỹ thuật; đến năm 2025 cần khoảng 106.800 người có  
trình độ Đại học, trên Đại học và 445.200 công nhân kỹ thuật (Trần Văn Chứ, 2019).  
Theo Bộ NN&PTNT, dự báo từ nay đến năm 2025, số lượng doanh nghiệp,  
hợp tác xã, trang trại nông nghiệp cơ bản tăng gấp đôi, cụ thể: số lượng doanh nghiệp  
nông nghiệp tăng từ 15.000 năm 2020 lên khoảng 30.000 doanh nghiệp năm 2025;  
hợp tác xã nông nghiệp tăng từ 15.000 lên 25.000 hợp tác xã; trang trại nông nghiệp  
là từ 35.000 lên trên 70.000 (Bộ NN&PTNT, 2020c).  
2.3. Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực ngành Lâm nghiệp  
2.3.1. Đào tạo nhân viên sơ cấp lâm nghiệp  
Đào tạo nhân viên sơ cấp lâm nghiệp được triển khai giai đoạn sau hòa bình  
lập lại với nhiệm vụ cung cấp đội ngũ cán bộ có nghiệp vụ kỹ thuật lâm nghiệp,  
nghiệp vụ kinh tế như lập kế hoạch, kế toán, thống kê, tổ chức lao động cho các lâm  
trường, xí nghiệp (Nguyễn Bá Ngãi và Nguyễn Quốc Trị, 2020).  
Theo Nguyễn Văn Đẳng (2001) và Nguyễn Quốc Trị, Nguyễn Bá Ngãi (2020),  
trong giai đoạn từ năm 1945 - 1960, có 5 cơ sở đào tạo nhân viên sơ cấp lâm nghiệp  
gồm: (1) Trường Sơ cấp Nông lâm Nghệ An (tại Liêu khu IV); (2) Trường Sơ cấp  
Nông lâm Tây Bắc (tại tỉnh Sơn La); (3) Trường Sơ cấp Nông lâm nghiệp Việt Bắc  
(tại tỉnh Tuyên Quang) và (4) Trường Sơ cấp nghiệp vụ lâm nghiệp (tại Văn Điển, Hà  
Nội). Sau năm 1960, các trường đều được chuyển lên thành trường trung cấp hoặc  
giải thể. Nhiệm vụ đào tạo cán bộ có trình độ sơ cấp được nhiều trường sơ cấp của  
tỉnh đảm nhiệm. Tính đến cuối những năm 1980, khi không còn hệ đào tạo trình độ  
sơ cấp, hàng ngàn cán bộ lâm nghiệp có trình độ sơ cấp, trung cấp thuộc các lĩnh vực  
kinh tế lâm nghiệp, lâm sinh và công nghiệp rừng đã được đào tạo từ các trường này.  
2.3.2. Đào tạo công nhân kỹ thuật lâm nghiệp, sơ cấp và nghiệp vụ  
Loại hình đào tạo công nhân kỹ thuật lâm nghiệp được triển khai từ những  
năm cuối của thập kỷ 70, thế kỷ XX theo hình thức học tập trung. Các cơ sở đào tạo  
và vực đào tạo về chế biến gỗ trong giai đoạn này gồm: Trường Công nhân kỹ thuật  
chế biến gỗ Đông Anh (Hà Nội); Trường Công nhân kỹ thuật lâm nghiệp Hữu Lũng  
(Lạng Sơn); Trường Công nhân kỹ thuật chế biến gỗ (Hà Nam) và Trường Công nhân  
kỹ thuật lâm nghiệp khu nguyên liệu giấy, sợi (Phú Hộ, Vĩnh Phúc). Tiếp theo đó là  
hệ thống các trường công nhân kỹ thuật được thành lập (gồm: Trường Công nhân kỹ  
thuật lâm nghiệp TW I Lạng Sơn; Trường Công nhân kỹ thuật lâm nghiệp TW II Quy  
Nhơn; Trường Công nhân kỹ thuật lâm nghiệp TW III Sông Bé; Trường Công nhân  
kỹ thuật lâm nghiệp TW IV Phú Thọ; Trường Công nhân kỹ thuật cơ khí lâm nghiệp  
10  
Văn Điển, Hà Nội; Trường Công nhân kỹ thuật chế biến gỗ Trung ương Hà Nam).  
Chỉ tính riêng trong thời gian 20 năm (từ năm 1971 đến 1990), các trường công nhân  
kỹ thuật lâm nghiệp đã đào tạo được 21.068 người, với cơ cấu ngành nghề, đã đào  
tạo: 7.393 công nhân kỹ thuật lâm sinh, 3.916 công nhân kỹ thuật khai thác, 2.717  
công nhân lái xe, 1.396 công nhân lái máy, 596 công nhận sửa chữa máy. Đội ngũ  
công nhân kỹ thuật này là nòng cốt của đội ngũ cán bộ lâm nghiệp có tay nghề kỹ  
thuật cao góp phần quan trong cho phát triển lâm nghiệp cả cho thời kỳ đổi mới từ  
năm 1986 đến nay (Nguyễn Văn Đẳng, 2001; Nguyễn Bá Ngãi và Nguyễn Quốc Trị,  
2020).  
Hiện nay, có 07 trường trực thuộc Bộ NN và PTNT tổ chức đào tạo công nhân  
kỹ thuật gồm: Trường Cao đẳng Công nghệ và Nông Lâm Đông Bắc, Trường Cao  
đẳng Công nghệ và Nông Lâm Phú Thọ, Trường Cao đẳng Công nghệ, Kỹ thuật và  
Chế biến lâm sản, Trường Cao đẳng Cơ điện - Xây dựng và Nông Lâm Trung Bộ,  
Trường Cao đẳng Công nghệ và Nông Lâm Nam Bộ, Trường Cao đẳng Nông Lâm  
Đông Bắc, Trường Cao đẳng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bắc Bộ (Nguyễn  
Bá Ngãi và Nguyễn Quốc Trị, 2020).  
Thực hiện Nghị quyết số số 26-NQ/TW của Trung ương Đảng , Nghị quyết số  
24/2008/NQ-CP của Chính phủ, Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính  
phủ về việc phê duyệt đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”,  
Tính đến hết tháng 9/2019, cả nước đã đào tạo được 343.520 lao động học các nghề  
về lâm sinh, chế biến gỗ. Sau 10 năm triển khai đào tạo nghề lâm nghiệp, lợi nhuận  
của các hộ gia đình chủ rừng tham gia mô hình hợp tác, liên kết theo chuỗi sản phẩm  
tăng thêm từ 25 - 30% (Bộ NN&PTNT, 2020c). Ngoài ra, năm 2020 Trường Đại học  
Lâm nghiệp chính thức được Bộ NN&PTNT giao 04 lớp đào tạo nghề Công nghệ sơ  
chế gỗ với tổng số 160 học viên.  
Về công tác đào tạo nghiệp vụ, chỉ tính riêng giai đoạn từ 2011 - 2019, Trường  
Cán bộ quản lý Nông nghiệp và PTNT I đã bồi dưỡng cho lực lượng Kiểm lâm 5.621  
lượt học viên và tham gia bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ thực thi công  
vụ cho Kiểm lâm các tỉnh do Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh tổ chức (Vũ Thị  
Bích Thuận, 2020).  
2.3.3. Đào tạo bổ túc văn hóa và cán bộ lâm nghiệp có trình độ trung cấp  
Trường Đại học Lâm nghiệp là đơn vị điển hình về đào tạo nguồn cho cán bộ  
ngành lâm nghiệp thông qua đào tạo học sinh Hệ phổ thông dân tộc nội trú. Ban Phổ  
thông dân tộc nội trú nay là Trường Trung học Phổ thông Lâm nghiệp được thành lập  
theo QĐ số 540/TCLD ngày 28/11/1992 của Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp. Từ khi chính  
thức được cấp phép tuyển sinh đến nay, Trường đã đào tạo được 24 khóa với chỉ tiêu  
tuyển sinh 100 học sinh/năm, tổng số học sinh đã tốt nghiệp trên 200 học sinh thuộc  
các dân tộc thiểu số các tỉnh phía Bắc.  
11  
Ở hệ trung cấp, Trường Trung cấp Nông lâm Trung ương là trường đầu tiên  
được thành lập vào năm 1953 (Nguyễn Văn Đẳng, 2001). Tiếp theo là một hệ thống  
các trường được thành lập ở các tỉnh dưới sự quản lý của Tổng cục lâm nghiệp. Tính  
đến năm 1990, các trường trung học chuyên nghiệp đã đào tạo được 17.688 cán bộ  
trung cấp cho các ngành lâm sinh, khai thác, chế biến gỗ, xây dựng cầu đường, kiến  
trúc lâm nghiệp, kinh tế lâm nghiệp, trong đó giai đoạn 1961 - 1965 chỉ đào tạo được  
230 người, nhưng đến giai đoạn 1966 - 1970, quy mô đào tạo đã tăng 2.300 người cao  
gấp 10 lần giai đọan trước; giai đoạn 1976 - 1980, đạt cao nhất, đã đào tạo được  
4.736 người (Nguyễn Bá Ngãi và Nguyễn Quốc Trị, 2020).  
2.3.4. Đào tạo cán bộ lâm nghiệp có trình độ đại học và sau đại học  
Hệ thống các trường đào tạo cán bộ ngành Lâm nghiệp có trình độ Đại học  
đánh dấu bằng Nghị định số 147/CP ngày 06/3/1956 về việc thành lập Trường Đại  
học Nông Lâm (tiền thân của Học viện Nông Lâm). Tính đến năm 1964, Khoa Lâm  
nghiệp trực thuộc Trường Đại học Nông Lâm đã đào tạo được 05 khóa chính quy với  
320 kỹ sư lâm học tốt nghiệp và 02 khóa chuyên tu với 50 kỹ sư tốt nghiệp (Nguyễn  
Bá Ngãi và Nguyễn Quốc Trị, 2020).  
Ngày 19/8/1964, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 127 CP về việc thành  
lập Trường Đại học Lâm nghiệp trên cơ sở của Khoa Lâm học và tổ cơ giới khai thác  
lâm nghiệp của Trường Đại học Nông Lâm (Trường Đại học Lâm nghiệp, 2019). Trải  
qua 56 năm xây dựng và phát triển, Trường Đại học Lâm nghiệp đã đào tạo được một  
số lượng đông đảo cán bộ tốt nghiệp có trình độ đại học, cụ thể như sau:  
- Giai đoạn 1964 - 2004: sau 40 năm đào tạo, Trường Đại học Lâm nghiệp đã  
đào tạo được trên 14.000 kỹ sư các ngành đào tạo, các hình thức đào tạo. Trong đó,  
hệ chính quy: 9.743 kỹ sư; hệ tại chức: 3.066 kỹ sư, hệ chuyên tu: 785 kỹ sư; hệ cử  
tuyển: 664 kỹ sư, với khoảng 10% là con em các dân tộc thiểu số và 142 kỹ sư cho  
hai nước bạn Lào và Campuchia; 265 thạc sĩ và 18 tiến sĩ.  
- Giai đoạn 2005 - 2014: Trường đã đào tạo được 14.243 kỹ sư và cử nhân các  
ngành học; 2.182 học viên; 30 tiến sĩ, 1.522 trung cấp chuyên nghiệp và 476 học sinh  
dự bị đạo học. Điểm đặc biệt trong giai đoạn này là việc mở mới ngành Quản lý tài  
nguyên thiên nhiên (Chương trình tiên tiến) với sự hợp tác của Trường đại học Bang  
Colorado - Hoa Kỳ từ năm học 2010 - 2011, chương trình đào tạo hoàn toàn bằng  
tiếng Anh. Đến thời điểm hiện tại đã đào tạo 10 khóa với gần 300 sinh viên tốt nghiệp  
với trên 10% sinh viên nhận được học bổng đi học ở nước ngoài ngay sau khi tốt  
nghiệp.  
- Giai đoạn 2015 đến hết năm 2019: số sinh viên tốt nghiệp đại học là 15.005;  
cao đẳng là 375; thạc sĩ: 1.546 (hơn ½ số lượng đào tạo thạc sĩ giai đoạn 1995 - 2014)  
và 51 tiến sĩ (gấp hơn 2 lần so với giai đoạn từ 1995-2014). Tương tự như bậc đại học  
giai đoạn 2005-2014, từ năm học 2016-2017, Trường đã mở khóa đào tạo Thạc sĩ  
12  
Lâm nghiệp nghiệt đới với sự hỗ trợ của Cơ quan trao đổi hàn lâm Đức (DAAD), các  
trường Đại học Goettingen, Dresden, chương trình đào tạo có sự tham gia của học  
viên đến từ các nước Đông Nam Á và Nam Á. Đến thời điểm hiện tại đã có gần 20  
học viên tốt nghiệp.  
Từ năm 1995, sau nhiều lần tổ chức sắp xếp lại các trường thuộc khối ngành  
NN&PTNT, đến nay các cơ sở đào tạo nhân lực ngành lâm nghiệp gồm: Trường Đại  
học Nông lâm Bắc Giang, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Trường Đại học  
Nông Lâm Huế, Đại học Tây Nguyên, Đại học Tây Bắc, Trường Đại học Nông lâm  
Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Đại học Hồng Đức...Cho đến nay, đã có hàng  
chục nghìn kỹ sư/cử nhân tốt nghiệp các ngành học thuộc lĩnh vực lâm nghiệp ở các  
cơ sở đào tạo này.  
Bên cạnh đó, Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam là cơ sở được giao đào tạo  
cán bộ có trình độ sau đại học thuộc chuyên ngành lâm nghiệp (Quyết định số  
333/CT ngày 14/12/1982). Trong giai đoạn từ năm 1982 đến nay, Viện đã đào tạo  
được 155 tiến sĩ thuộc các lĩnh vực: Lâm sinh, Di truyển và chọn giống cây Lâm  
nghiệp, Điều tra và quy hoạch rừng, Quản lý tài nguyên rừng, Kỹ thuật chế biến lâm  
sản; Kỹ thuật máy lâm nghiệp và Đất rừng.  
3. THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRONG CÔNG  
TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC  
3.1. Thuận lợi  
- Ngành Lâm nghiệp được xác định là một trong số ngành trọng điểm trong  
chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ anh ninh quốc gia.  
- Các cơ sở đào tạo luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao và đầu tư phù  
hợp cho các lĩnh vực trọng điểm từ Bộ NN&PTNT.  
- Nội dung chương trình đào tạo, đội ngũ cán bộ giảng dạy ở từng cấp bậc cơ  
bản đáp ứng được yêu cầu đối mới, nâng cao chất lượng đào tạo.  
3.2. Khó khăn  
- Nguồn nhân công lao động ngành lâm nghiệp chủ yếu là lao động phổ thông,  
năng suất lao động thấp. Nguồn lao động có chất lượng cao thiếu hụt do đặc thù công  
việc của ngành Lâm nghiệp và mức thu nhập thấp;  
- Công tác đào tạo nhân lực ở bậc đại học, sau đại học bị ảnh hưởng của quy  
chế tuyển sinh và sự phát triển mạnh của các trường đại học với nhiều ngành nghề  
hấp dẫn;  
- Chương trình đào tạo, đặc biệt là đào tạo trung cấp, cao đẳng và đại học còn  
nặng lý thuyết mà chưa chú trọng tới kỹ năng nghề nên người học sau khi ra trường  
đều phải được các cơ sở đào tạo bổ sung;  
- Trình độ tiếng Anh của người học sau khi tốt nghiệp rất hạn chế nên khả  
năng cạnh tranh trong thị trường lao động hội nhập, yêu cầu cao ngày càng khó khăn;  
- Gắn kết giữa đào tạo và nghiên cứu khoa học chưa thực sự như mong đợi; sự  
tham gia của các doanh nghiệp, các chuyên gia trong công tác đào tạo chưa thực sự  
được chú trọng.  
13  
3.3. Cơ hội  
- Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu có nguyên nhân một phần từ mất rừng và  
suy thoái rừng ngày càng rõ rệt và diễn biến phức tạp nên lĩnh vực lâm nghiệp tiếp  
tục được chú trọng; đầu tư cho các hoạt động bảo tồn, phát triển tài nguyên rừng có  
xu hướng tăng lên;  
- Nhu cầu nguồn nhân lực (đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lượng cao) ngày  
càng tăng cao góp phần thực hiện thành công chiến lược phát triển ngành Lâm  
nghiệp; mục tiêu chiến lược xuất khẩu gỗ và lâm sản...  
- Sự phát triển nhanh của các chủ thể trong sản xuất, kinh doanh nông nghiệp  
làm phát sinh nhu cầu cao về đào tạo lao động.  
3.4. Thách thức  
- Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã thúc đẩy việc dịch chuyển cơ cấu lao  
động từ lĩnh vực lâm nghiệp sang các ngành công nghiệp, dịch vụ khác;  
- Đầu tư cho khối ngành kỹ thuật chưa thực sự đáp ứng nhu cầu chuyên môn  
trong khi yêu cầu về chuẩn đầu ra đặc biệt là kỹ năng thực hành tương đối cao;  
- Lượng học sinh các trường nghề liên tục giảm sút do tâm lý và cơ hội học đại  
học của người học cao trong khi các trường đào tạo các ngành học lĩnh vực lâm  
nghiệp có sức cạnh tranh không cao so với khối ngành khác;  
- Chất lượng đầu vào của người học của các trường đào tạo khối ngành lâm  
nghiệp liên tục giảm sút gây khó khăn rất lớn trong việc tổ chức đào tạo để có được  
sản phẩm đầu ra có chất lượng đáp ứng nhu cầu thị trường.  
4. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHO NGÀNH LÂM  
NGHIỆP  
4.1. Giải pháp về chính sách  
- Tập trung xây dựng chiến lược tổng thể về phát triển nguồn nhân lực có chất  
lượng cao cho ngành lâm nghiệp thông qua các đề án cụ thể và phù hợp với bối cảnh  
hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng  
4.0. Trong đó, cần chú trọng đề án đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao gắn với  
các giải pháp đào tạo cụ thể cho từng lĩnh vực;  
- Rà soát, quy hoạch lại các trường đào tạo trực thuộc Bộ NN&PTNT làm cơ  
sở cho việc đầu tư xây dựng chiến lược đầu tư phù hợp cho từng trường, từng lĩnh  
vực trọng điểm. Đặc biệt, nghiên cứu thành lập các trường trọng điểm định hướng  
nghiên cứu, viện nghiên cứu quốc gia về lâm nghiệp nhằm tạo môi trường làm việc  
tốt nhất thu hút các chuyên gia trong nước và quốc tế đến làm việc;  
- Triển khai chính sách xã hội hóa hoạt động đào tạo nguồn nhân lực ngành  
lâm nghiệp ở các bậc, hệ; xây dựng chính sách phù hợp hỗ trợ và thúc đẩy các hoạt  
động khởi nghiệp lĩnh vực lâm nghiệp;  
- Tiến hành tổ chức đào tạo theo cơ chế đặt hàng với các ngành trọng điểm nhu  
cầu xã hội cao song gặp khó khăn trong công tác tuyển sinh. Tăng cường đầu tư cho  
các cơ sở đào tạo về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo.  
14  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 160 trang yennguyen 30340 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Hội thảo Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho ngành Lâm nghiệp: Thành tựu và định hướng phát triển", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoi_thao_dao_tao_phat_trien_nguon_nhan_luc_cho_nganh_lam_ngh.pdf