Báo cáo Thực tập rèn nghề tại Hạt kiểm lâm liên huyện RPH BĐ Chi cục kiểm lâm Bạc Liêu

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ  
-------------------------  
BÁO CÁO THỰC TẬP RÈN NGHỀ  
TẠI HẠT KIỂM LÂM LIÊN HUYỆN RPH BĐ  
CHI CỤC KIỂM LÂM BẠC LIÊU  
BÁO CÁO RÈN NGHỀ  
CHUYÊN NGÀNH LÂM SINH  
Mã ngành: D620205  
SINH VIÊN THỰC HIỆN  
NGUYỄN VĂN HIỂU  
MSSV: B1311054  
Lớp Lâm Sinh Khóa 39  
Cần Thơ – 2016  
i
 
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM  
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc  
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP  
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN VĂN HIỂU  
MSSV: B1311054  
Lớp Lâm sinh khóa 39 – Bộ Môn Tài Nguyên Đất Đai – Khoa Môi Trường và Tài Nguyên  
Thiên Nhiên – Trường Đại Học Cần Thơ.  
Thực tập tại: CHI CỤC KIỂM LÂM TỈNH HẬU BẠC LIÊU  
Thời gian thực hiện: từ ngày 22/05/2016 đến ngày 01/072016  
Nhận xét của cơ quan thực tập:  
………………………………………………………………………………………………  
………………………………………………………………………………………………  
………………………………………………………………………………………………  
………………………………………………………………………………………………  
………………………………………………………………………………………………  
………………………………………………………………………………………………  
………………………………………………………………………………………………  
……………………………....  
Cần Thơ, ngày…..tháng….. năm..... 2016  
Xác nhận của cán bộ hướng dẫn  
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị  
(Ký tên và đóng dấu)  
ii  
 
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT  
Tiếng Anh  
Tiếng Việt  
Ban lãnh đạo  
BLĐ  
Rừng phòng hộ biển đông  
Phòng cháy chữa cháy rừng  
Đồng bằng song Cửu Long  
Đồng chí  
RPHBĐ  
PCCR  
ĐBSCL  
Đ/C  
Ủy ban nhân dân  
Hiệp hội sinh thái rừng ngập  
mặn quốc tế  
UBND  
ISME  
DANH SÁCH HÌNH  
Hình  
1
2
Tựa hình  
Trang  
11  
12  
Mô hình canh tác Tôm rừng tại Bạc Liêu  
Chặt tỉa thưa rừng đước tại Bạc Liêu  
Rừng đước – mấm là loại rừng đặc trưng tại khu vực ven biển  
Bạc Liêu  
3-4  
13  
14  
15  
16  
16  
17  
17  
18  
18  
5
6
Xói lở bờ biển tại tỉnh Bạc Liêu  
Quá trình tái sinh đang diễn ra tại khu vực bồi tụ ven biển  
Mô hình rừng tôm đem lại hiệu quả kinh tế cho người dân  
Đào nghêu  
7-8-9  
10  
11  
12  
13  
14  
Tìm hang đào bắt cua biển  
Dùng lưới mành đánh bắt cá kèo non đang vào mùa  
Vị trí vườn chim trên google earth trong lòng TP. Bạc Liêu.  
Điện gió bên cánh rừng ngập mặn ven biển Bạc Liêu  
iii  
   
LỜI CÁM ƠN  
Trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường đại học Cần Thơ, ngoài sự nỗ lực phấn  
đấu của bản thân còn nhận được sự quan tâm dạy dỗ và nhiệt tình hỗ trợ từ quý thầy cô,  
gia đình và bạn bè.  
Lời đầu tiên, Tôi xin chân thành cám ơn đến:  
Quý thầy cô giảng dạy, đặc biệt là quý thầy cô trong Bộ môn Tài nguyên đất đai đã truyền  
đạt cho em những kiến thức quý báu, chia sẽ kinh nghiệm trong thực tế và nhiệt tình giúp  
đỡ em trong suốt quá trình học tập.  
Thầy Võ Quang Minh, Thầy Trần Văn Hùng, Thầy Võ Quốc Tuấn đã hướng dẫn, giúp đỡ  
và tạo điều kiện để em phát triển trong suốt quá trình học tập, giúp em có định hướng đúng  
trong học tập và lựa chọn cơ quan thực tập rèn nghề.  
Ban lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bạc Liêu đã tạo điều kiện và hỗ trợ em trong quá trình  
thực tạp rèn nghề. Quý anh chị kiểm lâm Bạc Liêu đã nhiệt tình hỗ trợ và chia sẽ kinh  
nghiệm chuyên môn, kiến thức xã hội và giúp đỡ em rất nhiều trong suốt quá trình em thực  
hiện khóa thực tập rèn nghề của mình.  
Cám ơn các bạn trong lớp Lâm sinh khóa 39 đã hỗ trợ, động viên tôi trong suốt quá trình  
thực tập. Đặc biệt cám ơn đến hai bạn Nguyễn Thị Thảo Nguyễn và Trương Thị Thu Tư đã  
cùng tôi tham gia khóa thực tập rèn nghề tại đơn vị thực tập cùng chia sẻ nhau những kiến  
thức, kỹ năng chuyên môn ngành Lâm sinh.  
Cảm ơn gia đình đã quan tâm, chăm sóc, tạo nguồn động lực để con vượt qua những khó  
khăn và phấn đấu trong học tập, cùng con chia sẽ những niềm vui và nỗi buồn trong cuộc  
sống, là chỗ dựa vững chắc để con tự tin bước đi trên con đường học tập.  
Xin chân thành cám ơn !  
iv  
 
MỞ ĐẦU  
I.  
GIỚI THIỆU  
Thực tập rèn nghề là một phần trong chương trình đào tạo kỹ sư chuyên ngành Lâm sinh  
của trường Đại học Cần Thơ. Thực tập rèn nghề sẽ cung cấp các kiến thức thực tế, tạo điều  
kiện cho sinh viên (SV) cơ hội tiếp xúc với các việc làm cụ thể trong ngành, giúp cho sinh  
viên củng cố thêm các kiến thức chuyên môn đã học, nâng cao khả năng giao tiếp, quản lý,  
khả năng làm việc và tiếp cận thực tế sản xuất trong lâm nghiệp.  
Học phần thực tập nghề nghiệp được tính 2 tín chỉ trong chương trình đào tạo ngành Lâm  
sinh.  
II.  
MỤC TIÊU MÔN HỌC  
+ Rèn luyện kỹ năng chuyên môn cơ bản liên quan đến chuyên ngành đào tạo.  
+ Tiếp xúc với thực tế để hiểu rõ hơn thực tế sản xuất nông - lâm nghiệp.  
+ Nắm bắt nghiệp vụ công tác trong ngành Kiểm Lâm.  
+ Nâng cao khả năng giao tiếp, cách ứng xử trong quá trình thực tập.  
+ Khảo sát, Đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng ngập mặn tại khu vực mà đơn vị thực tập  
quản lí.  
+ Biết cách điều tra, phỏng vấn, thu thập, tổng kết số liệu, viết báo cáo và trình bày báo  
cáo.  
+ Tìm kiếm cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp.  
III. THỜI GIAN  
Thực tập rèn nghề trong học kỳ III cuối khóa có trong Danh mục chương trình đào tạo Đại  
học từng năm cho từng khoá mà chuyên ngành Lâm sinh đã xây dựng.  
IV. ĐƠN VỊ THỰC TẬP  
. Chi cục kiểm lâm Bạc Liêu  
. Hạt kiểm lâm liên huyện rừng phòng hộ Biển đông  
. Các trạm kiểm lâm trực thuộc  
v
         
MỤC LỤC  
PHẦN I. GIỚI THIỆU ĐƠN VỊ THỰC TẬP  
1. Vị trí:  
Hat Kiểm lâm liên huyện rừng phòng hô Biển đông là đơn vị trực thuộc Chi cục  
Kiểm lâm Bạc Liêu, được thành lập theo Quyết định 493/QĐ-UB ngày 10 thạng năm 2002  
của ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu.  
Rừng phòng hộ biển đông do Hạt kiểm lâm quản lý có ranh giới chạy theo phía nam  
sông Bạc Liêu trở ra biển, phía đông giáp xã Lai Hòa, tỉnh Sóc Trăng, chạy dọc theo ven  
biển đến thị trấn Gành Hào giáp tỉnh Cà Mau. Có chiều dài 56km; Có tổng diện tích rừng  
và đất rừng là 4.633,3 ha, chủ yếu là loài mắm lấn biển và rừng đước trồng. Rừng phòng  
hộ rất giàu tiềm năng và tính đa dạng sinh học, có vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo  
vệ bờ biển, bờ sông, hạfcn chế xói lở, bảo vệ đê điều, nơi sống của người dân ven biển  
trước sự tàn phá của gió mùa, bão, nước biển dâng... Bên cạnh đó, rừng phòng hộ ven biển  
Bạc Liêu là nơi cung cấp các sản phẩm từ rừng, bảo vệ cảnh quan tự nhiên, bảo tồn đa dạng  
sinh học, phát triển du lịch sinh thái, giải quyết công ăn việc làm cho người dân góp phần  
vào sự phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo; ngoài ra rừng phòng hộ còn có một  
vị trí chiến lược đối với quốc phòng, an ninh vùng rừng, vùng biển; đặc biệt trong điều kiện  
hiện nay rừng phòng hộ ven biển càng có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường, chống  
biến đổi khí hậu và nước biển dâng.  
Hạt kiểm lâm là đơn vị trực thuộc Chi cục kiểm lâm Bạc Liêu với chức năng nhiệm  
vụ làm tham mưu cho Chi cục kiểm lâm, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố có rừng  
trên địa bàn tỉnh, thừa hành pháp luật trong lĩnh vực lâm nghiệp.  
Hạt kiểm lâm được đóng trên địa bàn Ấp Vĩnh Lạc, xã Vĩnh Thịnh, huyện Hòa Bình,  
tỉnh Bạc Liêu.  
2. Cơ cấu bộ máy tổ chức Hạt kiểm lâm liên huyện RPH BĐ  
Quản lý bảo vệ rừng là công việc rất khó khăn phức tạp, nó đòi hỏi người tham gia  
phải ý thức được việc bảo vệ rừng, cần có sự chung sức của nhiều người, cần phải có một  
bộ máy tổ chức hoạt động hoàn chỉnh. Bộ máy đó đóng vai trò quan trọng trong công tác  
quản lý bảo vệ rừng của địa phương, nó quyết định đến tính hiệu quả của công tác quản lý  
bảo vệ và phát triển rừng tại địa phương.  
Hạt Kiểm lâm có tổng số cán bộ công nhân viên là 36 đồng chí. Trong đó: biên chế  
23 đồng chí; hợp đồng dài hạn trong chỉ tiêu biên chế 05 đồng chí; hợp đồng ngắn hạn 08  
đồng chí. Gồm 08 Trạm Kiểm lâm trực thuộc được bố trí phù hợp nhằm đảm bảo tốt nhiệm  
vụ được giao.  
Ban lãnh đạo Hạt Kiểm lâm xác định công tác cán bộ là hàng đầu để thực hiện tốt  
nhiệm vụ công tác của đơn vị. Trong năm qua Hạt Kiểm lâm cùng Ban lãnh đạo Chi cục  
Kiểm lâm tạo điều kiện cho các đồng chí đi học nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp  
vụ, phục vụ tốt trong công tác; Ban lãnh đạo Hạt Kiểm lâm cố gắng sắp xếp, luân chuyển  
cán bộ để phù hợp công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn Hạt quản lý.  
* Bộ máy tổ chức như sau:  
- BLĐ Hạt gồm: 03 Đ/c ( 01 Đ/c Hạt trưởng và 02 Đ/c Phó Hạt trưởng)  
- Bộ phận Tổ chức – Hành chính + Bộ phận Pháp chế – Thanh tra (kiêm Tổ kiểm lâm Cơ  
động) + Bộ phận Kỹ thuật – Quản lý bảo vệ rừng gồm: 03 Đ/c  
- Có 08 Trạm Kiểm lâm trực thuộc gồm: 28 Đ/c  
1
     
Cán bộ, công chức người lao động của đơn vị tuổi đời còn trẻ, nhiệt tình trong công tác,  
tích cực với nhiệm vụ được phân công, về trình độ cơ bản đáp ứng được nhu cầu công việc  
hiện nay. Tuy nhiên, có những mặt còn hạn chế do một số đồng chí chưa được đào tạo và  
bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn. Ban lãnh đạo Hạt Kiểm lâm đề nghị Ban lãnh đạo Chi  
cục Kiểm lâm tiếp tục liên kết đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ,  
công nhân viên để đáp ứng được yêu cầu thực tế của công việc hiện nay và những năm tiếp  
theo.  
CHI CỤC KIỂM LÂM BẠC LIÊU  
HẠT KIỂM LÂM LIÊN HUYỆN  
RPP BIỂN ĐÔNG  
Bộ phận thanh tra  
pháp chế  
Bộ phận kỹ thuật  
Bộ phận tổng hợp  
Trạm  
kiểm  
lâm  
Gò  
Cát  
Trạm  
kiểm  
lâm  
Gành  
Hào  
Trạm  
kiểm  
lâm  
Trạm  
kiểm  
lâm  
Xiêm  
Cán  
Trạm  
kiểm  
lâm  
Nhà  
Mát  
Trạm  
kiểm  
lâm  
Trạm  
kiểm  
lâm  
Kinh  
Tế  
Trạm  
kiểm  
lâm  
Vườn  
Chim  
Số 4  
30/4  
Hình 1: Sơ đồ tổ chức quản lý lãnh đạo của Hạt Kiểm Lâm RPHBĐ  
Nhìn vào sơ đồ chúng ta có thể thấy công tác quản lý bảo vệ rừng của hạt kiểm lâm huyện  
RPHBĐ triển khai từ ban lãnh đạo hạt xuống các bộ phận tham mưu quản lý bảo vệ và phát  
triển tài nguyên rừng. Các bộ phận tham mưu trực tiếp triển khai các hoạt động cũng như  
chính sách tới trạm kiểm lâm các cụm. Sau đó kiểm lâm các cụm phối hợp cùng với chính  
quyền các cấp thuộc địa bàn mình quản lý và phối hợp với bà con cùng thực hiện.  
3.1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn Hạt Kiểm lâm Liên huyện rừng phòng hộ Biển  
đông (RPHBĐ):  
3.1.1. Tham mưu, giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xây dựng các văn bản quy  
phạm pháp luật chuyên ngành về bảo vệ và phát triển rừng, quản lý lâm sản trên địa bàn;  
huy động các đơn vị vũ trang, lực lượng, phương tiện khác của các đơn vị, cá nhân đóng  
2
trên địa bàn để kịp thời ngăn chặn, ứng cứu những vụ cháy rừng và những vụ phá rừng  
nghiêm trọng trong những tình huống cần thiết và cấp bách.  
3.1.2. Phối hợp với các cơ quan nhà nước có liên quan, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang,  
lực lượng bảo vệ rừng của chủ rừng, thực hiện bảo vệ rừng trên địa bàn:  
a) Bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng, phát triển rừng; phòng, trừ sâu bệnh hại rừng;  
b) Kiểm tra, ngăn chặn các hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý rừng,  
bảo vệ rừng, quản lý lâm sản; tổ chức tuần tra, truy quét các tổ chức, cá nhân phá hoại rừng,  
khai thác, tàng trữ, mua bán, vận chuyển lâm sản, săn bắt động vật rừng trái phép trên địa  
bàn;  
c) Tuyên truyền, giáo dục pháp luật, chế độ, chính sách về quản lý bảo vệ rừng và phát triển  
rừng, quản lý khai thác và sử dụng lâm sản; vận động nhân dân bảo vệ, phát triển rừng; xây  
dựng lực lượng quần chúng bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng; huấn luyện nghiệp  
vụ cho các tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng;  
d) Hướng dẫn chủ rừng, cộng đồng dân cư địa phương xây dựng và thực hiện kế hoạch,  
phương án bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng, quy ước bảo vệ rừng;  
đ) Phối hợp với Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng, Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ trong công tác  
bảo vệ rừng, quản lý lâm sản trên địa bàn;  
e) Thực hiện các nhiệm vụ khác về phát triển lâm nghiệp do cơ quan nhà nước có thẩm  
quyền phân công.  
3.1.3. Tổ chức, chỉ đạo, quản lý hoạt động nghiệp vụ:  
a) Quản lý tổ chức, biên chế, kinh phí, trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, thực hiện chế độ  
tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với công chức của  
đơn vị theo quy định của pháp luật;  
b) Bố trí, chỉ đạo, kiểm tra công chức kiểm lâm địa bàn cấp xã; theo dõi diễn biến rừng, đất  
lâm nghiệp;  
c) Tổ chức, chỉ đạo, quản lý hoạt động của các Trạm Kiểm lâm;  
d) Xử lý hoặc trình cơ quan có thẩm quyền xử lý các vụ vi phạm thuộc lĩnh vực quản lý  
rừng, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản theo quy định của pháp luật;  
đ) Kiểm tra việc thực hiện các phương án, quy hoạch, thiết kế kinh doanh rừng, quy trình  
điều chế, khai thác;  
e) Chịu sự chỉ đạo, điều hành, chấp hành chế độ báo cáo thống kê và thực hiện các nhiệm  
vụ khác do Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp huyện.  
PHẦN II. KẾT QUẢ THỰC TẬP  
I.  
CÔNG TÁC QUẢN LÝ, BẢO VỆ RỪNG TẠI HẠT KIỂM LÂM 2015  
1. Công tác tuyên truyền:  
- Ban lãnh đạo Hạt Kiểm lâm coi công tác tuyên truyền là trọng tâm, hàng đầu là  
khâu then chốt bảo vệ rừng tận gốc, nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm gìn giữ bảo vệ  
3
     
rừng, làm cho mọi người dân hiểu được tầm quan trọng và giá trị to lớn của rừng đối với  
đời sống con người.  
- Công tác tuyên truyền được thực hiện phong phú, đa dạng với nhiều hình thức,  
ngoài dùng loa phóng thanh tuyên truyền tại chỗ, cán bộ còn tổ chức tuyên truyền trực tiếp  
đến các cụm dân cư, phối hợp với chính quyền địa phương cơ sở, với Trung tâm khuyến  
nông khuyến ngư tỉnh Bạc Liêu tổ chức họp dân, họp tổ tự quản, lồng ghép các chương  
trình phổ biến pháp luật quản lý bảo vệ rừng đến tận khóm, ấp, khu dân cư thông qua đó  
người dân hiểu và tự giác chấp hành Luật Bảo vệ và phát triển Rừng.  
Tính đến cuối tháng 11 năm 2015, các Trạm Kiểm lâm đã tổ chức tuyên truyền được: 830  
lượt.  
- Trong đó:  
+ Tuyên truyền đến cụm dân cư : 830 lượt, có 4.817 lượt người tham dự.  
2. Công tác tuần tra, quản lý bảo vệ rừng:  
Xác định công tác quản lý bảo vệ rừng là nhiệm vụ chính, Ban lãnh đạo Hạt Kiểm lâm chỉ  
đạo các Trạm Kiểm lâm thường xuyên tuần tra, kiểm tra, quản lý bảo vệ rừng nhằm phát  
hiện ngăn chặn và xử lý kịp thời, hạn chế đến mức thấp nhất các vụ xâm hại đến rừng xảy  
ra.  
Trong năm, các Trạm kiểm lâm kết hợp với địa phương và các Đồn Biên Phòng ven biển,  
BQL Vườn Chim, Hạt Đê Điều tổ chức tuần tra quản lý bảo vệ rừng cụ thể như sau:  
Tổ chức tuần tra QLBVR : 1.610 đợt  
+ Trong đó  
- Trạm tự tổ chức tuần tra:  
- Trạm kết hợp địa phương:  
- Trạm kết hợp với Biên phòng :  
1.331 đợt.  
188 đợt.  
22 đợt.  
- Trạm kết hợp BQL Vườn Chim : 60 đợt.  
- Kết hợp Hạt Đê Điều:  
9 đợt.  
Phát hiện vi phạm: 274 vụ.  
Giáo dục tại chỗ (vào rừng phòng hộ bẻ củi khô, đào bắt sâm đất): 191 vụ.  
Xử phạt vi phạm hành chính: 83 vụ.  
- Phạt tiền: 83 vụ.  
- Tổng số tiền thu phạt hành chính: 153.900.000 đồng (Một trăm năm mươi ba triệu,  
chín trăm nghìn đồng).  
+ Đã thực hiện: 71 vụ, số tiền: 81.250.000 đồng (Tám mươi mốt triệu, hai trăm năm  
mươi nghìn đồng)  
+ Chưa thực hiện: 12 vụ, số tiền: 72.650.000 đồng (Bảy mươi hai triệu, sáu trăm  
năm mươi nghìn đồng)  
Trong đó:  
- UBND xã xử phạt:  
03 vụ, số tiền: 1.000.000 đồng.  
- Các trạm Kiểm lâm xử phạt: 09 vụ, số tiền: 5.750.000 đồng.  
- Hạt Kiểm lâm xử phạt:  
* Hành vi vi phạm.  
71 vụ, số tiền: 147.150.000 đồng.  
- Phá rừng trái pháp luật: 19 vụ  
- Vi phạm các quy định chung của nhà nước về BVR: 09 vụ  
- Khai thác rừng trái phép: 52 vụ  
4
 
- Vận chuyển lâm sản trái phép: 02 vụ  
- VP thủ tục hành chính trong mua bán, vận chuyển lâm sản: 01 vụ  
Diện tích rừng bị thiệt hại.  
* Thiệt hại do vi phạm hành chính gây ra.  
- Thiệt hại về rừng: 8.313 m2.  
+ Rừng trồng: 4.591 m2.  
+ Rừng tự nhiên: 3.722 m2.  
- Lâm sản (Gỗ): 2,690 m3.  
- Đước trồng: 466 cây  
- Mấm tự nhiên: 20 cây.  
* Thiệt hại do mưa nhiều làm thay đổi môi trường đột ngột, xảy ra hiện tượng yếm  
khí, xì phèn, lượng lá cây rụng nhiều làm ảnh hưởng đến môi trường dẫn đến rừng bị chết  
với diện tích: 23.885 m2 (Hòa Bình 4.573 m2; Đông Hải 19.312 m2).  
* Thiệt hại bị chết do sâu bệnh với diện tích: 11,3ha ( Hòa Bình 10,5 ha; Đông Hải  
0,8 ha) rừng trồng trong đê theo Quyết định 05/QĐ-SNN ngày 07/01/2014 của  
SNN&PTNT về việc phê duyệt phương án thiết kế kỹ thuật - dự toán trồng rừng phía trong  
đê năm 2014.  
3. Công tác giao khoán rừng, việc thực hiện của các hộ nhận khoán:  
Thực hiện Công văn 441/UBND ngày 17/02/2014 của UBND tỉnh Bạc Liêu về việc  
tiếp tục hợp đồng giao khoán đất lâm nghiệp đối với các hộ nhận khoán đất rừng phòng hộ  
ven biển.  
- Trong năm 2015 Chi cục Kiểm lâm đã ký lại hợp đồng giao khoán đối với 77 hộ  
nhận khoán hết hạn hợp đồng giao khoán từ ngày 15/10/2013 thuộc hai huyện (Hòa Bình:  
08 hộ, Đông Hải 69 hộ).  
- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bạc Liêu đã trình UBND tỉnh xin phép  
thanh lý Hợp đồng giao khoán cũ và ký lại hợp đồng giao khoán mới với thời hạn 20 năm  
đối với 48 hộ nhận khoán hết thời gian nhận khoán để các hộ yên tâm sản xuất.  
+ Năm 2014 huyện Đông Hải có 02 hộ nhận khoán hết hạn hợp đồng.  
+ Năm 2015 có 46 hộ hết hạn hợp đồng (Thành Phố Bạc Liêu 05 hộ; Hòa Bình 39  
hộ; Đông Hải 02 hộ).  
- Tổng số hộ hợp đồng nhận khoán quản lý bảo vệ rừng tính đến cuối năm 2015 là  
397 tập thể, hộ gia đình(392 hộ gia đình, 05 tổ chức), với tổng diện tích 3.089 ha cụ thể  
như sau:  
+ Trạm Kiểm lâm Xiêm Cán (5 hộ gia đình và 01 tập thể);  
+ Trạm Kiểm lâm Nhà Mát (65 hộ gia đình);  
+ Trạm Kiểm lâm 30/4 (59 hộ gia đình);  
+ Trạm Kiểm lâm Kinh Tế (104 hộ gia đình và 01 tập thể);  
+ Trạm Kiểm lâm Số 4 (120 hộ gia đình);  
+ Trạm Kiểm lâm Gò Cát (38 hộ gia đình và 03 tập thể).  
5
 
+ Riêng với Trạm Kiểm lâm Gành Hào, Trạm Kiểm lâm Xiêm Cán và một phần diện  
tích của Trạm Kiểm lâm Gò Cát thì đơn vị các Trạm tự quản lý.  
Việc giao khoán đất lâm nghiệp cho người dân quản lý bảo vệ rừng, kết hợp nuôi trồng  
thủy sản là phù hợp với chủ trương của Đảng, đúng với quy định của Nhà nước, đáp ứng  
được nguyện vọng của nhân dân, đảm bảo rừng có chủ và bảo vệ rừng tận gốc.  
Việc giao khoán được thực hiện theo hợp đồng, quy định trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa  
vụ của các bên giao và nhận khoán, có hệ thống trạm Kiểm Lâm quản lý trực tiếp và kiểm  
tra, giám sát, quản lý, bảo vệ rừng và xử lý vi phạm.  
Nhìn chung, đa số các tổ chức, hộ gia đình nhận khoán đều chấp hành tốt chủ trương, chính  
sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, những quy định trong hợp đồng giao khoán đất  
lâm nghiệp, từ đó công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, sản xuất nuôi trồng thủy sản  
kết hợp ngày càng được thực hiện tốt hơn.  
4. Công tác phát triển theo dõi và diễn biến rừng  
4.1. Công tác phát triển rừng  
Thực hiện Quyết định số: 1183/QĐ-UBND ngày 24/7/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh về  
việc phê duyệt điều chỉnh, bổ sung một phần phương án trồng rừng thay thế diện tích rừng  
chuyển đổi mục đích khi thi công các hạng mục khi thi công các hạng mục thuộc dự án Nhà  
máy điện gió Bạc Liêu.  
Thực hiện Quyết định 578/QĐ-SNN, ngày 02/02/2015 của Giám đốc Sở NN&PTNT về  
việc phê duyệt thiết kế kỹ thuật trồng rừng phòng hộ ven Biển Đông tỉnh Bạc Liêu năm  
2015.  
- Trong năm 2015 Hạt Kiểm lâm kết hợp cùng phòng Kỹ thuật quản lý bảo vệ rừng, các  
trạm Kiểm lâm trực thuộc trồng mới, trồng dặm diện tích 64,45 ha rừng Đước trên diện tích  
nhận khoán của 102 tổ chức, hộ gia đình thuộc địa bàn hai huyện Hòa Bình và Đông Hải.  
- Thực hiện công tác trồng rừng phía trong đê biển Đông năm 2015 với tổng diện là: 6,2 ha  
bằng loài cây đước trên địa bàn xã Vĩnh Hậu, huyện Hòa Bình.  
4.2. Công tác theo dõi diễn biến rừng  
- Công tác theo dõi diễn biến tài nguyên rừng được cập nhật thường xuyên trên địa bàn các  
Trạm kiểm lâm quản lý, đặc biệt là diện tích rừng trồng hiện có và rừng phòng hộ xung yếu  
cấm tác động, Hạt Kiểm lâm đã chỉ đạo các Trạm Kiểm lâm trực thuộc cập nhật theo dõi  
tình hình công tác diễn biến tài nguyên rừng, để đề xuất Ban lãnh đạo Chi cục Kiêm lâm  
có kế hoạch xây dựng phương án trồng mới và trồng bổ sung trên diện tích rừng bị thiết hại  
do vi phạm hành chính gây ra.  
- Trong năm 2015 qua theo dõi diện tích rừng và đất rừng bị thiệt hại là: 145.198 m2  
+ Thiệt hại về rừng do vi phạm hành chính: 8.313 m2  
+ Thiệt hại do mưa nhiều làm thay đổi môi trường đột ngột, xảy ra hiện tượng yếm khí, xì  
phèn, lượng lá cây rụng nhiều làm ảnh hưởng đến môi trường dẫn đến rừng bị chết với diện  
tích: 23.885 m2.  
+ Thiệt hại bị chết do sâu bệnh với diện tích: 11,3ha rừng trồng trong đê theo Quyết định  
05/QĐ-SNN ngày 07/01/2014 của SNN&PTNT về việc phê duyệt phương án thiết kế kỹ  
thuật - dự toán trồng rừng phía trong đê năm 2014,  
- Trong năm 2015 Hạt Kiểm lâm đã ký chuyển đến Chi cục Kiểm lâm 17 bộ hồ sơ xin  
chuyển quyền nhận khoán đất lâm nghiệp (Hòa Bình 12 bộ; Đông Hải 5 bộ)  
6
 
- Ký duyệt hồ sơ xin nạo vét cải tạo kênh cũ 157 hồ sơ. Trong đó:  
+ Trạm Kiểm lâm Nhà Mát: 23 hồ sơ  
+ Trạm kiểm lâm Kinh Tế: 54 hồ sơ  
+ Trạm Kiểm lâm Số 4: 41 hồ sơ  
+ Trạm Kiểm lâm Gò Cát: 21 hồ sơ  
5. Công tác thanh tra – pháp chế  
5.1. Công tác in ấn, cấp phát, quản lý sử dụng Ấn chỉ pháp chế:  
Thực hiện chỉ đạo của Chi cục Kiểm lâm và Phòng Thanh tra-pháp chế, ngay sau khi Nghị  
định: 157/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, Hạt kiểm lâm đã chủ động in ấn các biểu mẫu  
theo quy định tại Nghị định: 81/2013/NĐ-CP để cấp, phát cho các Trạm kiểm lâm. Việc  
cấp phát, quản lý sử dụng ấn chỉ được kiểm tra chặt chẽ, tất cả phải có sổ theo dõi, đảm bảo  
đúng theo quy định của pháp luật.  
5.2. Công tác xử lý vi phạm hành chính:  
Trong năm 2015 (tính đến hết ngày 30 tháng 11) đã phát hiện, xử phạt vi phạm hành chính,  
và chuyển cơ chức năng xử phạt là: 83 vụ với số tiền 153.900.000đ. (có danh sách chi tiết  
kèm theo ), tăng ……% số vụ so với cùng kỳ năm 2014 (tăng 47 vụ); trong đó cơ quan  
Kiểm lâm xử lý 80 vụ với số tiền: 152.900.000đ (đã thực hiện xong: 69 vụ với số tiền:  
80.400.000đ, chưa thực hiện 11 vụ, số tiền: 72.500.000đ); chính quyền địa phương các xã  
xử lý: 03 vụ với số tiền: 1.000.000đ (đã thực hiện được 02 vụ, số tiền 850.000 đồng, chưa  
thực hiện 01 vụ, số tiền 150.000 đồng). Ngoài ra, còn nhắc nhở, giáo dục tại chỗ : 191 vụ.  
5.3. Công tác giải quyết đơn thư – khiếu nại tố cáo  
Trong năm 2014 Hạt kiểm lâm nhận được 01 đơn yêu cầu của người dân, cụ thể là đơn yêu  
cầu của ông Đào Văn Lập, sinh năm 1944 cư ngụ ấp Vĩnh Điền, xã Long Điền Đông, huyện  
Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu, trong đơn có xác nhận của UBND xã Long Điền Đông chuyển  
đến Chi cục Kiểm lâm, Hạt kiểm lâm xem xét giải quyết và giấy ủy quyền của 06 hộ dân  
nhận hợp đồng giao khoán đất lâm nghiệp cho ông Đào Văn Lập đứng ra đại diện yêu cầu  
ông: Châu Văn Đống, cùng ngụ địa chỉ trên phải trả lại đường kênh mà ông Đống đang sử  
dụng là của nhà nước để tập thể lấy nước. Đến năm 2015 Hạt kiểm lâm đã phối hợp với  
phòng Thanh tra – Pháp chế Chi cục Kiểm lâm và chính quyền địa phương điều tra, xác  
minh làm rõ, giải quyết xong theo quy định.  
6. Công tác PCCR và Kiểm Lâm địa bàn  
6.1. Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng:  
Trong năm 2015 Ban lãnh đạo Hạt Kiểm lâm đã chỉ đạo các Trạm Kiểm lâm trực thuộc Hạt  
Kiểm lâm, Tổ kiểm lâm cơ động và Bộ phận kỹ thuật quản lý bảo vệ rừng, chủ động kết  
hợp với chính quyền địa phương, các đơn vị có liên quan tuyên truyền sâu rộng đến nhân  
dân, nhằm nhắc nhỡ người dân có ý thức trong phòng cháy, chữa cháy rừng, đặc biệt là ở  
những nơi có khả năng cháy cao như các khu rừng Phi lao, khu rừng có nhiều thực bì, cây  
dây leo… từ đó công tác cháy rừng được thực hiện tốt. Bên cạnh đó, Hạt Kiểm lâm cũng  
thường xuyên kiểm tra, chỉ đạo Trạm Kiểm lâm Vườn Chim kiểm tra, đôn đốc, giám sát  
chủ rừng (Ban quản lý Vườn Chim) thực hiện đúng phương án phòng cháy, chữa cháy rừng  
đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trong năm qua không có vụ cháy rừng nào xảy  
ra.  
7
   
6.2. Công tác Kiểm lâm địa bàn:  
Hạt Kiểm lâm liên huyện rừng phòng hộ biển đông quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn 02  
huyện và 01 thành phố gồm: 10 xã, phường, thị trấn ven biển có rừng; để thực hiện tốt công  
tác quản lý bảo vệ rừng. Hạt Kiểm lâm đã có quyết định phân công Kiểm lâm phụ trách địa  
bàn ở cả 10 xã, phường, thị trấn trên địa bàn Hạt quản lý với 08 kiểm lâm địa bàn; Hạt  
Kiểm lâm đã tổ chức quán triệt kịp thời chủ trương này đến tất cả cán bộ công chức Kiểm  
lâm, đặc biệt là làm rõ vai trò, trách nhiệm của công chức kiểm lâm phụ trách địa bàn xã.  
Lãnh đạo Hạt Kiểm lâm trực tiếp làm việc với UBND các xã, thị trấn có rừng để xác định  
các nhiệm vụ của Kiểm lâm địa bàn. Nêu rõ mối quan hệ, vai trò, trách nhiệm của công  
chức kiểm lâm phụ trách địa bàn xã trong công tác bảo vệ và phát triển rừng; Tuy nhiên,  
do đặc thù của địa phương Kiểm lâm phụ trách địa bàn đồng thời là Trạm trưởng hoặc Phó  
Trạm trưởng các Trạm Kiểm lâm, có trụ sở riêng biệt, không ở tại trụ sở xã, phường, thị  
trấn. Nhìn chung cán bộ công chức kiểm lâm khi được phân công phụ trách địa bàn xã đã  
có nhiều cố gắng, tham mưu giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện công tác tuyên truyền,  
vận động nhân dân bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng, phát triển rừng. Nhận thức  
rõ vai trò, trách nhiệm của mình, cán bộ công chức kiểm lâm địa bàn cấp xã đã có nhiều  
biện pháp tích cực để tham mưu và tổ chức thực hiện nhiệm vụ tại địa bàn ngày càng được  
nâng lên góp phần đáng kể vào công tác quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng trên địa bàn  
mang tính ổn định lâu dài và bền vững.  
Tuy nhiên, bên cạnh đó, hoạt động của Kiểm lâm địa bàn xã vẫn còn tồn tại một số khó  
khăn nhất định. Đó là, do đặc thù riêng Kiểm lâm địa bàn là Trạm trưởng, Phó Trạm trưởng  
kiêm nhiệm nhiều công việc, vừa làm nhiệm vụ tại Trạm Kiểm lâm vừa phụ trách địa bàn  
xã, trách nhiệm càng nặng nề hơn. Tuy đã được tập huấn về nghiệp vụ nhưng kết quả chưa  
như mong muốn; một số Kiểm lâm địa bàn trình độ chuyên môn nghiệp vụ năng lực còn  
hạn chế, nhận thức về công việc, xã hội còn thấp, xử lý công việc còn lúng túng; việc xây  
dựng các tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng chưa thực hiện tốt,  
chưa tham mưu cho Chủ tịch UBND xã xây dựng được quy ước bảo vệ rừng, do vậy chưa  
phát huy được sức mạnh tổng hợp trong công tác quản lý bảo vệ rừng ; ở một số xã chính  
quyền địa phương chưa thực sự quan tâm đến Kiểm lâm địa bàn, sự phối hợp chỉ đạo của  
xã với các ngành liên quan phối hợp với Kiểm lâm địa bàn chưa thực sự chặt chẽ và thống  
nhất.  
7. Thực hiện một số công việc khác  
Tham gia với đoàn công tác của tỉnh kiểm tra công tác phối hợp giữa ba lực lượng Công an  
- Quân sự - Kiểm lâm theo Quy định tại Nghị định 74/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010 của  
Chính phủ.  
Tham gia với đoàn công tác Cục phong trào, Cục Kiểm lâm, Cục dân quân tự vệ kiểm tra  
công tác phối hợp giữa ba lực lượng Công an- Quân sự - Kiểm lâm theo Quy định tại Nghị  
định 74/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010 của Chính phủ.  
Kết hợp với Chi đoàn Công an tỉnh Bạc Liêu, Đoàn trường Đại học Bạc Liêu, Đồn Biên  
phòng Cái Cùng, huyên đoàn Hòa Bình trồng rừng trên địa bàn xã Long Điền Đông – Đông  
Hải.  
Trồng rừng phía trong đê theo chỉ đạo của Tỉnh ủy và UBND tỉnh, trên địa bàn huyện Hòa  
Bình và huyện Đông Hải.  
Tham gia cùng các cơ quan chức năng giải quyết tranh chấp đất rừng trên địa bàn quản lý.  
8
 
Tham gia công tác xã hội như: dự Lễ khai giảng năm học mới và tặng Tập, Viết cho các  
trường: Trường Tiểu học Long Điền Đông A2, Trường tiểu học Long Điền Đông, Trường  
tiểu học Vĩnh Thịnh C, Trường THCS Vĩnh Thịnh...  
8. Những khó khăn, vướng mắc, hạn chế, yếu kém tại đơn vị  
8.1. Những khó khăn, vướng mắc:  
Cơ sở làm việc của Hạt kiểm lâm, các Trạm kiểm lâm bị xuống cấp nghiêm trọng không  
được sửa chữa, thậm chí có Trạm kiểm lâm phải ở nhờ; điều kiện môi trường làm việc tối  
thiểu không đảm bảo, mùa mưa dột chảy, mùa khô thì oi bức, nắng nóng; trang thiết bị,  
phương tiện phục vụ công tác còn thiếu thốn; kinh phí thấp chưa tương xứng với nhiệm vụ  
được giao; cơ sở vật chất, đời sống tinh thần, vật chất của can bô  
̣
công chức ở các Trạm  
kiểm lâm và Hạt kiểm lâm còn nghèo nàn, rất nhiều khó khăn, gian khổ. Vị thế pháp lý của  
Kiểm lâm trong xã hội còn han chê, chưa xác lập quyền hạn pháp lý đủ mạnh của cơ quan  
́
̣
́
thừa hành pháp luật về rừng để thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả.  
- Rừng phòng hộ tỉnh Bạc Liêu tuy không lớn, nhưng địa bàn trải dài trên 56 km, tập  
trung chủ yếu vùng ven biển, khu vực hiện đang chịu sức tác động mạnh mẽ của biến đổi  
khí hậu, thuỷ triều gây xói lở và xâm thực bờ biển. Chịu sức ép do nhu cầu sử dụng đất đai  
và gỗ củi, các dự án phát triển kinh tế, xã hội, đặc biệt là nhu cầu sử dụng đất để nuôi trồng  
thủy sản, một nguồn lợi lớn về thu nhập, nên rất hấp dẫn người dân, đã và đang đe doạ đến  
rừng phòng hộ ven biển;  
- Áp lực xã hội lên công tác quản lý bảo vệ rừng ngày càng lớn, việc nuôi trồng thủy  
sản kết hợp QLBVR của một số người dân không hiệu quả, mất mùa, rừng đã bắt đầu có  
trữ lượng rất thuận lợi cho việc sử dụng phục vụ cho làm nhà, cất chòi, bắc cầu,… thậm chí  
có trường hợp vuông thất lén lút chặt bán lấy tiền giải quyết nhu cầu sinh hoạt tối thiểu như  
mua gạo,… các hành vi vi phạm trong lĩnh vực QLBVR ngày càng tinh vi như khắc vỏ cây  
rồi chát bùn xình vào, chặt ngầm trang đước dưới gốc để cây chết dần, chặt chang, tỉa cành  
nhánh…, tất cả những vấn đề trên đều gây rất nhiều khó khăn cho công tác QLBVR.  
- Nhiều hộ dân cư bất hợp pháp trong lâm phần lại không có việc làm ăn ổn định,  
một số đơn vị, tập thể, hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng nhưng không trực tiếp quản lý,  
bảo vệ và phát triển rừng mà giao khoán hoặc cho người khác thuê mướn, sau này cấm thuê  
mướn họ biến tướng sang hình thức hùn vốn canh tác sản xuất gây khó khăn cho công tác  
quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Tâm lý của những người thuê mướn làm sao khai thác,  
tận thu tối đa năng suất, hiệu quả tiềm năng của đất và rừng trong thời gian ngắn, mà họ  
không chú trọng đến đầu tư và quản lý bảo vệ rừng.  
- Những năm gần đây nguồn con giống tự nhiên bị cạn kiệt, nguồn nước ô nhiễm,  
năng suất chất lượng giảm, thậm chí có chỗ mất trắng, việc người nuôi trồng thuỷ sản liên  
tục thất bại, gây khó khăn trong cuộc sống hàng ngày nên họ không mặn mà chú trọng đến  
công tác quản lý bảo vệ rừng. Hơn nữa trong những năm gần đây việc không trả tiền khoán  
quản lý bảo vệ rừng cho các hộ nhận khoán đất Lâm nghiệp có diện tích rừng phòng hộ  
xung yếu cũng đã làm cho họ thiếu trách nhiệm với rừng tại những khu vực này.  
- Một số hộ nhận khoán đất lâm nghiệp thuộc địa bàn Trạm Kiểm lâm Số 4, Gò Cát  
sau khi nhận bồi thường tái định cư không thực hiện việc cắt ranh phân tuyến, vì vậy khi  
một số hộ khi thực hiện việc nạo vét cải tạo kênh cũ trong khu vực rừng phòng hộ kết hợp  
sản xuất đã lén lút thực hiện nạo vét cải tạo khu vực này, gây khó khăn cho công tác quản  
lý.  
9
 
- Trước đây, đất đai còn nhiều, những phần đất biền, đất trống ven kênh, ven đê  
người dân không chú trọng, bỏ hoang; nay quỹ đất đai ngày càng hạn hẹp, dân số tăng, chia  
tách hộ gia đình, người dân tận dụng mọi diện tích đất còn trống để canh tác sản xuất, nuôi  
trồng thủy sản dẫn đến tình trạng đào ao, hồ nuôi tôm trong rừng ven các hành lang đê, lang  
kênh;  
- Việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước ở một  
số ngành và một số địa phương chưa có sự phối hợp đồng bộ, hiệu quả hoạt động chưa  
cao, chưa phân cấp cụ thể giữa các ngành, huyện, thành phố và cơ sở trong việc thực hiện  
chức năng quản lý nhà nước về rừng theo quyết định số:07/QĐ-TTg ngày 08 tháng 02 năm  
2012.  
- Trình độ dân trí trên địa bàn còn thấp, một số người dân sống trong khu vực ven  
biển có rừng chưa nhận thức sâu sắc được tầm quan trọng của rừng đối với cuộc sống con  
người, hoặc tuy có nhận thức nhưng do đời sống khó khăn, không có nghề nghiệp, vào rừng  
trực tiếp lấy sản phẩm từ rừng để làm kế sinh nhai, gây rất nhiều khó khăn trong công tác  
quản lý bảo vệ rừng .  
- Việc trong những năm gần đây cơ sở hạ tầng khu vực rừng phòng hộ Biển đông  
từng bước được cải thiện, cụ thể là Đê biển đông đã tạo thuận lợi cho công tác tuần tra,  
quản lý bảo vệ rừng, thuận tiện cho bà con nhân dân vùng rừng trong việc đi lại, làm ăn,  
trao đổi hàng hóa...; tuy nhiên, bên cạnh đó việc Đê đông được hình thành cũng đã tạo ra  
những áp lực, khó khăn như việc cất nhà, chòi, hàng quán buôn bán ven hành lang đê, đào  
ao, hồ, đắp đường ra vào, việc quản lý và xử lý các vụ việc xâm phạm hành lang đê chưa  
hiệu quả...gây rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý.  
8.2. Những hạn chế, yếu kém  
- Công tác tham mưu của Hạt kiểm lâm, các Trạm kiểm lâm, Kiểm lâm địa bàn cho lãnh  
đạo Chi cục Kiểm lâm, các cấp chính quyền ở địa phương huyện, xã có những lúc còn chưa  
kịp thời; chưa có những giải pháp mang tính chiến lược dài hạn mà chỉ tham mưu mang  
tính chất vụ việc;  
- Một số vụ việc chưa thực sự được phát hiện ngăn chặn kịp thời, vẫn còn tình trạng chặt  
phá rừng, nhất là chặt chang, rễ mà chưa có biện pháp ngăn chặn hiệu quả; công tác xử phạt  
vi phạm hành chính còn yếu trong việc thiết lập hồ sơ ban đầu;  
- Một số cán bộ trình độ chuyên môn nghiệp vụ năng lực còn hạn chế, nhận thức về ngành  
nghề, về xã hội còn thấp; xử lý công việc còn lúng túng ;  
- Cán bộ của Hạt kiểm lâm và các Trạm kiểm lâm đa số còn gặp khó khăn trong cuộc sống,  
thu nhập thấp, kinh tế gia đình khó khăn, nhà ở còn tạm bợ, thiếu tính ổn định từ đó ảnh  
hưởng rất nhiều đến công việc.  
II. CÔNG TÁC THỰC ĐỊA TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP TẠI ĐƠN VỊ  
1. Khảo sát mô hình Tôm - rừng  
Đối với mô hình này tùy điều kiện tự nhiên của từng vùng khác nhau mà bà con nông dân  
lựa chọn các đối tượng nuôi phù hợp để góp phần tăng hiệu quả kinh tế, các kiểu nuôi  
thường được bà con áp dụng là: Tôm – Cua – Cá - Rừng, Tôm – Cua – Rừng….). Năm  
2015, diện tích được nông dân canh tác theo mô hình này là 2.354 ha, tập trung ở các huyện:  
Đông Hải (1.573 ha), Hòa Bình (781 ha).  
Trong vài năm gần đây, ngành nông nghiệp đang khuyến khích nông dân nhân rộng mô  
hình này vì đây là hình thức nuôi theo hướng sinh thái, tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên,  
10  
   
được nuôi trên diên  
̣
tich rưng ngâp  
̣
măn  
̀ ́ ̣  
nguôn giông tư tư nhiên và tạo ra sản phẩm sạch. Mô hình này đa số nằm trong vùng đất  
̀
̣ ̣ ̣ ̣ ̀  
(khoang 20% mương bao) va tân dung đươc 1 phân  
̉
̀
̀
́
lung trũng và trong rừng phòng hộ.  
Hình 1: Mô hình canh tác Tôm rừng tại Bạc Liêu (Ảnh: Nguyễn Văn Hiểu)  
Thông thường các hộ canh tác theo mô hình này thả tôm với mật độ từ 1 – 2 con/m2 măt  
̣
nươc, cua: 500 – 700 con/ha. Áp dụng quy trình nuôi QCCT-KH, lấy nước ra, vào theo  
́
thủy triều, điều kiện không lấy theo thủy triều được thì dùng máy bơm. Thời gian bắt đầu  
thu tỉa sau khi thả là khoảng 2,5 tháng, bổ sung giống tôm định kỳ từ 30 – 45 ngày/lần.  
Trong năm 2015, hiệu quả từ mô hình này rất khả quan: năng suất chung các loài thủy sản  
thu hoạch là 400-500 kg/ha/năm; số hộ có lãi mô hình này 95% trung bình mỗi hộ lãi từ 30  
– 40 triệu đồng. Điển hình như hộ ông Trần Văn Chiến cư ngụ ấp Vĩnh Lạc, xã Vĩnh Thịnh,  
huyện Hòa Bình được giao khoán 8,7 ha đất rừng, ông Chiến được phép đào mương, bao  
bờ xung quanh để nuôi các loài thủy sản với diện tích từ 30 - 40%, 60 – 70% diện tích còn  
lại ông có nghĩa vụ bảo vệ và phát triển cây rừng, đảm bảo mật độ 10.000 cây/ha, Ông  
Chiến, người canh tác theo mô hình này cho biết, năm 2015 gia đình ông thu nhập bình  
quân từ hơn 100 - 120 triệu đồng (tôm, cua, cá các loại).  
11  
Sau khi trừ các khoản chi phí (thả giống, cải tạo, sên vét, bơm nước) còn lãi gần 60 triệu  
đồng trong năm 2015 vừa qua.  
Hình 2: Chặt tỉa thưa rừng đước tại Bạc Liêu  
Ảnh: Viên Ngọc Nam  
Ngoài ra, Sau hơn 10 năm giữ rừng, các hộ nhận khoán còn được hưởng một phần lâm sản  
được khai thác nhằm phục vụ mục đích nuôi dưỡng, chuyển hóa rừng giống góp phần ổn  
định phát triển kinh tế nông hộ, duy trì mối quan hệ phối hợp giữa người dân và các cơ  
quan như năng hữu quan tham gia công tác quản lí, bảo vệ và phát triển rừng; Đặc biệt giúp  
cây rừng sinh trưởng và phát triển tốt.  
2. Khảo sát rừng ngập mặn ven biển Bạc Liêu  
2.1. Đánh giá thành phần loài thực vật rừng ngập mặn ven biển Bạc Liêu  
Với mong muốn nhận diện thực vật rừng ngập mặn và một số loài tham gia rừng ngập mặn  
đặc trưng, cũng như hiện trạng phân bố loài trên các kiểu dạng lập địa khác nhau bằng hình  
ảnh thực tế. Trong quá trình thực tập tại chi cục Kiểm Lâm Bạc Liêu, Hạt kiểm Lâm liên  
huyện RPH BĐ và các trạm kiểm lâm trực thuộc được sự hướng dẫn tận tình và chu đáo  
của các anh/chị Kiểm lâm trên địa bàn khảo sát nhằm hệ thống lại kiến thức có được trong  
suốt quá trình tham gia học tập tại trường Đại học Cần Thơ.  
12  
 
Theo PGS. TS Viên Ngọc Nam cùng nhóm Nghiên cứu (2010) Qua điều tra đã xác định  
được 49 loài (danh lục kèm theo), trong đó có 15 loài (chiếm 31%) là cây rừng ngập mặn  
thực sự và 34 loài (chiếm 69%) cây gia nhập rừng ngập mặn thuộc 27 họ. Trong đó Chùm  
lé (Azima sarmentosa (Blume) Benth. & Hook.f.) là loài duy nhất ở rừng ngập mặn Bạc  
Liêu có trong danh sách sách đỏ của Việt Nam.  
Qua khảo sát đã nhận biết được nhiều loài đặc hữu tại khu vực ven biển Bạc Liêu như Mấm  
biển, đước đôi, Su Mekong, Vẹt, Ô rô hoa tím, Cóc Trắng, cóc kèn 3 lá, v.v  
Hình 3, 4: Rừng đước – mấm là loại rừng đặc trưng tại khu vực ven biển Bạc Liêu  
2.2. Tình hình xói lở bờ biển và các giải pháp xử lý trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu  
Bạc Liêu là một tỉnh nằm ven biển Đông, có đường bờ biển tự nhiên dài 56 km, bao gồm  
địa bàn thành phố Bạc Liêu, huyện Hòa Bình, huyện Đông Hải, chạy dài từ ranh tỉnh Sóc  
Trăng đến cửa sông Gành Hào.  
13  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 27 trang yennguyen 17720 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Thực tập rèn nghề tại Hạt kiểm lâm liên huyện RPH BĐ Chi cục kiểm lâm Bạc Liêu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_thuc_tap_ren_nghe_tai_hat_kiem_lam_lien_huyen_rph_bd.pdf