Khảo sát khả năng kháng oxy hóa và kháng khuẩn của cây Muồng trâu và Mai dương tại Kiên Giang

TNU Journal of Science and Technology  
226(07): 166 - 174  
STUDY ON THE ANTIOXIDANT AND ANTIBACTERIAL OF SENNÂ ALATA AND  
MIMOSA PIGRA IN KIEN GIANG  
Huynh Kim Yen1,2,Tran Thanh Men2*, Nguyen Trong Tuan2, Nguyen Thanh Tam1,  
Huynh Thi Cam Lan2, Pham Thi Khanh Linh2, Truong Thi Tu Tran1  
1Kien Giang University, 2Can Tho University  
ARTICLE INFO  
Received: 28/02/2021  
Revised: 11/5/2021  
Published: 25/5/2021  
ABSTRACT  
This study is aimed to evaluate the antioxidant and antibacterial activities  
of two plants collected in Kien Giang province, Vietnam. The antioxidant  
property was determined for their antioxidant activity by DPPH, ABTS+,  
RP và TAA methods in vitro. The results showed that the ethanolic leaves  
extract of Mimosa pigra displayed in vitro antioxidant activities with the  
IC50 (effective concentration) values are 67.12 µg/mL, 39.22µg/mL, 32.16  
µg/mL and 71.86 µg/mL respectively. Similarly, the ethanolic leaves  
extract of Senna alata with IC50 values are 357.19 µg/mL; 40.39 µg/mL;  
331.03 µg/mL and 119.59 µg/mL respectively. Total phenolic and total  
flavonoid of leaf extract of Senna alata contents were 203.57 mg GAE/g  
and 46.31 mg QE/g, respectively. Similarly, total phenolic and total  
flavonoid of leaf extract of M. pigra contents were 306.08 mg GAE/g and  
38.71 mg QE/g respectively. The antibacterial activity is investigated in 4  
bacterial strains which can cause aquatic diseases. The results proved that  
the ethanol extract of M. pigra had high efficiency in antimicrobial activity  
on four bacterial strains Aeromonas dhakensis, Aeromonas  
hydrophilaEdwardsiella ictaluri, Streptococcus agalactiae. These findings  
indicated that M. pigra is a very potential herb containing natural  
antioxidant and antibacterial compounds.  
KEYWORDS  
ABTS+.  
Antioxidant  
DPPH  
Mimosa pigra  
Senna alata  
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG KHÁNG OXY HÓA VÀ KHÁNG KHUẨN  
CỦA CÂY MUỒNG TRÂU VÀ MAI DƯƠNG TẠI KIÊN GIANG  
Huỳnh Kim Yến1,2, Trần Thanh Mến2*, Nguyễn Trọng Tuân2, Nguyễn Thành Tâm1,  
Huỳnh Thị Cẩm Lan2, Phạm Thị Khánh Linh2, Trương Thị Tú Trân1  
1Trường Đại học Kiên Giang, 2Trường Đại học Cần Thơ  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
Ngày nhận bài: 28/02/2021  
Ngày hoàn thiện: 11/5/2021  
Ngày đăng: 25/5/2021  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hoạt tính kháng oxy hóa và  
kháng khuẩn gây bệnh trên thủy sản của hai loài thực vật thu tại tỉnh Kiên  
Giang, Việt Nam. Khả năng kháng oxy hóa được xác định bằng phương  
pháp DPPH, ABTS+, RP và TAA in vitro. Kết quả cho thấy, cao chiết  
ethanol từ lá của cây Mai dương thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa với giá trị  
IC50 lần lượt là 67,12 µg/mL; 39,22µg/mL; 32,16 µg/mL và 71,86 µg/mL.  
Tương tự, cao chiết Muồng trâu có giá trị IC50 tương ứng 357,19 µg/mL;  
40,39 µg/mL; 331,03 µg/mL và 119,59 µg/mL. Hàm lượng polyphenol tổng  
và flavonoid của cao chiết cây Muồng trâu được xác định lần lượt là 203,57  
mg GAE/g; 46,31 mg QE/g. Tương tự, cao chiết Mai dương có hàm lượng  
tương ứng là 306,08 mg GAE/g; 38,71 mg QE/g. Hoạt tính kháng khuẩn  
được khảo sát bằng phương pháp khuyếch tán trên đĩa thạch với 4 dòng vi  
khuẩn gây bệnh trên thủy sản. Kết quả cho thấy cao chiết Mai dương thể  
hiện hoạt tính kháng khuẩn tốt đối với 4 chủng vi khuẩnAeromonas  
dhakensis, Aeromonas hydrophila Edwardsiella ictaluri, Streptococcus  
agalactiae. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, Mai dương là một dược liệu  
tiềm năng chứa nhiều các hợp chất kháng oxy hóa và kháng khuẩn.  
TỪ KHÓA  
ABTS+.  
DPPH  
Kháng oxy hóa  
Mai dương  
Muồng trâu  
* Corresponding author. Email: [email protected]  
166  
TNU Journal of Science and Technology  
226(07): 166 - 174  
1. Giới thiệu  
Stress oxy hóa là hiện tượng xuất hiện trong cơ thể sinh vật khi có sự mất cân bằng giữa việc  
sản xuất các gốc tự do và hoạt động của các chất kháng oxy hóa. Nhiều bệnh hiểm nghèo như  
ung thư, tiểu đường, các bệnh liên quan đến hệ thần kinh, tim mạch, viêm khớp, Alzheimer và  
nhiều bệnh khác đã được chứng minh có liên quan đến stress oxy hóa[1]. Các hợp chất chống oxy  
hóa như polyphenol và flavonoid có tác dụng làm sạch các gốc tự do như peroxide,  
hydroperoxide hoặc lipid peroxide và do đó ức chế các cơ chế oxy hóa dẫn đến các bệnh thoái  
hóa [2]. Bên cạnh đó, việc thâm canh hóa trong nuôi trồng thủy sản, nâng cao năng suất kết hợp  
với điều kiện biến đổi khí hậu tại vùng nuôi đã làm gia tăng tình hình dịch bệnh. Do vậy, việc tìm  
ra các giải pháp giúp tăng cường hệ miễn dịch tôm, cá giúp phòng bệnh là điều cần thiết [3]. Việc  
điều trị chủ yếu dựa vào các loại thuốc kháng sinh tổng hợp, đã làm cho hiện tượng quen thuốc,  
kháng thuốc do lạm dụng kháng sinh trong điều trị bệnh ngày càng tăng. Do đó, trong những năm  
gần đây việc tìm kiếm các hợp chất kháng oxi hóa, kháng khuẩn tự nhiên được ly trích từ thực  
vật được quan tâm và đẩy mạnh. Thực vật với nhiều ưu điểm như rẻ, dễ chuẩn bị, hiệu quả phòng  
bệnh cao do dễ hấp thu, ít tác dụng phụ trong quá trình điều trị bệnh và không ảnh hưởng đến  
môi trường cũng như không nguy hiểm đến đối tượng nuôi [4].  
Muồng trâu (Senna alata còn được gọi là Cassia alata) là một loại thảo mộc phân bố rộng rãi  
của họ Leguminosae. Phạm vi phân bố rộng, mọc những kênh mương, nơi có độ ẩm và ven rừng.  
Cây chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học như phenolic (rhein, chrysaphanol, kaempferol,  
aloeemodin và glycoside), anthraquinone (alatinone và alatonal) và terpenoids (sitosterol,  
stigmasterol và campesterol). Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới liên quan đến cây Muồng  
trâu đã chứng minh được những hoạt động dược lý quan trọng. Hoa, rễ, lá, hạt và vỏ cây thể hiện  
các hoạt tính sinh học như kháng khuẩn, kháng nấm, kháng viêm, đái tháo đường,…[5]. Dịch  
chiết từ lá và hoa của Muồng trâu được sử dụng để điều trị nhiễm giun đường ruột và rối loạn dạ  
dày [6].  
Mai dương (Mimosa pigra) mọc dày đặc ở vùng đất ẩm ướt. Thân và lá cây có nhiều gai cứng  
dẫn từ gốc đến ngọn, quả cây có nhiều lông ngứa. Cây Mai dương cũng có một số đặc tính sinh  
học nhất định, có tác dụng để an thần nhẹ và chữa sốt. Ở vùng nhiệt đới Châu Phi, cây này được  
dùng trị tiêu chảy, bệnh lậu và nhiễm độc máu [7]. Thành phần hóa học của cây gồm các hợp  
chất flavonoid, quinon, saponin, sterol và tannin. Một số flavonoid được phân lập thể hiện hoạt  
tính kháng oxy hóa và kháng viêm [8].  
Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã xác định hiệu quả của việc sử dụng chiết xuất từ thực vật  
giúp tôm, cá tăng trưởng tốt, tăng cường hệ miễn dịch và ức chế vi khuẩn gây bệnh [9]. Nhiều  
loài thực vật đã được xác định có hoạt tính sinh học cao cũng như có khả năng kháng khuẩn,  
kháng virus, kháng nấm, ký sinh trùng, kích thích tăng trưởng, kích thích tuyến sinh dục thành  
thục, chống stress, tăng cường miễn dịch [10]. Ở Việt Nam, thông tin khoa học về việc sử dụng  
chiết xuất thảo dược ức chế vi khuẩn, đặc biệt là vi khuẩn gây bệnh trên động vật thủy sản vẫn  
còn hạn chế.  
Tuy nhiên, việc sử dụng hai loài thực vật trên chỉ dựa vào kinh nghiệm dân gian và có ít tài  
liệu nghiên cứu về hoạt tính kháng oxy hóa, kháng khuẩn gây bệnh trên thủy sản của hai loài cây  
này. Do đó, nghiên cứu hoạt tính sinh học nhằm góp phần giải thích công dụng chữa bệnh của hai  
loài thực vật này, nhằm hạn chế việc sử dụng thuốc và hóa chất trong nuôi trồng thủy sản.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
2.1. Phương tiện vật liệu thí nghiệm  
Vật liệu: lá cây Muồng trâu (Senna alata) và Mai dương (Mimosa pigra) thu hái tại tỉnh Kiên  
Giang được định danh bởi ThS. Phùng Thị Hằng, Bộ môn Sinh, Khoa Sư phạm, Trường Đại học  
Cần Thơ theo hệ thống phân loại Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, 2003).  
167  
TNU Journal of Science and Technology  
226(07): 166 - 174  
Các chủng vi sinh vậtAeromonas hydrophila, Aeromonas dhakensis, Edwardsiella ictaluri,  
Streptococcus agalactiaeđượccung cấp từ Trung tâm quan trắc môi trường và bệnh thủy sản Nam  
bộ, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 2, thành phố Hồ Chí Minh. Vi khuẩn được phục hồi trên  
môi trường trypto-casein soy broth.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Điều chế cao chiết: Lá cây Muồng trâu, Mai dương (Xem Hình 1) sau khi thu về được rửa  
sạch, cắt nhỏ và phơi khô. Mẫu sau khi phơi khô đến khối lượng không đổi được cho vào trong  
túi vải và ngâm trong ethanol 99otrong 5 lần, mỗi lần ngâm 24 giờ. Dịch chiết từ các lần ngâm  
được gom lại, lọc qua giấy lọc và cô quay tách dung môi thu được cao chiết ethanol.  
A
B
Hình 1.Mẫu lá Muồng trâu (A) và Mai dương (B) sau khi phơi khô  
Định tính các hợp chất tự nhiên: Việc định tính các hợp chất tự nhiên của cao chiết thực hiện  
theo Jasuja và cộng sự (2013) [11] có hiệu chỉnh, được trình bày ở bảng 1.  
Bảng 1.Phương pháp định tính thành phần hóa học trong cao chiết  
Định tính  
Alkaloid  
Thuốc thử  
Wagner  
FeCl3 5%  
Nhận diện  
Kết tủa nâu cam đến đỏ  
Kết tủa xanh đen  
Kết tủa vàng đậm đến màu cam, đỏ.  
Dung dịch màu đỏ  
Dung dịch đổi màu xanh dương, lục, cam, đỏ.  
Dung dịch sẽ chuyển sang màu xanh lục hoặc tím  
Xuất hiện kết tủa  
Flavonoid  
H2SO4 đậm đặc  
Thuốc thử Shinoda  
LiebermannBurchard  
Rosenthaler  
Chì acetat bão hòa  
Chì acetate bão hòa  
Thuốc thử Stiasny  
Fehling  
Steroid và  
Triterpenoid  
Saponin  
Xuất hiện kết tủa  
Tanin  
Dung dịch xuất hiện màu đỏ  
Xuất hiện kết tủa đỏ gạch sau khi đun cách thủy  
Glycoside  
Định lượng polyphenol tổng: Hàm lượng polyphenol được xác định theo phương pháp  
Singleton và cộng sự (1999) [12]. Hỗn hợp phản ứng gồm 250 µL cao chiết trong 250 µL nước  
và 250 µL thuốc thử Folin-Ciocalteu (1:4), lắc đều. Sau đó, thêm vào 250 µL Na2CO3 10% rồi ủ  
30 phút ở 40oC. Độ hấp thu quang phổ của hỗn hợp phản ứng được đo ở bước sóng 765 nm.  
Gallic acid được sử dụng như chất đối chứng dương.  
Định lượng flavonoid tổng: Hàm lượng flavonoid toàn phần được xác định theo Bag và cộng  
sự (2015) [13]. Hỗn hợp phản ứng gồm 200 µL dung dịch cao chiết được pha trong ethanol (500  
µg/mL), 200 mL nước và 40 µL NaNO2 5% lắc đều rồi để yên 5 phút. Sau đó, hỗn hợp được tiếp  
tục thêm 40 µL AlCl3 10%, lắc đều. Hỗn hợp phản ứng sau khi ủ 6 phút được thêm 400 µL  
NaOH 1 M và nước cho đủ 1 mL. Dung dịch phản ứng được đo độ hấp thu quang phổ ở bước  
sóng 510 nm. Quercetin được sử dụng như chất đối chứng dương.  
Khảo sát hoạt tính trung hòa gốc tự do theo phương pháp DPPH: Khả năng kháng oxy hóa của  
các cao chiết ethanol được xác định theo miêu tả của Sharma và cộng sự (2009) [14]. Hỗn hợp  
phản ứng gồm 100 µL DPPH (6x10-4 M) và 100 µL cao chiết ethanol của mỗi loài cây Muồng  
trâu (ở nồng độ cao chiết 0; 25; 50; 100; 200; 400; 800 µg/mL) và Mai dương (ở nồng độ cao  
168  
TNU Journal of Science and Technology  
226(07): 166 - 174  
chiết 0; 25; 50; 75; 100; 125 µg/mL). Hỗn hợp phản ứng được ủ trong tối ở nhiệt độ phòng trong  
thời gian 60 phút và đo độ hấp thụ quang phổ của DPPH ở bước sóng 517 nm. Gallic acid được  
sử dụng như chất đối chứng dương.  
Khảo sát hiệu quả trung hòa gốc tự do ABTS+: Hoạt động loại bỏ gốc tự do được xác định  
bằng phương pháp khử màu ABTS+ mô tả bởi Nikolaos và cộng sự (2004) [15]. Dung dịch  
ABTS+ được chuẩn bị bằng cách cho 2 mL dung dịch ABTS+ 7 mM và 2 mL dung dịch K2S2O8  
2,45 mM. Ủ dung dịch trong bóng tối 16 giờ, sau đó pha loãng bằng ethanol (khoảng 50 lần),  
điều chỉnh độ hấp thu của dung dịch ở bước 734 nm có mật độ quang phổ là 0,7±0,05. Tiến hành  
khảo sát hoạt động trung hòa gốc tự do ABTS+ bằng cách cho 990 µL ABTS+ vào 10 µL cao  
chiết. Hỗn hợp phản ứng được ủ trong thời gian 6 phút. Sau đó, đo độ hấp thụ quang phổ ở bước  
sóng 734 nm. Gallic acid được sử dụng như chất đối chứng dương.  
Khảo sát năng lực khử sắt (RP: reducing power): Năng lực khử sắt của cao chiết ethanol được  
thực hiện theo phương pháp Padma và cộng sự (2013) [16]. Hỗn hợp phản ứng lần lượt gồm 0,5  
mL cao chiết, 0,5 mL dung dịch đệm phosphate (0,2 M, pH = 6,6) và 0,5 mL K3Fe(CN)6 1%. Sau  
khi hỗn hợp phản ứng được ủ ở 50ºC trong 20 phút, thêm 0,5 mL CCl3COOH 10% rồi ly tâm  
3000 vòng/phút trong 10 phút. Phần dịch sau khi ly tâm được lấy 0,5 mL lớp trên cho vào 0,5 mL  
nước và 0,1 mL FeCl3 0,1%, lắc đều. Độ hấp thu quang phổ của hỗn hợp phản ứng được đo ở  
bước sóng 700 nm. Gallic acid được sử dụng như chất đối chứng dương.  
Phương pháp Phosphomolybdenum (TAA): Thử nghiệm được tiến hành theo phương pháp  
của Prieto và cộng sự(1999) [17]. Cho 100 µL dịch cao chiết khảo sát phản ứng với 1000 µL  
dung dịch thuốc thử, đậy kín và được ủ ở 95oC trong 90 phút. Sau đó, dung dịch phản ứng được  
làm lạnh về nhiệt độ phòng. Độ hấp thu của dung dịch sau phản ứng được đo ở bước sóng 695  
nm. Gallic acid được sử dụng như chất đối chứng dương.  
Phương pháp xác định hoạt tính kháng khuẩn: Sử dụng phương pháp khuếch tán đĩa thạch với  
nồng độ cao chiết 10 mg/mL pha trong dung môi DMSO 10%. Dịch nuôi vi khuẩn được pha  
loãng trong nước muối sinh lý tương đương độ đục ≥0,5 Mc Farland (mật số vi khuẩn là  
107)được trải đều trên môi trường TSA. Đĩa thạch được để khô 15 phút trước khi đục lỗ giếng  
thạch có đường kính 6 mm. Cao chiết được pha trong DMSO 10% được bổ sung vào giếng thạch  
với thể tích 100 µl. Các kháng sinh tetracycline được sử dụng như đối chứng dương và được pha  
thành các nồng độ 1000 µg/mL. Các đĩa thạch được ủ ở 32ºC trong 24 - 48 giờ. Đường kính vùng  
ức chế được đo bằng thước đo đơn vị mm.  
3. Kết quả và thảo luận  
3.1. Kết quả định tính và định lượng các hợp chất tự nhiên  
Kết quả định tính sơ bộ thành phần hóa học có trong cao ethanol được chiết từ lá của cây  
Muồng trâu và Mai dương cho thấy sự hiện diện của các thành phần có hoạt tính sinh học khác  
nhau như: alkaloid, flavonoid, phenolic, saponin, steroids, tannin được trình bày ở trong bảng 2.  
Bảng 2.Thành phần hóa học có trong cao chiết ethanol từ lá của cây Muồng trâu và Mai dương  
Hợp chất  
Alkaloid  
Flavonoid  
Saponin  
Muồng trâu  
Mai dương  
+
+++  
+
+
+
+
Tanin  
+
++  
Steroids và  
Triterpenoid  
Glycosides  
+
+
+
-
Ghi chú: (+) Hiện diện; (-) Không hiện diện  
Kết quả bảng 2 cho thấy, các thành phần hóa học gồm flavonoid, alkaloid hiện diện ở hai cây  
Muồng trâu và Mai dương. Tuy nhiên, hợp chất glycoside chỉ hiện diện ở cây Muồng trâu mà  
169  
TNU Journal of Science and Technology  
226(07): 166 - 174  
không phát hiện ở Mai dương. Các hợp chất phenol và flavonoid được chứng minh là có liên  
quan đến hoạt động kháng oxy hóa trong hệ thống sinh học [18]. Như vậy, nghiên cứu chứng  
minh cao ethanol được chiết từ lá của hai loài cây trên cũng chứa nhiều hợp chất sinh học đầy  
tiềm năng ứng dụng.  
Hàm lượng polyphenol tổng (TPC) với chất chuẩn là gallic acid trong dãy nồng độ từ 2 đến 20  
µg/mL có phương trình hồi quy tuyến tính y = 0,0759x + 0,0346 (R² = 0,9956). Hàm lượng  
flavonoid toàn phần (TFC) từ chất chuẩn quercetin trong dãy nồng độ từ 20 đến 100 µg/mL với  
phương trình hồi quy tuyến tính y = 0,0067x - 0,0025 (R² = 0,997). Trên cơ sở các đường chuẩn  
này, kết quả hàm lượng polyphenol tổng và flavonoid toàn phần được xác định và trình bày ở  
bảng 3.  
Bảng 3.Hàm lượng phenol tổng và flavonoid toàn phần của cao chiết ethanol  
từ lá của cây Muồng trâu và Mai dương  
Phương pháp định lượng  
TPC (mg GAE/g)  
TFC (mg QE/g)  
Cao chiết Muồng trâu  
Cao chiết Mai dương  
203,57  
46,31  
306,08  
38,71  
Theo kết quả được trình bày trong bảng 3, hàm lượng polyphenol tổng và flavonoid của cao  
chiết ethanol cây Muồng trâu lần lượt là 203,57 mgGAE/g; 46,31 mgQE/g thấp hơn cao chiết  
methanol trong nghiên cứu của Nornasriq và cộng sự(2019) [19]với hàm lượng polyphenol và  
flavonoid là385,37 mgGAE/g; 447.42 mgQE/g. Hàm lượng polyphenol tổng và flavonoid của  
cao chiết ethanol cây Mai dương là 306,08 mgGAE/g; 38,71 mgQE/g cao hơn nghiên cứu  
củaRakotomalala và cộng sự (2013) [20] ở các nồng độ chiết xuất khác nhau lần lượt là 42,25 ±  
1,43 μg/mL; 33,36 ± 0,63 μg/mL.  
3.2. Hiệu quả kháng oxy hóa in vitro của cao chiết  
Hiệu quả trung hòa gốc tự do DPPH  
Kết quả cho thấy, hiệu suất loại bỏ gốc tự do DPPH của cao chiết Muồng trâu tỷ lệ thuận với  
nồng độ cao chiết, khi nồng độ cao chiết tăng từ 25 µg/mL đến 800 µg/ml thì hiệu suất loại bỏ  
gốc tự do cũng tăng dần từ 5,48 ± 1,23% đến 83,30 ± 1,23% (Bảng 4).  
Bảng 4.Hiệu quả trung hòa gốc tự do DPPH của cao chiết ethanol lá Muồng trâu  
Nồng độ cao chiết  
Khả năng trung hòa gốc tự do DPPH (%)  
0
25  
50  
100  
200  
400  
800  
0,00±0,00f  
5,48±1,18ef  
7,87±1,59e  
17,38±4,52d  
32,59±1,43c  
54,06±0,50b  
83,30±1,20a  
Kết quả thực nghiệm cho thấy, cao chiết cây Mai dương có khả năng trung hòa gốc tự do  
DPPH. Khi nồng độ cao chiết Mai dương tăng từ 25 µg/mL đến 125 µg/ml thì hiệu suất loại bỏ  
gốc tự do cũng tăng dần từ 12,08 ± 4,95% đến 86,61 ± 1,47% thể hiện ở bảng 5.  
Bảng 5.Hiệu quả trung hòa gốc tự do DPPH của cao chiết ethanol lá Mai dương  
Nồng độ cao chiết  
Khả năng trung hòa gốc tự do DPPH (%)  
0,00±0,00e  
0
25  
50  
75  
100  
125  
12,08±4,95d  
35,92±7,17c  
66,34±3,00b  
78,23±4,10a  
86,61±1,47a  
170  
TNU Journal of Science and Technology  
226(07): 166 - 174  
Từ kết quả bảng 4 và 5 cho thấy, hiệu suất loại bỏ gốc tự do DPPH của cao chiết ethanol lá  
cây Muồng trâu và Mai dương đều tăng tuyến tính với nồng độ cao chiết. Hiệu quả loại bỏ gốc tự  
do của hai cao chiết lá cây Muồng trâu, Mai dương được xác định thông qua giá trị IC50. Kết quả  
IC50 của hai loại cao chiết đều thấp hơn nhiều khi so với chất chuẩn là acid galic. Cụ thể, cao  
chiết ethanol lá Muồng trâu thấp hơn 109,3 lần (IC50= 357,19) và cao chiết lá Mai dương thấp  
hơn 18,5 lần (IC50= 67,12), với acid galic có IC50= 3,62. So với nghiên cứu cây khác loài, cao  
chiết Muồng trâu có khả năng hấp thu gốc tự do thấp hơn loài Senna italic với giá trị IC50 là 38,18  
µg/ml khi khảo sát cùng phương pháp DPPH [21].  
Hiệu quả trung hòa gốc tự do ABTS+  
Khả năng kháng oxy hóa của hai cao chiết Muồng trâu và Mai dương được khảo sát dựa trên  
hàm lượng chất kháng oxy hóa có trong từng loại cao chiết của cây được tính tương đương  
µg/mL acid gallic. Phần trăm ức chế gốc tự do của acid gallic tăng từ 17,73% ở nồng độ 1 µg/mL  
đến 94,48% ở nồng độ 3,5 µg/mL. Để xác định khả năng trung hòa gốc tự do ABTS+, cao chiết  
ethanol lá Muồng trâu được pha loãng thành dãy nồng độ từ 10-70 µg/mL và Mai dương được  
pha loãng thành dãy nồng độ từ 15-90 µg/mL. Phần trăm ức chế gốc tự do của cao chiết Muồng  
trâu tăng từ 13,084±1,349% ở nồng độ 10 µg/mL đến 80,149±0,372% ở nồng độ 70 µg/mL.  
Tương tự, phần trăm ức chế gốc tự do của cao chiết Mai dương tăng từ 27,040±4,250% ở nồng  
độ 15 µg/mL đến 96,032±0,544% ở nồng độ 90 µg/mL. Khả năng kháng oxy hóa cũng như hiệu  
quả trung hòa gốc tự do của cao chiết từ lá cây Muồng trâu và Mai dương được so sánh dựa vào  
giá trị IC50. Giá trị IC50của hai cao được tính dựa vào phương trình hồi quy tuyến tính trình bày  
trong bảng 6.  
Bảng 6.Phương trình hồi quy tuyến tính hiệu suất trung hòa gốc tự do và IC50  
Mẫu  
Acid gallic  
Cao Muồng trâu  
Cao Mai dương  
Phương trình hồi quy tuyến tính  
y = 28,149x-3,1255 (R² = 0,9897)  
y = 1,1556x + 3,3229 (R² = 0,9901)  
y = 1,0818x + 7,606 (R² = 0,9691)  
IC50 (µg/mL)  
1,88±0,0062b  
40,39±0,388a  
39,22±1,186a  
Kết quả bảng 6 cho thấy khả năng trung hòa gốc tự do ABTS+ của hai loại cao chiết đều thấp  
hơn chất chuẩn acid gallic. Cao chiết Muồng trâu (IC50=40,39 µg/mL) và cao chiết Mai dương  
(IC50= 39,22µg/mL) có khả năng trung hòa gốc tự do ATBS+ không khác biệt ý nghĩa thống kê  
mức 5%. Nhưng thấp hơn lần lượt là 21,49 lần và 20,86 lần khi so sánh với acid gallic (IC50=  
1,88µg/mL).Tuy nhiên, cao chiết Muồng trâu (Senna alata) có khả năng trung hòa gốc tự do cao  
hơn Senna italic với giá trị IC50 là 43,18 µg/mL [21].  
Hiệu quả trung hòa năng lực khử sắt  
Hiệu quả kháng oxy hóa của cây Muồng trâu và Mai dương dựa trên khả năng khử sắt được  
tính tương đương với nồng độ acid gallic (µg/mL). Kết quả được trình bày trong bảng 7 và 8.  
Bảng 7.Hiệu quả khử sắt của cao chiết ethanol Muồng trâu  
Nồng độ cao chiết  
Khả năng khử sắt (%)  
Hàm lượng acid gallic tương  
đương (µg/mL)  
0
30  
90  
120  
240  
400  
0 ± 0,00f  
0,00f  
29,89 ± 2,46e  
57,68 ± 1,60d  
65,17 ± 0,78c  
78,69 ± 0,61b  
84,34 ± 0,56a  
3,1e  
5,15d  
6,24c  
10,17b  
13,83a  
Ghi chú: Các chữ cái giống nhau trên cùng một cột biểu diễn sự khác biệt không ý nghĩa 5% bằng phép  
thử Tukey  
Kết quả cho thấy, khi tăng dần nồng độ cao chiết Muồng trâu từ 30 - 400 µg/mL thì hàm lượng  
chất kháng oxy hóa tăng dần tương ứng từ 3,1 - 13,83 µg/mL (Bảng 7). Kết quả này cho thấy  
171  
TNU Journal of Science and Technology  
226(07): 166 - 174  
rằng,hiệu quả kháng oxy hóa của cao chiết Muồng trâu (IC50= 331,03 ±14,32µg/mL) thấp hơn khả  
năng kháng oxy hóa của chất chuẩn là gallic acid (IC50= 10,31±0,0716 µg/mL) 32,10 lần.  
Tương tự, khi tăng nồng độ cao chiết Mai dương từ 5 - 30 µg/mL thì hàm lượng chất kháng  
oxy hóa tăng dần tương ứng từ 1,06- 10,7 µg/mL (Bảng 8).  
Bảng 8.Hiệu quả khử sắt của cao chiết ethanol Mai dương  
Nồng độ cao chiết  
Khả năng khử sắt (%)  
Hàm lượng acid gallic tương  
đương (µg/mL)  
0
5
0 ± 0,00h  
0,00h  
24,25 ± 1,00f  
51,23 ± 1,12e  
65,14 ± 0,92d  
74,67 ± 0,50c  
79,35 ± 0,42b  
84,46 ± 0,34a  
1,06f  
10  
15  
20  
35  
30  
2,44e  
3,98d  
6,01c  
7,69b  
10,7a  
Kết quả cho thấy khả năng khử ion Fe3+ thành Fe2+ của cao chiết Mai dương (IC50= 32,16±0,24  
µg/mL) thấp hơn khi 3,1 lần khi so sánh với acid gallic (IC50= 10,31 ± 0,0716 µg/mL). Điều này  
cho thấy khả năng kháng oxy hóa ở phương pháp khử sắt của cao chiết lá Mai dương tương đối cao.  
Hiệu quả trung hòa năng lực khử Phosphomolybdenum  
Xác định khả năng khử phức Mo của cao chiết ethanol Muồng trâu và Mai dương bằng cách  
pha loãng cao chiết thành dãy nồng độ tương ứng. Đối với cao chiết lá Muồng trâu là từ 23 - 182  
µg/mL và cao chiết lá Mai dương là từ 14 – 68 µg/mL. Khả năng kháng oxy hóa của cao chiết  
ethanol từ lá cây Mai dương và Muồng trâu được so sánh dựa vào giá trị IC50. Giá trị IC50 của hai  
cao chiết được tính dựa vào phương trình hồi quy tuyến tính của từng cao được trình bày trong  
bảng 9.  
Bảng 9.Phương trình hồi quy tuyến tính giá trị hấp thu và IC50  
Mẫu  
Acid gallic  
Cao Muồng trâu  
Phương trình hồi quy tuyến tính  
y = 0,015x + 0,1206 (R² = 0,9863)  
y = 0,0039x + 0,0336 (R2 = 0,9928)  
y = 0,0077x - 0,003 (R² = 0,9964)  
IC50  
24,91±0,463c  
119,59±1,1a  
Cao Mai dương  
65,32±1,128b  
Từ kết quả cho thấy khả năng khử phức Mo của cao chiết Muồng trâu và Mai dương có giá trị  
IC50 đều thấp hơn khi so sánh với IC50 của chất chuẩn acid gallic. Cụ thể cao chiết Muồng trâu  
thấp hơn 4,8 lần và cao chiết Mai dương thấp hơn 2,62 lần so với acid gallic.  
3.3. Kết quả hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết  
Khả năng kháng khuẩn của hai loại cao chiết được xác định dựa trên khả năng ức chế sự phát  
triển của vi khuẩn thể hiện qua đường kính vòng kháng khuẩn được tạo ra trên đĩa petri được  
trình bày ở bảng 10.  
Bảng 10.Khả năng kháng khuẩn của cao chiết Muồng trâu và Mai dương  
Chủng vi khuẩn  
Aeromonas hydrophila  
Edwardsiella ictaluri  
Streptococcus agalactiae  
Aeromonas dhakensis  
Cao chiết Muồng trâu  
Cao chiết Mai dương  
-
-
-
-
+
+
+
+
Ghi chú: (-): không có hoạt tính kháng khuẩn; (+) có hoạt tính kháng khuẩn  
Kết quả cho thấy, cao chiết Muồng trâu không kháng khuẩn đối với 4 loài vi  
khuẩn:A.dhakensis, A.hydrophila,E.ictaluri, S.agalactiae. Nhưng ngược lại cao chiết Mai dương  
có khả năng kháng khuẩn tốt đối với 4 loài vi khuẩn, đường kính kháng khuẩn lần lượt là  
172  
TNU Journal of Science and Technology  
226(07): 166 - 174  
2,6667±0,1528b mm; 3,9670±0,2080a mm 4,3000±0,3610a mm; 3,1330±0,2080bmm (Hình 2).Sự  
xuất hiện vòng kháng khuẩn xung quanh khoanh giếng thạch có thể do các chất có hoạt tính  
kháng khuẩn trong cao chiết khuếch tán từ giếng thạch sang mặt thạch xung quanh và ức chế sự  
phát triển của vi khuẩn.  
1.a  
2.a  
1.c  
1.b  
2b  
3b  
1.d  
2c  
2d  
3.a  
3d  
3c  
Hình 2. Khả năng kháng khuẩn của cao chiết Mai dương (1), Muồng trâu (2) và tetracycline (3) với các  
dòng vi khuẩn  
a: Aeromonas dhakensis; b: Aeromonas hydrophila;c: Edwardsiella ictaluri; d: Streptococcus agalactiae  
4. Kết luận  
Nghiên cứu cho thấy, cao chiết ethanol từ lá cây Muồng trâu và Mai dương có chứa các hợp  
chất hóa học có dược tính tốt. Kết quả khảo sát in vitro (sử dụng bốn phương pháp DPPH, ABTS,  
RP và TAA) chứng minh cao chiết cây Mai dương có hoạt tính kháng oxy hóa tốt hơn Muồng  
trâu. Như vậy, cây Muồng trâu và Mai dương có nhiều tiềm năng cho các nghiên cứu về các dược  
chất có tác dụng kháng oxy hóa trên người và động vật thủy sản. Đồng thời, cao chiết Mai dương  
có thể sử dụng như một chất có khả năng diệt khuẩn và có tiềm năng là nguồn thực phẩm giúp  
tôm, cá tăng cường khả năng kháng vi khuẩn gây bệnh.  
5. Lời cảm ơn  
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn Ths. Nguyễn Thị Hiền, Trung tâm quan trắc môi trường  
và bệnh thủy sản Nam bộ, Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản 2, TP.HCM đã cung cấp các  
chủng vi khuẩn cho nghiên cứu này.  
173  
TNU Journal of Science and Technology  
226(07): 166 - 174  
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES  
[1] S. Karbach, P. Wenzel, A. Waisman, T. Munzel, and A. Daiber, “eNOS uncoupling in cardiovascular  
diseases-the role of oxidative stress and inflammation,” Curr. Pharm. Des, vol. 20, pp. 3579-3594, 2014.  
[2] Y. Y.Wu, W. Li, Y. Xu, E. H. Jin, and Y. Y. Tu, “Evaluation of the antioxidant effects of four main  
theaflavin derivatives through chemiluminescence and DNA damage analyses,” Journal of Zhejiang  
University Science B.,vol. 12, no. 9, pp. 744-751, 2011.  
[3] K. Pholdaeng and S. Pongsamart, “Studies on the immunomodulatory effect of polysaccharide gel  
extracted from Durio zibethinus in Penaeus monodon shrimp against Vibrio harveyi and WSSV,” Fish  
Shellfish Immunol, vol. 28, pp. 555-561, 2010.  
[4] V. H. Ngo, “The use of medicinal plants as immunostimulants in aquaculture,” Aquaculture, vol. 446,  
pp. 88-96, 2015.  
[5] O. S. Oladeji, F. E. Adelowo, A. P. Oluyori, and D. T. Bankole, “Ethnobotanical Description and  
Biological Activities of Senna alata,” Evid Based Complement Alternat Med., vol. 2020, 2020, Art. no.  
2580259, doi:10.1155/2020/2580259.  
[6] J. Anbu, M. Anita, and R. Sathiya, “In Vitro Anthelmintic activity of leaf ethanolic extract of Cassia  
alata and Typha angustifolia,” MSRUAS-SASTech Journal, vol. 14, no. 2, pp. 41-44, 2013.  
[7] W. M. Chen, E. K. James, J. H. Chou, S. Y. Sheu, S. Z. Yang, and J. I. Sprent, “β‐Rhizobia from Mimosa  
pigra, a newly discovered invasive plant in Taiwan,” New phytologist, vol. 168, no. 3, pp. 661-675, 2005.  
[8] G. Rakotomalala et al. "Extract from Mimosa pigra attenuates chronic experimental pulmonary  
hypertension," Journal of Ethnopharmacology, vol. 148, no.1, pp. 106-116, 2013.  
[9] A. Syahidah, C. R. Saad, H. M. Daud, and Y. M. Abdelhadi, “Status and potential of herbal  
applications in aquaculture,” Iranian Journal of Fisheries Sciences, vol. 14, no. 1, pp. 27-44, 2015.  
[10] T. Citarasu, “Herbal biomedicines: a new opportunity for aquaculture industry,” Aquaculture  
International,vol. 18, no. 3, pp. 403-414, 2010.  
[11] R. N. S. Yadav and M. Agarwala, “Phytochemical analysis of some medicinal plants,” J. Phytol., vol.  
3, no. 12, pp. 10-14, 2011.  
[12] V. L. Singleton, R. Orthofer, and R. M. Lamuela-Raventos, “Analysis of total phenol and other  
oxidation substrates and antioxidants by means of Folin-Ciocalteu reagent,” Methods in  
Enzymology,vol. 299C, no. 1, pp. 152-178, 1999.  
[13] G. C. Bag, P. G. Devi, and T. Bhaigyabati, “Assessment of total flavonoid content and antioxidant  
activity of methanolic rhizome extract of three Hedychium species of Manipur valley,” International  
Journal of Pharmaceutical Sciences Review and Research, vol. 30, no. 1, pp. 154-159, 2015.  
[14] O. P. Sharma and T. K. Bhat, “DPPH antioxidant assay revisited,” Food chemistry, vol. 113, no. 4, pp.  
1202-1205, 2009.  
[15] N. Nikolaos, L. F. Wang, M. Tsimidou, and H. Y. Zhang, “Estimation of scavenging sctivity of  
phenolic compounds using the ABTS•+ assay,” Journal of Agricultural and Food Chemistry, vol. 52,  
no. 15, pp. 4669-4674, 2004.  
[16] R. Padma, N. G. Parvathy, V. Renjith, and P. R. Kalpana, “Quantitative estimation of tannins, phenols  
and antioxidant activity of methanolic extract of Imperata cylindrical,” International Journal of  
Research in Pharmaceutical Sciences, vol. 4, no. 1, pp. 73-77, 2013.  
[17] P. Prieto, M. Pineda, and M. Aguilar, “Spcctrophotometric quantification of antioxidant capacity  
through the formation of a phosphomolybdenum complex: Specific application to the determination of  
vitamin E,” Anal Biochem, vol. 269, pp. 337-341, 1999.  
[18] H. C. Chang, G. J. Huang, D. C. Agrawal, C. L. Kuo, C. R. Wu, and H. S. Tsay, “Antioxidant  
activities and polyphenol contents of six folk medicinal ferns used as “Gusuibu,” Botanical  
Studies,vol. 48, pp. 397-406, 2007.  
[19] N. A. Nordin, N. B. M. Zin, N. F. Fazilah, H. Wasoh, A. B. Ariff, and M. Halim., “Phytochemicals,  
antioxidant and antimicrobial properties of Senna alata and Senna tora leaf extracts against bacterial  
strains causing skin infections,”Scicell, vol. 2, no. 1, pp. 19-25, 2019.  
[20] G. Rakotomalala, C. Agard, P. Tonnerre, A. Tesse, S. Derbré, S. Michalet, and P. Pacaud, “Extract  
from Mimosa pigra attenuates chronic experimental pulmonary hypertension,” Journal of  
Ethnopharmacology, vol. 148, no. 1, pp. 106-116, 2013.  
[21] Jothi, R. Shunmuga, V. Bharathy, and F. Uthayakumari, "Antioxidant potential of aerial part of Senna  
italica Sub Species micrantha Mill," Journal of Pharmaceutical Sciences and Research, vol. 7, no.  
9,2015, Art. no. 621.  
174  
pdf 9 trang yennguyen 17220 Free
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát khả năng kháng oxy hóa và kháng khuẩn của cây Muồng trâu và Mai dương tại Kiên Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_kha_nang_khang_oxy_hoa_va_khang_khuan_cua_cay_muong.pdf