Nghiên cứu cấu trúc rừng ngập mặn ở cửa sông Cửa Tiểu, tỉnh Tiền Giang
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC VỀ SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT LẦN THỨ 7
NGHIÊN CỨU CẤU TRÖC RỪNG NGẬP MẶN
Ở CỬA SÔNG CỬA TIỂU, TỈNH TIỀN GIANG
Phạm Văn Ngọt, Nguyễn Duy Hải,
Quách Văn Toàn Em, Lê Minh Trung
Trường Đại học Sư phạm, Tp. Hồ Chí Minh
Sông Tiền là một nhánh thuộc vùng hạ lưu sông Mêkông, chảy qua tỉnh Tiền Giang phân
thành 2 nhánh: sông Cửa Tiểu và sông Cửa Đại, đổ ra biển bằng hai cửa cùng tên. Ven sông
Tiền nói chung, sông Cửa Tiểu nói riêng đã hình thành thảm thực vật tự nhiên giữ chức năng
phòng hộ, cố định bãi bồi, giúp bảo vệ lưu vực, chống xói mòn, bổ sung nước ngầm, điều hòa
nguồn nước mặt,... Nghiên cứu này nhằm cung cấp những dẫn liệu về hiện trạng rừng ngập mặn
ở vùng cửa sông Cửa Tiểu làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo về diễn thế, về ảnh hưởng
của biến đổi khí hậu đến hệ sinh thái rừng ngập mặn ven sông, ven biển của tỉnh Tiền Giang.
I. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Điều tra vào 2 đợt (tháng 4/2016 và tháng 10/2016) ở vùng cửa sông Cửa Tiểu, tỉnh Tiền
Giang.
2. Phƣơng pháp lập tuyến và khảo sát ô tiêu chuẩn
Nghiên cứu cấu trúc rừng ngập mặn theo phương pháp của English et al. (1997). Thiết lập 3
tuyến (T1, T2 và T3) có chiều dài từ mép nước đến đường bờ. Ở mỗi tuyến chọn 3 vị trí (VT1,
VT2 và VT3) có kiểu lập địa khác nhau. Tại mỗi vị trí, 3 ô tiêu chuẩn có kích thước 10 m x 10m
được xác định (hình 1).
Tiến hành đo chiều cao cây (Hvn), đường kính thân cây (DBH ≥ 4cm), đường kính tán
(DKT); thống kê thành phần loài, số cá thể của mỗi loài. Đối với loài Dừa nước chỉ đo những
cây có chiều cao Hvn ≥ 3m. Xác định tên loài thực vật dựa theo tài liệu của Tomlinson (1986).
3. Phƣơng pháp tính các chỉ số đa dạng sinh học của các quần xã
Dùng phần mềm Primer 5 để tính các chỉ số đa dạng sinh học: chỉ số đa dạng Margalef
(1958), chỉ số ưu thế Simpson (1949), chỉ số đa dạng Simpson (1949), chỉ số Shannon - Weaver
(1963), chỉ số bình quân Pielou (1966), sơ đồ phân nhánh Bray – Curtis thể hiện sự tương đồng
về tổ thành loài của quần xã thực vật.
Xác định các giá trị tương đối như: tần suất xuất hiện tương đối (RF%), mật độ tương đối
(RD%) và độ che phủ tương đối (RC%) (Rastogi, 1999 và Sharma, 2003).
Dạng phân bố không gian (A/F): tỉ lệ giữa độ phong phú (A) và tần suất (F) của mỗi loài
(A/F) được sử dụng để xác định các dạng phân bố không gian của loài đó trong quần xã thực vật
nghiên cứu (Odum, 1971; Verma, 2000).
Chỉ số giá trị quan trọng IVI (Importance Value Index) của mỗi loài xác định theo công thức
sau: IVI = RD + RF + RC (RD: mật độ tương đối; RF: tần suất xuất hiện tương đối; RC: độ che
phủ tương đối). (Rastogi, 1999 và Sharma, 2003).
1803
TIỂU BAN SINH THÁI HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG
A. Bản đồ tỉnh Tiền Giang
B. Tuyến nghiên cứu
C. Vị trí khảo sát tuyến 1
D. Vị trí khảo sát tuyến 2
E. Vị trí khảo sát tuyến 3
Hình 1. Vị trí nghiên cứu rừng ngập mặn ở cửa sông Cửa Tiểu, tỉnh Tiền Giang
4. Nghiên cứu một số yếu tố môi trƣờng
- Đo độ mặn: lúc triều lên bằng thiết bị Salinity meter SM - 802.
- Tính độ thuần thục (n) của đất ở tầng 0 – 30 cm ở các vị trí nghiên cứu và đánh giá độ
thành thục của thể nền theo Đỗ Đình Sâm & cs (2005).
- Xác định độ ngập triều: dựa vào số liệu quan trắc trạm Vàm Kênh của Viện Kỹ thuật Biển
Miền Nam và thực tế đo đạc để xác định cao độ và mức độ ngập triều (dựa vào số ngày, giờ
ngập trong năm) của các khu vực nghiên cứu.
II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Một số yếu tố môi trƣờng ở khu vực nghiên cứu
Thời gian ngập triều và độ mặn của nước tại các vị trí nghiên cứu ở cửa sông Cửa Tiểu được
thể hiện qua bảng 1.
Bảng 1
Một số đặc điểm thể nền và chế độ triều ở các điểm nghiên cứu.
Tuyến
Thể nền và chế độ triều
Vị trí 1
Vị trí 2
Vị trí 3
Số ngày ngập TB/năm (ngày)
365
250
106
1804
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC VỀ SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT LẦN THỨ 7
T1
Độ mặn TB của nước (‰)
Cao độ địa hình TB (cm)
Độ thành thục TB của đất (n)
Tính chất của thể nền
10 – 18
39
10 – 18
78
9 - 17
115
1,0
0,9
0,7
Sét mềm
365
Sét
Sét
Số ngày ngập TB/năm (ngày)
Độ mặn TB của nước (‰)
Cao độ địa hình TB (cm)
Độ thành thục TB của đất (n)
Tính chất của thể nền
360
263
12 - 20
30
12 – 20
55
12 – 20
88
T2
T3
1,1
1,0
0,9
Sét mềm
365
Sét mềm
217
Sét
Số ngày ngập TB/năm (ngày)
Độ mặn TB của nước (‰)
Cao độ địa hình TB (cm)
Độ thành thục TB của đất (n)
Tính chất của thể nền
158
10 - 17
36
10 – 16
96
9 – 16
106
1,0
0,7
0,6
Sét mềm
Sét
Sét chặt
Từ số liệu ở bảng 1 cho thấy:
- Về độ mặn của nước: khu vực cửa sông Cửa Tiểu là vùng nước lợ có độ mặn của nước từ
10 - 12‰ (vào tháng 10/2016) và độ mặn lên đến 18 - 20‰ (vào tháng 4/2016).
- Về cao độ địa hình và chế độ ngập: ở VT1 của cả 3 tuyến khảo sát đều có độ cao của thể
nền thấp (30 – 39 cm), ngập triều hàng ngày; T1VT3 có địa hình cao nhất (115 cm), số ngập
triều trong tháng ít nhất (9 ngày).
- Về thể nền các vị trí nghiên cứu ở cửa sông Cửa Tiểu cho thấy đều thuộc loại sét mềm đến
sét, riêng vị trí T3VT3 thuộc loại sét chặt.
2. Cấu trúc rừng ngập mặn cửa sông Cửa Tiểu
2.1. Thành phần loài thực vật
Kết quả điều tra 3 tuyến thuộc khu vực cửa sông Cửa Tiểu cho thấy có tổng số 10 loài thực
vật thuộc 6 họ, 2 lớp của ngành Mộc Lan (Magnoliophyta); trong đó, lớp Hai lá mầm có 7 loài.
Trong tổng số 10 loài thì có đến 7 loài là loài cây chính thức của rừng ngập mặn. Tuy nhiên chỉ
có 4 loài cây ngập mặn chính thức có trong các ô tiêu chuẩn ở các vị trí nghiên cứu. Đó là loài
Bần chua (Sonneratia caseolaris (L.) Engl.), Mấm trắng (Avicennia alba Blume), Trang
(Kandelia candel (L.) Druce) và Dừa lá (Nypa fruticans Wurmb).
Bảng 2
Thành phần loài thực vật tại khu vực nghiên cứu
STT
TÊN KHOA HỌC
TÊN VIỆT NAM
DẠNG SỐNG
MAGNOLIOPHYTA
NGÀNH MỘC LAN
1805
TIỂU BAN SINH THÁI HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG
DICOTYLEDONAE
1 Avicenniaceae
LỚP HAI LÁ MẦM
Họ Mấm
1
2
Avicennia marina (Forssk.) Vierth
Avicennia officinalis L.
2 Rhizophoraceae
Mấm trắng*
Mấm đen*
Họ Đƣớc
Cây thân gỗ
Cây thân gỗ
3
4
5
Kandelia candel (L.) Druce
Rhizophora apiculata Blume
Bruguiera sexangula (Lour.) Poir.
3 Sonneratiaceae
Trang*
Cây thân gỗ
Cây thân gỗ
Cây thân gỗ
Đước đôi*
Vẹt đen*
Họ Bần
6
7
Sonneratia casaeolaris (L.) Engl.
4 Vitaceae
Bần chua*
Họ Nho
Cây thân gỗ
Cayratia trifolia (L.) Domin
MONOCOTYLEDONAE
5 Arecaceae
Dây vác
Dây leo
LỚP MỘT LÁ MẦM
Họ Cau
8
Nypa fruticans Wurmb
6 Poaceae
Dừa lá*
Cây thân ngầm
Họ Hòa thảo
Cỏ ống
9
Panicum repens L.
Cây thảo
Cây thảo
10
Phragmites karka (Retz.) Trin. ex Steud.
Sậy
Ghi chú: * cây ngập mặn chính thức
2.2. Mật độ cây ở các vị trí nghiên cứu
Mật độ cây của các loài phân bố trong các ô nghiên cứu được thể hiện ở bảng 3.
Qua số liệu ở bảng 3 cho thấy mật độ cây trung bình của toàn khu vực nghiên cứu là 1.307
cây/ha, trong đó Bần chua chiếm đến 1.096 cây/ha và chiếm ưu thế ở tất cả các vị trí nghiên
cứu. Các vị trí T1VT1, T2VT1, T2VT2 và T3VT1 với mật độ cây từ 1.167 cây/ha đến 1.933
cây/ha, chỉ có loài Bần chua thích nghi với môi nước lợ, thể nền sét mềm, ngập triều quanh
năm. Vị trí T2VT3 và T3VT2 có 2 loài là Bần chua và Mấm trắng. Vị trí T3VT2 với 3 loài:
Bần chua, Mấm trắng và Trang. Các vị trí T1VT2, T1VT3, T3VT3 có 4 loài: Bần chua, Mấm
trắng, Trang và đặc biệt loài Dừa lá xuất hiện trên thể nền cao, sét đến sét chặt.
Bảng 3
Thành phần loài và mật độ cây (cây/ha) tại các vị trí nghiên cứu
Vị trí
Bần chua
1.333
500
Mấm trắng
Trang
Dừa lá
Tổng số cây/ha
-
-
-
1.333
800
T1VT1
T1VT2
T1VT3
T2VT1
100
167
-
33
33
-
167
133
-
367
700
1.167
1.167
1806
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC VỀ SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT LẦN THỨ 7
Vị trí
Bần chua
1.933
1.300
1.267
1.267
733
Mấm trắng
Trang
Dừa lá
Tổng số cây/ha
1.933
-
-
-
-
T2VT2
T2VT3
T3VT1
T3VT2
T3VT3
200
-
-
-
1.500
-
1.267
133
133
67
167
-
1.467
567
1.600
Trung bình
1096
78
37
96
1307
2.3. Chiều cao cây, đường kính thân cây gỗ và đường kính tán lá
Chiều cao cây trung bình (Hvn), đường kính thân cây trung bình (DBH) và đường kính tán
(DKT) của các loài ở những vị trí nghiên cứu được thể hiện ở bảng 4.
Bảng 4
Chiều cao cây trung bình (Hvn), đƣờng kính thân cây trung bình (DBH)
và đƣờng kính tán (DKT) của các loài ở những vị trí nghiên cứu
Bần chua
Mấm trắng
Trang
Dừa lá
Vị trí
Hvn DBH DKT Hvn DBH DKT Hvn DBH DKT Hvn DKT
(m)
(cm)
(m)
(m)
-
(cm)
-
(m)
-
(m) (cm)
(m)
(m)
-
(m)
-
T1VT1 11,12 10,75 3,47
-
-
T1VT2 12,32 17,58 4,37 14,00 13,47 3,30 5,50 4,80 6,60 5,54 2,72
T1VT3 11,33 15,45 3,09 10,52 10,03 3,28 5,00 4,12 2,50 8,28 3,75
T2VT1 9,93
9,67
3,25
3,23
3,62
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
T2VT2 11,69 7,86
T2VT3 10,28 8,05
-
-
-
2,97
-
5,40
-
5,40
-
T3VT1 10,53 14,86 3,19
T3VT2 9,13 10,63 3,20
T3VT3 8,60 15,90 4,10
5,48
5,23
5,78
8,53
3,30 4,70 5,90 2,50
2,30 4,18 5,68 2,20 4,09 2,10
Từ các số liệu ở bảng 4 cho thấy loài Bần chua ở các vị trí có chiều cao cây trung bình từ
8,60 m – 11,69 m, chiếm ưu thế trong quần xã, hình thành tầng tán rừng; các loài Trang, Mấm
trắng và Dừa lá là những cây phần lớn có chiều cao nhỏ hơn 6 m tạo thành tầng dưới tán.
2.4. Các chỉ số đa dạng sinh học thực vật ở cửa sông Cửa Tiểu
Kết quả khảo sát về chỉ số đa dạng sinh học thực vật ở các vị trí nghiên cứu được trình bày
ở bảng 5.
1807
TIỂU BAN SINH THÁI HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG
Bảng 5
Các chỉ số đa dạng sinh học thực vật của các vị trí nghiên cứu
Chỉ số ƣu Chỉ số đa
Chỉ số
Shannon –
Weaver
Số
Chỉ số
Chỉ số
Pielou
Địa điểm
Số loài
thế
dạng
cá thể Margalef
Simpson
Simpson
1
4
4
1
1
2
1
3
4
13,33
8,0
0
1
0
0
0
T1VT1
T1VT2
T1VT3
T2VT1
T2VT2
T2VT3
T3VT1
T3VT2
T3VT3
1,44
1,54
0
0,37
0,27
1
0,63
0,73
0
1,01
1,13
0
0,73
0,81
0
7,0
11,67
19,33
15
0
1
0
0
0
0,37
0
0,75
1
0,25
0
0,39
0
0,57
0
12,67
15,67
16
0,73
1,08
0,65
0,31
0,35
0,69
0,61
1,17
0,56
0,84
TRUNG
BÌNH
2,33
± 1,41
13,18
± 3,92
0,57
± 0,64
0,71
± 0,32
0,29
± 0,32
0,48
± 0,52
0,70
± 0,13
Số liệu ở bảng 5 cho thấy chỉ số đa dạng Margalef, chỉ số đa dạng Simpson, độ bình quân
Pielou của toàn bộ khu vực nghiên cứu lần lượt là 0,57, 0,29 và 0,70. Ở các vị trí T1VT1,
T2VT1, T2VT2, T3VT1 có chỉ số đa dạng là 0 và chỉ số ưu thế Simpson là 1; những vị trí này
chỉ có duy nhất loài Bần chua. Chỉ số đa dạng cao nhất ở vị trí T1VT3, tiếp theo là vị trí T3VT3,
đây là 2 vị trí có 4 loài với chỉ số ưu thế thấp nhất.
2.5. Chỉ số quan trọng và tỉ lệ A/F của các loài
Chỉ số quan trọng (IVI) và tỉ lệ A/F của các loài được thể hiện ở bảng 6.
Bảng 6
Chỉ số quan trọng (IVI) và tỉ lệ A/F của các loài ở khu vực nghiên cứu
LOÀI
Bần chua
Mấm trắng
Trang
RD%
83,85
6,23
RF%
50,00
22,22
12,96
14,81
RC%
70,51
12,82
3,85
IVI%
204,36
41,27
19,36
35,00
A/F
10,96
4,16
2,55
4,96
Dừa lá
7,37
12,82
10,83
Qua bảng 6 cho thấy loài Bần chua có chỉ số IVI cao nhất (204,36%) ở khu vực nghiên cứu.
Điều này chứng tỏ trong quá trình diễn thế nguyên sinh rừng ngập mặn ở vùng cửa sông Cửa
Tiểu thì Bần chua là loài cây tiên phong ở các bãi bồi sét mềm, nước lợ; dần dần theo thời gian,
bãi bồi được nâng cao, thể nền trở thành dạng sét đến sét chặt và có sự xuất hiện của các loài
như Mấm trắng, Trang và Dừa lá.
1808
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC VỀ SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT LẦN THỨ 7
Dạng phân bố không gian của loài được đánh giá bằng tỷ lệ A/F đều có giá trị lớn hơn 0,05
và có dạng phân bố không gian lan truyền (contagious). Kết quả này cho thấy các điều kiện
sống khá ổn định, không chịu những tác động hay thay đổi lớn của điều kiện môi trường.
2.6. Độ tương đồng của các quần xã
Độ tương đồng của các quần xã ở những điểm nghiên cứu khác nhau được thể hiện ở hình 2.
Hình 2.Độ tƣơng đồng giữa các quần xã tại các vị trí nghiên cứu
Qua hình 2 cho thấy độ tương đồng giữa các quần xã như sau:
Ở độ tương đồng 80% có 2 nhóm quần xã: nhóm 1 có T1VT2, T1VT3 và T3VT3 với 4 loài
hỗn giao là Bần chua, Mấm trắng, Dừa lá và Trang sống trên nền đất sét đến sét chặt; nhóm 2 có
T1VT1, T3VT1, T2VT1, T2VT2, T2VT3 và T3VT2 là quần xã Bần chua thuần loại hoặc quần
xã Bần chua có sự xuất hiện loài Mấm trắng và Trang sống trên nền đất sét mềm.
III. KẾT LUẬN
Hiện trạng thảm thực vật vùng cửa sông Cửa Tiểu, tỉnh Tiền giang là rừng ngập mặn với ưu
thế là loài Bần chua. Ở các vị trí T1VT1, T2VT1, T2VT2 và T3VT1 chỉ có quần thể Bần chua
thuần loài, thích nghi với thể nền sét mềm, ngập triều thường xuyên. Còn ở các vị trí T1VT3,
T2VT3 và T3VT3 gần đường bờ có thể nền là sét đến sét chặt, độ cao thể nền > 80 cm là những
quần xã hỗn giao, ngoài Bần chua còn có các loài Mấm trắng, Trang và đặc biệt là Dừa lá.
Khu vực cửa sông Cửa Tiểu có sự đa dạng về loài rất thấp, chỉ có từ 1 đến 4 loài. Ở các vị
trí khảo sát thì loài Bần chua chiếm ưu thế.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế, Vũ Tấn Phƣơng, 2005. Hệ thống đánh giá đất lâm nghiệp
Việt Nam. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật: 17 – 20.
2. English, S., C. Wilkinson, V. Baker, 1997. Survey manual for tropical marine resources
(2nd Edition). Australian Institute of Marine Science, Townsville: 191 – 237.
3. Odum P. E., 1971. Fundamentals of ecology, 3rd ed. Saunders, Philadelphia, 544 pp.
4. Rastogi Ajaya, 1999. Methods in applied Ethnobotany: lesson from the field. Kathmandu,
Nepal: International Center for Integrated Mountain Development (ICIMOD).
5. Sharma P. D., 2003. Ecology and environment. 7th ed. New Delhi: Rastogi Publication
1809
TIỂU BAN SINH THÁI HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG
6. Verma R. K., 2000. Analysis of species diversity and soil quality under Tectona grandis
L.f. and Acacia catechu (L.f.) Wild plantations raised on degraded bhata land. Indian
Journal of Ecology, 27(2): 98 – 105.
7. Tomlinson P. B., 1986. The Botany of Mangroves. Cambridge University Press,
Cambridge, UK: 119 – 210.
STUDY ON STRUCTURE OF MANGROVE FOREST IN CUA TIEU
ESTUARY, TIEN GIANG PROVINCE
Pham Van Ngot, Nguyen Duy Hai,
Quach Van Toan Em, Le Minh Trung
SUMMARY
The natural mangrove forest in Cua Tieu estuary, Tien Giang province was dominated by
Sonneratia caseolaris species, and also Avicennia alba, Kandelia candel, Nypa fruticans
species. Total density of trees was recorded as 1307 trees/ha, in which, Sonneratia caseolaris
(1096 trees/ha), with its diameter at breast height (DBH) of 7.86 cm - 17.58 cm, and its height
of 8.60 m - 11.69 m. Margalef diversity index, Simpson diversity index, and Peilou evenness of
the whole research area were 0.57, 0.29 and 0.70, respectively. Sonneratia caseolaris grows at
the T1VT1, T2VT1, T2VT2 and T3VT1 plots with soft clay soil, year-round tidal and brackish
water. The T1VT2, T1VT3 and T3VT3 plots near riverbank, brackish water, clay – heavy soil
was presented mixed communities with 4 species: Sonneratia caseolaris formed the forest
canopy; Avicennia alba, Kandeliacandel and Nypa fruticans species formed the under canopy
1810
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu cấu trúc rừng ngập mặn ở cửa sông Cửa Tiểu, tỉnh Tiền Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nghien_cuu_cau_trc_rung_ngap_man_o_cua_song_cua_tieu_tinh_ti.pdf

