Nghiên cứu tạo ván dăm từ gỗ cao su và vỏ hạt Jatropha

C«ng nghiÖp rõng  
NGHIÊN CỨU TẠO VÁN DĂM TỪ GỖ CAO SU  
VÀ VỎ HẠT JATROPHA  
Trần Văn Chứ1  
TÓM TẮT  
Trong bài viết này, đề cập đến nghiên cứu tạo ván dăm hỗn hợp từ gỗ cao su với vỏ hạt Jatropha theo công nghệ  
ván dăm gỗ thông dụng. Nguyên liệu vỏ hạt Jatropha được lấy mẫu từ Đắk Lắk và gỗ Cao su được lấy mẫu tại huyện  
Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai là nguồn nguyên liệu được lựa chọn để tạo hỗn hợp dăm. Ván thực nghiệm là ván dăm 3  
lớp với tỷ lệ pha trộn giữa dăm gỗ Cao su và vỏ hạt Jatropha theo khối lượng lần lượt là 75:25, 60:40, 50:50, 40:60.  
Các thông số chế độ ép: Áp suất ép: 2.2 MPa, nhiệt độ ép: 1600C, thời gian ép: 0.6 phút/mm chiều dày. Keo dán được  
sử dụng là keo Urea - Formaldehyde thương mại, với tỷ lệ keo lớp lõi 10% và lớp mặt 13%. Kết quả thực nghiệm và  
thảo luận đã chỉ ra rằng: Gỗ Cao su, vỏ hạt Jatropha đáp ứng tốt yêu cầu của nguyên liệu dùng trong công nghệ sản  
xuất ván dăm. Khi sử dụng hỗn hợp 2 loại nguyên liệu trên, chất lượng ván dăm đáp ứng tốt yêu cầu, chất lượng ngoại  
quan của ván đẹp. Ván dăm hỗn hợp từ gỗ Cao su và vỏ hạt Jatropha theo công nghệ trên hoàn toàn đảm bảo được  
những yêu cầu về chất lượng cho ván dăm dùng trong độ mộc dân dụng. Các thông số kỹ thuật của ván hỗn hợp có thể  
đạt: cường độ uốn tĩnh (MOR): 152.44 KG/cm2, cường độ kéo vuông góc (IB), 4.26KG/cm2, tỷ lệ trương nở chiều dày  
(TS): 8.29%.  
Từ khóa: Cường độ uốn tĩnh (MOR), Cường độ kéo vuông góc (IB), Gỗ cao su, Jatropha, Tỷ lệ trương nở  
chiều dài , Ván dăm hỗn hợp.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Trên thế giới, cây jatropha trồng hàng trăm  
ngàn ha, tập trung ở khu vực châu Á, châu Phi.  
Có gần 300 giống cây jatropha được thu thập  
từ 24 quốc gia trồng tại Philippine. Đã có nhà  
máy chế biến dầu diezel sinh học cung cấp ra  
thị trường. Ở Việt Nam, một số trường đại học  
và viện nghiên cứu như: Đại học Tôn Đức  
Thắng, Đại học Thành Tây, Viện Sinh học  
nhiệt đới, Viện Nghiên cứu cây có dầu đã có  
các nghiên cứu về cây jatropha. Một số tỉnh đã  
trồng cây jatropha: Kon Tum, Gia Lai, Quảng  
Trị,… Năm 2008, Bộ Nông nghiệp và Phát  
triển nông thôn có dự án phấn đấu trồng 30  
ngàn ha cây này đến năm 2015; đến năm 2025  
là 500 ngàn ha.  
Hiện nay, khi nguồn gỗ rừng tự nhiên ngày  
càng cạn kiệt, trong khi đó nhu cầu về sử dụng  
gỗ và sản phẩm từ gỗ của con người ngày càng  
gia tăng về số lượng và chất lượng. Do đó,  
chúng ta bắt buộc phải chuyển hướng sử dụng  
từ gỗ rừng tự nhiên sang gỗ mọc nhanh rừng  
trồng hoặc ván nhân tạo.  
Ở nước ta, những năm gần đây công nghệ  
chế biến gỗ phát triển mạnh và đã góp phần to  
lớn vào thu nhập quốc dân (đặc biệt công nghệ  
sản xuất đồ mộc xuất khẩu). Nguồn nguyên  
liệu gỗ mọc nhanh rừng trồng cũng chủ yếu  
dùng cho đồ mộc xuất khẩu. Do đó, nguyên  
liệu gỗ mọc nhanh rừng trồng dùng cho ván  
dăm, ván sợi, ván dán cũng dần khan hiếm.  
Cây Cao su ở nước ta được trồng nhiều ở  
Tây Nguyên, Đông Nam bộ,.. Thân gỗ Cao su  
sau chặt hạ được dùng nhiều vào sản xuất đồ  
mộc xuất khẩu. Các phần cành ngọn, đầu mẩu  
chủ yếu làm chất đốt. Trong những năm gần  
đây, gỗ Cao su cũng đã được nghiên cứu làm  
ván ghép thanh, ván dăm, ván dán, ván sợi.  
Vì vậy, một trong những hướng cần được  
quan tâm nghiên cứu là sử dụng các phế liệu  
nông nghiệp (rơm, rạ, thân cây đay, bã mía,..),  
bèo tây, vỏ điều,… làm ván dăm hoặc hỗn hợp  
với gỗ làm ván dăm. Nếu công nghệ ván hỗn  
hợp này được đưa vào sản xuất sẽ có ý nghĩa  
rất lớn lao trong hạ giá thành sản phẩm, đa  
dạng hóa các loại hình sản phẩm.  
Việc kết hợp giữa vỏ hạt Jatropha và dăm  
gỗ để sản xuất ván dăm sẽ mở ra một hướng  
1PGS. TS. Trường Đại học Lâm nghiệp  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2012  
88  
C«ng nghiÖp rõng  
mới khả quan hơn trong ngành công nghệ chế  
biến gỗ, giúp đa dạng hóa các loại hình sản  
phẩm trên thị trường, giải quyết bài toán về  
thiếu hụt nguồn nguyên liệu trong ngành gỗ  
hiện nay.  
Đặc điểm nhận biết: cây gỗ nhỏ, vỏ màu  
xám tro. Vết vỏ đẽo chảy nhiều nhựa trắng,  
nhựa đàn hồi cao. Lá kép 3 lá chét, mọc cách,  
lá kèm sớm rụng lá, lá chét hình trái xoan hoặc  
trứng ngược, đầu có mũi lồi ngắn, đuôi nêm,  
dài 10 – 17cm, rộng 6 – 8 cm. Cuống lá dài 5 –  
11 cm, đỉnh thường có 3 tuyến tròn. Hoa lưỡng  
tính cùng gốc, hoa tự hình xim viên chùy ở  
nách lá, phủ lông mềm màu xám trắng. Hoa  
đực không có tràng, nhị 10, chỉ nhị hợp thành  
một cột, bao phấn xếp thành hai hàng. Hoa cái:  
bầu trên 3 ô, có 3 múi rõ. Quả nang hình cầu  
có múi tròn, đường kính 6cm. Hạt hình trái  
xoan, khi chín màu nâu nhiều đốm trắng.  
Tuy nhiên, khi nghiên cứu sử dụng nguyên  
liệu mới vào sản xuất ván dăm, chúng ta không  
thể chỉ căn cứ vào một số tính chất cơ bản để  
nóng vội áp dụng ngay vào sản xuất mà cần  
phải có các nguyên cứu triệt để từ đặc điểm  
nguyên liệu, công nghệ và các điều kiện đưa  
vào sản xuất. Có như vậy, mới đảm bảo, đáp  
ứng yêu cầu của công nghệ hiện đại và phù  
hợp với điều kiện sản xuất.  
Cây Cao su phát triển tốt ở vùng nhiệt đới  
ẩm, có nhiệt độ trung bình từ 220C đến 300C  
(tốt nhất ở 260C đến 280C), cần mưa nhiều (tốt  
nhất là 2.000 mm) nhưng không chịu được sự  
úng nước và gió. Cây Cao su có thể chịu được  
nắng hạn khoảng 4 đến 5 tháng, tuy nhiên năng  
suất mủ sẽ giảm. Cây chỉ sinh trưởng bằng hạt,  
hạt đem ươm được cây non. Khi trồng cây  
được 5 tuổi có thể khai thác mủ, và sẽ kéo dài  
trong vài ba chục năm.  
Do đó, hướng nghiên cứu sử dụng hỗn hợp  
giữa dăm gỗ Cao su và vỏ hạt Jatropha là một  
hướng có ý nghĩa và cần thiết cho nghiên cứu.  
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP  
1.1. Nguyên liệu dùng trong thí nghiệm  
1.1.1. Nguyên liệu gỗ  
- Gỗ Cao su: Gỗ dùng trong thí nghiệm là  
gỗ Cao Su (tên khoa học là Heveabrasiliensis  
Muell – Arg), 14 tuổi khai thác tại Huyện  
Trảng Bom, Tỉnh Đồng Nai [6].  
Thân cây Cao su có 2 phần chính là phần gỗ  
và phần vỏ. Thân thẳng có đường kính từ 25 –  
60cm, cao khoảng 15– 20m, là phần chính  
cung cấp nhựa và gỗ. Vỏ cây Cao su gồm 3  
lớp, lớp da sần là tập hợp các tế bào chết bảo  
vệ lớp trong, lớp vỏ cứng là lớp da cát có chứa  
một số mạch nhựa, trong cùng là lớp vỏ mềm  
hay lớp da lụa chứa nhiều mạch nhựa. Về cấu  
tạo, gỗ Cao su có gỗ giác - gỗ lõi khó phân  
biệt, vòng năm phân biệt rõ nhất là ở phần gốc,  
thớ thẳng. Gỗ Cao su có lỗ mạch khá lớn, phân  
bố dạng phân tán, tia gỗ có cấu tạo dị bào xếp  
từ 2 – 3 hàng tế bào, sợi gỗ thẳng.  
Cây Cao su thuộc họ Thầu dầu  
Euphorbiaceae Juss. Cây Cao su phân bố chủ  
yếu ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ và Tây  
Nguyên. Gỗ Cao su trước những năm 1990  
được sử dụng làm chất đốt là chủ yếu, sau khi  
Chính phủ hạn chế và tiến hành cấm khai thác  
rừng tự nhiên thì các loại gỗ rừng trồng như gỗ  
Cao su ngày càng thể hiện vai trò quan trọng  
trong ngành chế biến lâm sản.  
Gỗ từ cây Cao su, gọi là gỗ Cao su, được sử  
dụng trong sản xuất đồ gỗ. Gỗ Cao su được  
đánh giá cao vì có thớ gỗ dày, ít co rút, màu  
sắc hấp dẫn và có thể chấp nhận các kiểu hoàn  
thiện khác nhau. Nó cũng được đánh giá như là  
loại gỗ "thân thiện môi trường", do người ta  
chỉ khai thác gỗ sau khi cây cao su đã kết thúc  
chu trình sản sinh nhựa mủ.  
Các chỉ tiêu tính chất của gỗ Cao su 14 tuổi  
tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai qua kiểm  
tra theo tiêu chuẩn TCVN 7756-4: 2007 như sau:  
Khối lượng thể tích gỗ tươi: 0.937g/cm3;  
khối lượng thể tích gỗ khô kiệt: 0.633g/cm3;  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2012  
89  
C«ng nghiÖp rõng  
khối lượng thể tích thăng bằng: 0.693g/cm3;  
khối lượng thể tích cơ bản: 0.550g/cm3; điểm  
bão hòa thớ gỗ: 29.5%; độ co rút dọc thớ:  
0.33%; độ co rút xuyên tâm: 2.43%; độ co rút  
tiếp tuyến: 4.05%; ứng suất nén ngang thớ:  
7.12KG/cm2; ứng suất nén dọc thớ: 83.16  
KG/cm2; ứng suất uốn xuyên tâm:  
451.43KG/cm2; ứng suất uốn tiếp tuyến:  
751.36KG/cm2; lực tách: 48.51KG/cm2;  
Cellulose: 44 – 46%; Pentosan: 18 – 20%;  
Lignin: 22 - 24%.  
tiềm lực giá trị cực kỳ to lớn, được đánh giá rất  
cao, thậm chí đã có những lời ca ngợi có phần  
quá đáng. Nhưng dù sao, Jatropha vẫn là một  
loại cây hết sức quý giá mà loài người phải  
quan tâm khai thác tốt những giá trị sinh học  
của cây này.  
Cây cọc rào thuộc họ thầu dầu  
(Euphorbiaceae). Đây là một loài cây nhỏ hay  
còn gọi là cây nhỡ, có chiều cao từ 2m - 5 m.  
Cành mọc hơi tỏa ra, bấm có nhiều nhựa mủ.  
Lá mọc so le, gốc hình tim, dài 10 -13 cm,  
rộng 8 -11 cm, 5 – 7 gân chính, lá hình chân  
vịt, cuống lá dài 7 – 12 cm, phình lên ở gốc.  
Hoa đực có đài 5 phiến, tràng có 5 cánh, 10 nhị  
(5 cái rời và 5 cái dính nhau ở phần giữa). Hoa  
cái có đài và tràng giống nhau, không có nhị  
hoặc có 5 nhị lép, bầu hình trứng thắt lại ở đầu.  
Quả nang, đen, hình trứng, dài và rộng 2 – 2,5  
cm, mỗi quả có 3 hoặc 4 hạt. Mỗi chùm hoa có  
khả năng đậu hơn 10 quả. Khi hạt đã già, quả  
nang chuyển từ màu xanh sang màu vàng sau 2  
- 4 tháng kể từ khi thụ phấn. Mùa hoa quả:  
tháng 5 – tháng 10. Cây ưa sáng, chịu hạn tốt,  
thường được trồng dày làm bờ rào, ra hoa quả  
nhiều, tái sinh tốt từ gốc bị chặt, cũng được  
trồng bằng cách cắm cành.  
Căn cứ vào các yêu cầu của nguyên liệu  
dùng trong công nghệ sản xuất ván dăm cho  
thấy: gỗ Cao su hoàn toàn có thể đáp ứng được  
yêu cầu làm nguyên liệu cho sản xuất ván dăm.  
- Jatropha:  
Quả Jatropha được thu hoạch tại tỉnh Đắk  
lắk bằng phương pháp hái trực tiếp trên cây.  
Cây Jatropha curcas L. thuộc chi Jatropha, họ  
Thầu dầu (Euphorbiaceae).  
Chi Jatropha thuộc tông Joannesieae của  
phân họ Crotonoideae thuộc họ Euphorbiaceae.  
Jatropha là một loài cây có lịch sử 70 triệu  
năm, nguồn gốc từ Mexico (nơi duy nhất có  
hóa thạch của cây này) và Trung Mỹ, được  
người Bồ Đào Nha đưa qua Cape Verde, rồi  
lan truyền sang Châu Phi, Châu Á, sau đó được  
trồng ở nhiều nước, trở thành cây bản địa ở  
khắp các nước nhiệt đới, cận nhiệt đới trên  
toàn thế giới.  
Thành phần hóa học của hạt: 18,2% protein,  
38% dầu béo, 17,08% carbohydrat, tinh bột,  
acid hữu cơ, hai chất độc và một chất nhựa.  
Dầu béo chứa acid myristic, acid palmitic, acid  
stearic, acid arachidic, acid oleic (37-63%),  
acid linoleic (19-40%), chất độc trong dầu béo  
là diterpen và 12-desoxy-16-hydroxyphorbol.  
Hàm lượng dầu trong hạt là 20 – 40% và trong  
nhân là 46-58%. Lá tươi có vitexin, isovitexin.  
Thân, cành, lá chứa triacontanol, 7-ceto-beta-  
sitosterol. Vỏ cây chứa tanin (37%), sáp,  
đường khử, saponin, một ít tinh dầu. Nhựa mủ  
có curcain và 2 peptid mạch vòng là  
curcacyclin A và curcacyclin B.  
Hiện nay nhiều nước trên thế giới đang chạy  
đua phát triển cây này, nhất là các nước Ấn  
Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Malaixia,  
Indonexia, Philippin, Mianma và nhiều nước  
Châu Phi, nhằm phục vụ nhu cầu năng lượng  
tại chỗ và xuất khẩu.  
Jatropha vốn dĩ là một cây dại, bán hoang  
dại mà người dân các nước trồng chỉ để làm bờ  
rào và làm thuốc, nhưng với những phát hiện  
mới của khoa học, đã cho thấy Jatropha có  
Căn cứ vào các yêu cầu của nguyên liệu  
dùng trong công nghệ sản xuất ván dăm cho  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2012  
90  
C«ng nghiÖp rõng  
thấy: vỏ Jatropha hoàn toàn có thể đáp ứng  
được yêu cầu làm nguyên liệu cho sản xuất  
ván dăm.  
kỹ thuật của dung dịch paraffin: khối lượng  
riêng 0.835-0.855g/cm3, nồng độ 60-65%,  
nhiệt độ nóng chảy 600C, nhiệt độ phân giải  
1700C, nhiệt độ bốc cháy 3600C [4]. Khi  
nghiên cứu, lượng paraffin dùng trong ván dăm  
là 1%[2], [12].  
1.1.2. Keo dán  
Keo sử dụng cho sản xuất ván dăm là keo  
Urea-Formaldehyde (U-F) của hãng Giai Hân,  
Đài Loan. Keo của hãng Giai Hân là một trong  
những loại keo đang được sử dụng nhiều ở các  
nước Đông Nam Á như: Malaixia, Inđonêxia,  
Thái Lan… Ở nước ta, keo của hãng Giai Hân  
đã và đang được sử dụng nhiều trong các xí  
nghiệp sản xuất ván dán, ván dăm.  
1.2. Phương pháp thí nghiệm  
1.2.1. Các chỉ tiêu của ván thí nghiệm  
Dựa vào đặc điểm của nguyên liệu và các  
chỉ tiêu của ván dăm cấp II dùng cho sản xuất  
hàng mộc, chúng tôi lựa chọn loại ván dăm  
như sau:  
Các chỉ tiêu kỹ thuật của keo dán U-F qua  
kiểm tra như sau: Keo dạng lỏng; màu trắng  
đục; hàm lượng khô 47%; tỷ trọng 1.25-  
1.27g/ml; độ nhớt kiểm tra bằng máy đo dộ  
nhớt (Rion Viscoteter VT-04) theo tiêu chuẩn  
GB/T 14074.7-93 [12] là 100-180 mPa.s (ở  
300C); độ pH 7.0-7.2 (kiểm tra ở 200C); thời  
gian gel hoá 67s (ở 1000C); lượng  
formaldehyde tự do nhỏ hơn 0.5%; thời gian  
bảo quản 02 tháng ở 300C.  
Loại ván dăm 3 lớp. Tỷ lệ kết cấu của ván  
dăm là 1:4:1. Chiều dày ván dăm 18mm. Khối  
lượng thể tích ván dăm 0.7g/cm3; khối lượng  
thể tích lớp mặt 0.85g/cm3. Kích thước ván  
(chưa dọc cạnh) là: 800 x 800 x 18 (mm). Độ  
ẩm của thảm dăm trước khi ép nằm trong  
khoảng: lớp mặt là 15-18%, lớp lõi là 10-12%.  
Tỷ lệ keo trộn lớp trong 10% và lớp mặt 13%  
(so với lượng dăm khô kiệt). Các chỉ tiêu tính  
chất vật lý, cơ học đáp ứng được yêu cầu của  
ván dăm cấp 2 dùng cho đồ mộc và xây dựng.  
Các chỉ tiêu chất lượng của ván dăm, gồm  
[11], [12], [17]: Độ bền uốn tĩnh (MOR) 1.40  
MPa, Độ bền kéo vuông góc bề mặt (IB)   
0.35 MPa, Tỷ lệ trương nở chiều dày (TS)   
12%.  
Để đánh giá khả năng kết dính của màng  
keo chúng tôi đi kiểm tra độ bền liên kết của  
màng keo. Độ bền liên kết của màng keo, kiểm  
tra theo tiêu chuẩn GB/T 14070.10-83 [12].  
Kết quả kiểm tra như sau: độ bền liên kết màng  
keo qua 03 lần đo có giá trị trung bình 19.7  
KG/cm2.  
1.2.2. Mô hình toán học  
Với các chỉ tiêu kỹ thuật như vậy, keo U-F  
hoàn toàn có thể đáp ứng được yêu cầu của keo  
Mô hình toán học được chọn cho thí nghiệm  
là quy hoạch thực nghiệm bậc nhất với biến số  
đầu vào là tỷ lệ pha trộn giữa dăm gỗ cao su và  
vỏ hạt cây Jatropha. Tỷ lệ pha trộn giữa dăm  
gỗ cao su và vỏ hạt cây Jatropha trong ván dăm  
75:25, 60:40, 50:50, 40:60. Số lần lặp cho mỗi  
thí nghiệm là 3[1].  
dán dùng trong công nghệ sản xuất ván dăm.  
1.1.3. Chất chống ẩm  
Căn cứ vào các kết quả đã được nghiên cứu  
và sản xuất giới thiệu, chúng tôi dùng chất  
chống ẩm là dung dịch paraffin của nhà máy  
Tây Long – Quảng đông – Trung quốc cho sản  
xuất ván dăm. Dung dịch paraffin là dung dịch  
không màu, không hòa tan trong nước, keo  
dán, cồn; hòa tan trong ete, CCl4,.. Các chỉ tiêu  
1.2.3. Quá trình tạo ván dăm  
Quá trình công nghệ sản xuất ván dăm hỗn  
hợp từ gỗ Cao su và vỏ hạt Jatropha được trình  
bày theo sơ đồ ở hình 01 [7]:  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2012  
91  
C«ng nghiÖp rõng  
Dăm gỗ cao su  
Sấy dăm  
Phân loại dăm  
Dăm lớp lõi  
Trộn dăm  
Trộn keo  
Trải thảm  
Dăm lớp mặt  
Trộn keo  
Trộn dăm  
Dăm lớp lõi  
Phân loại dăm  
Sản phẩm  
Ủ ván  
Ép nhiệt  
Dăm lớp mặt  
Vỏ hạt Jatropha  
Phơi khô  
Nghiền dăm  
Sấy khô  
Hình 01. Quá trình công nghệ tạo ván dăm hỗn hợp dăm gỗ Cao su  
và vỏ hạt Jatropha  
Gỗ Cao su sau chặt hạ, tập kết được loại trừ  
Quả Jatropha được thu hoạch tại tỉnh Đắk  
lắk bằng phương pháp hái trực tiếp trên cây.  
Quá trình thu gom Jatrophan tồn tại cả quả đã  
chín khô lẫn quả đã chín còn tươi vì vậy sau  
khi thu gom chúng tôi phải tiến hành hong  
phơi, phân loại và tách bỏ hạt. Sau khi đã tách  
hạt ra khỏi quả, đem vỏ quả phơi khô tới độ ẩm  
khoảng 3%. Tỷ lệ đạt được từ quả còn tươi đến  
khi vỏ đã khô như sau: Chúng tôi tiến hành cân  
thử trong 50kg quả đã chín còn tươi thì tỷ lệ  
hạt chiếm 30%, tỷ lệ vỏ chiếm 70%. Trong 20  
kg vỏ tươi khi phơi khô đạt 2 kg vỏ khô ở độ  
ẩm 3%. Vỏ hạt sau đó được tạo dăm bằng máy  
nghiền búa. Tỷ lệ dăm vỏ Jatropha khoảng  
60%, còn lại 40% tạo ra mùn bụi.  
vỏ và loại bỏ các đinh sắt. Sau đó được băm  
trên máy băm dăm. Sau khi phân loại, loại bỏ  
những dăm không đạt yêu cầu, dăm được sấy  
trong lò sấy trống quay đến độ ẩm 3-5% cho  
dăm lớp lõi, 4-6% cho dăm lớp mặt và được  
phân loại, kiểm tra kích thước.  
Kết quả kiểm tra về chất lượng dăm gỗ Cao  
su cho thấy:  
Dăm lớp mặt: Dăm màu trắng. Chiều dày  
chủ yếu là loại dăm dày 0.25mm, tuy nhiên vẫn  
có một số dăm hơi dày (>0.25mm). Trong khi  
đó, chiều dày dăm theo tiêu chuẩn là 0.15-  
0.25mm. Chiều dài chủ yếu loại dăm ngắn hơn  
10mm. Chiều dài dăm lớp mặt tốt nhất theo tiêu  
chuẩn là 20mm. Độ thon của dăm vào khoảng  
40-50 (yêu cầu của tiêu chuẩn là 100-200).  
Kết quả kiểm tra kích thước dăm vỏ  
Jatropha như sau: chiều dài 15±5mm, chiều  
dày 0.15 đến 0.52mm, độ ẩm 3±1%.  
Dăm lớp lõi: Dăm màu trắng. Chiều dày  
chủ yếu là loại dăm lớn hơn 0.35-0.45mm,  
thậm chí còn có dăm dày 1-2mm (yêu cầu của  
tiêu chuẩn là 0.35-0.45mm). Phần lớn dăm có  
chiều dài dưới 30mm (chủ yếu dài 23mm).  
Chiều dài dăm lớp giữa tốt nhất theo yêu cầu là  
40mm. Độ thon của dăm vào khoảng 40-50  
(yêu cầu của tiêu chuẩn là 60).  
Khả năng dán dính của các qua kiểm tra cho  
thấy các dăm liên kết tốt với nhau. Để xem xét  
khả năng thẩm thấu của keo vào trong dăm  
Cao su và Jatropha, chúng tôi nhúng sợi vỏ  
Jatropha vào keo U-F đã chọn theo thời gian:  
5, 15 và 30 phút và lần lượt lấy để ra ngoài  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2012  
92  
C«ng nghiÖp rõng  
trong thời gian 2 giờ. Sau đó cắt tiêu bản  
ngang sợi, dọc sợi và soi bằng kính hiển vi  
điện tử Olympys CH30. Kết quả thu được là tất  
cả các trường hợp không thấy keo thẩm thấu  
vào bên trong. Điều này chứng tỏ dăm  
Jatropha có thể đáp ứng yêu cầu cho sản xuất  
ván dăm.  
độ ẩm tương đối của không khí khoảng 65% và  
thời gian 48 giờ trước khi gia công mẫu.  
1.2.4. Phương pháp kiểm tra kết quả thí nghiệm  
Độ pH của keo dán, dung dịch paraffin và  
hỗn hợp các chất được đo bằng máy đo độ pH  
(HI 9224 Microprocesser printing pH meter)  
và được kiểm tra theo tiêu chuẩn GB/T4897-77  
[7]. Độ chính xác của máy đo độ pH là 0.1.  
Dăm gỗ Cao su và dăm Jatropha sau khi  
được phân loại được trộn lẫn vào nhau theo các  
tỷ lệ cho trước. Sau đó, dăm được trộn keo U-F  
trong máy trộn keo trống quay. Tỷ lệ keo dùng  
cho lớp mặt là 13%, lớp lõi là 10% (so với  
lượng dăm khô kiệt). Lượng chất đóng rắn  
NH4Cl 1% (so với lượng keo khô kiệt). Độ pH  
của dăm lớp mặt sau trộn keo là 6.5, độ pH của  
dăm lớp lõi sau trộn keo là 5.5 [5], [9].  
Độ nhớt của keo dán được đo bằng máy đo  
độ nhớt (Rion Viscoteter VT-04) theo tiêu  
chuẩn GB/T 14074.7-93 [11].  
Độ bền liên kết màng keo kiểm tra theo tiêu  
chuẩn GB/T 14070.10-83 [12]. Thiết bị kiểm  
tra là máy thử tính chất cơ lý AMSLE 5 tấn  
11/2612 của Trường Đại học Lâm nghiệp.  
Lên khuôn là quá trình trải thảm để tạo  
thành khuôn trước khi ép thành ván cứng. Quá  
trình lên khuôn là dăm sau khi trộn keo được  
đưa lên thiết bị trải thảm để rải thành thảm  
dăm nhằm mục đích tạo nền tảng về kết cấu,  
kích thước cũng như khối lượng thể tích của  
ván đặt ra.  
Thời gian gel hóa của keo dán kiểm tra theo  
tiêu chuẩn GB/T 14074.10-93[4].  
Ván dăm sau khi ép được để ổn định 48h,  
sau đó được sấy đến độ ẩm 12% (máy đo độ  
ẩm Wagner L606 Moisture Meter). Độ chính  
xác của máy là 0.1%. Các mẫu được cắt theo  
các tiêu chuẩn kiểm tra chất lượng [12], [13].  
Do điều kiện thí nghiệm nên trong đề tài  
chọn phương án trải thảm bằng thủ công. Dăm  
sau khi trộn keo được trải vào khuôn gỗ và nén  
ép bằng tay (ép sơ bộ) để giảm chiều cao  
khoang máy ép nhiệt. Ván 3 lớp, dăm lớp mặt  
và lớp lõi được trộn đều sau đó trải lên khuôn  
theo tỷ lệ kết cấu 2 lớp mặt và 1 lớp lõi theo tỷ  
lệ 1:4:1 [5].  
Khối lượng thể tích của sản phẩm mẫu được  
thực hiện theo tiêu chuẩn TCVN 7756-4: 2007  
[3], [4]. Tỷ lệ trương nở chiều dày, độ bền kéo  
vuông góc, độ bền uốn tĩnh ván dăm được xác  
định theo tiêu chuẩn GB/T4965-92 [8],[9].  
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
Ván sau khi trải thảm và lên khuôn được  
tiến hành ép nhiệt. Trong thí nghiệm sử dụng  
máy ép nhiệt một tầng với các thông số của  
chế độ ép được xác định như sau: Áp suất ép:  
2.2 MPa, nhiệt độ ép: 1600C, thời gian ép: 0.6  
phút/mm chiều dày. Phương pháp ép sử dụng  
là ép phẳng có gia nhiệt bàn ép. Thanh cữ kim  
loại có chiều dày 18mm.  
Các chỉ số ngoại quan của các tấm ván này  
đáp ứng yêu cầu. Ván có màu hanh vàng hoặc  
nâu, trên bề mặt ván không có các vết đốm  
hoặc vùng chuyển màu, bề mặt ván phẳng  
không có xơ, xước. Khi quan sát tấm ván dăm  
từ gỗ Cao su và Jatropha theo mặt cắt ngang  
cho thấy: ở mặt cắt ngang của ván có nhiều  
chỗ không đồng nhất.  
Sau khi ép nhiệt, ván được để ổn định trong  
48 giờ nhằm hạn chế cong vênh do hút ẩm trở  
lại. Ván mẫu được bảo quản trong môi trường  
phòng thí nghiệm với nhiệt độ khoảng 27oC,  
Kết quả kiểm tra một số chỉ tiêu chất lượng  
của ván dăm hỗn hợp từ gỗ Cao su và Jatropha  
trình bày ở bảng 01.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2012  
93  
C«ng nghiÖp rõng  
góc bề mặt ván dăm (K)] như sau:  
Các phương trình tương quan biểu diễn  
quan hệ giữa tỷ lệ pha trộn giữa dăm gỗ cao su  
và vỏ hạt cây Jatropha (X) và một số chỉ tiêu  
chất lượng ván dăm [tỷ lệ trương nở chiều dày  
(TS), độ bền uốn tĩnh (u), độ bền kéo vuông  
TS = 9.30 – 1.56X + 0.628X2  
MOR = 151.97 + 2.11X – 1.44X2  
IB = 3.78 + 0.8X – 0.21X2  
Bảng 01. Một số chỉ tiêu chất lượng ván dăm  
Các chỉ tiêu chất lượng của ván dăm  
N0 Tỷ lệ phối trộn (%)  
TS (%)  
8.29  
8.94  
10.03  
13.19  
7.34  
U (MPa)  
15.244  
15.113  
14.474  
13.768  
16.123  
K (MPa)  
0.426  
0.483  
0.395  
0.365  
1
2
3
4
5
75:25  
60:40  
50:50  
40:60  
Ván đối chứng  
0.562  
Ghi chú: các số liệu ở bảng 01 là các số liệu trung bình đã qua xử lý thống kê.  
Từ các kết quả nghiên cứu ở bảng 01 và các  
thấy vỏ Jatropha có khối lượng thể tích nhỏ, độ  
đàn hồi lớp, tỷ lệ sợi có chiều dài lớn ít. Hình  
dạng dăm từ vỏ hạt Jatropha đa số là dạng cục,  
khi trộn keo sẽ tạo với dăm gỗ ở dạng “kênh”.  
Do đó, khi lượng vỏ hạt Jatropha càng nhiều,  
khoảng trống trong tấm ván dăm càng nhiều.  
Vì vậy, ván dăm từ hỗn hợp vỏ quả Jatropha và  
dăm gỗ cao su sẽ có tỷ lệ trương nở chiều dày  
cao hơn gỗ. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu  
cũng cho thấy trong vỏ hạt Jatropha có nhiều  
dầu và chất béo. Các chất này có lợi cho dán  
dính. Vì vậy, khi nghiền dăm nếu dăm có kích  
thước phù hợp sẽ có lợi cho độ bền uốn tĩnh và  
độ bền kéo vuông góc.  
phương trình tương quan cho thấy:  
- Các chỉ tiêu chất lượng của ván đối chứng  
(độ bền kéo vuông góc bề mặt và độ bền uốn  
tĩnh của ván dăm) cao hơn ván dăm hỗn hợp từ  
gỗ Cao su và vỏ hạt Jatropha. Riêng tỷ lệ  
trương nở chiều dầy của ván đối chứng thấp  
hơn ván dăm hỗn hợp từ gỗ Cao su và vỏ hạt  
Jatropha.  
- Khi lượng dăm Jatropha trong ván dăm  
hỗn hợp gỗ Cao su và vỏ hạt Jatropha tăng lên,  
độ bền kéo vuông góc bề mặt và độ bền uốn  
tĩnh của ván dăm có xu thế giảm đi. Ở tỷ lệ  
40:60 độ bền kéo vuông góc bề mặt và độ bền  
uốn tĩnh của ván dăm hỗn hợp đã vượt quá tiêu  
chuẩn cho phép là 14 MPa và 0.35MPa.  
Trong ván dăm, khi dăm gỗ nhiều, dăm có  
kích thước và chất lượng của dăm công nghệ  
càng nhiều thì độ bền uốn tính, độ bền kéo  
vuông góc sẽ tăng lên và tỷ lệ trương nở chiều  
dày sẽ giảm đi. Tuy nhiên, do dăm Cao su có  
nhiều dăm kích thước lớn, trong khi đó dăm từ  
vỏ hạt jatropha có nhiều chất dầu không có lợi  
cho dán dính, các dăm từ vỏ hạt jatropha sẽ  
chui vào các kẽ hở của dăm gỗ. Điều này giải  
thích tại sao khi tỷ lệ phối trộn dăm gỗ giảm đi  
từ 75:25 đến 60:40 độ bền uốn tĩnh, độ bền kéo  
vuông góc bề mặt tăng lên, tỷ lệ trương nở  
chiều dày có xu thế giảm đi.  
- Khi lượng dăm Jatropha trong ván dăm  
hỗn hợp gỗ Cao su và vỏ hạt Jatropha tăng lên,  
tỷ lệ trương nở chiều dày của ván dăm có xu  
thế tăng lên. Ở tỷ lệ 40:60 tỷ lệ trương nở  
chiều dày của ván dăm hỗn hợp đã vượt quá  
tiêu chuẩn cho phép là 12%.  
Các nhận xét trên đây có thể giải thích  
như sau:  
Đối với vỏ hạt Jatropha, qua kết quả nghiên  
cứu về các tính chất cơ học, vật lý, hóa học cho  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2012  
94  
C«ng nghiÖp rõng  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
IV. KẾT LUẬN  
1. Nguyễn Văn Bỉ (1987). “Phương pháp lập và giải  
bài toán tối ưu trong công nghiệp rừng”, Thông tin  
KHKT Đại Học Lâm Nghiệp, (1), tr.50 -70.  
Từ các kết quả trên, chúng ta có thể rút ra  
một số kết luận sau:  
- Gỗ Cao su, vỏ hạt Jatropha đáp ứng tốt  
yêu cầu của nguyên liệu dùng trong công  
nghệ sản xuất ván dăm. Khi sử dụng hỗn hợp  
2 loại nguyên liệu trên, chất lượng ván dăm  
đáp ứng tốt yêu cầu, chất lượng ngoại quan  
của ván đẹp.  
2. Hồ Xuân Các, Hữu Thị Huần (1994), Công  
nghệ sản xuất ván dăm gỗ, Hội Khoa học kỹ thuật  
Lâm Nghiệp TP Hồ Chí Minh, tr.71-83.  
3. Phạm Văn Chương, Nguyễn Văn Thuận (1993),  
Công nghệ sản xuất ván nhân tạo, Đại học Lâm nghiệp,  
Hà Tây, Tr 63-67.  
8. J.M Dinwoodie (1987), Timber its structure,  
properties and utilisation, 6th edition, Van nostrand  
reinhold coMPany, London, Paris… Tr 121-156.  
- Ván dăm hỗn hợp từ gỗ Cao su và vỏ hạt  
Jatropha theo công nghệ trên hoàn toàn đảm  
bảo được những yêu cầu về chất lượng cho ván  
dăm dùng trong độ mộc dân dụng.  
10. J.A. Youngquist, B.E. English, H. Spelter, P. Chow  
(1993) Agricultural fibers in composition panels. In  
proceedings  
of  
the  
27th  
International  
- Ván dăm hỗn hợp từ gỗ Cau su và vỏ hạt  
Jatropha nên pha trộn với tỷ lệ không quá  
50:50 lượng dăm gỗ Cao su và dăm từ vỏ hạt  
Jatropha.  
particleboard/composite materials symposium. WSU,  
Pullman tr112-115.  
11. Академия наука Латвииской Институт  
Химии  
Древесины (1975),  
Химическая  
Модфикация древесины Рига Издатльство Зинатне  
14-139с.  
- Công nghệ sản xuất ván dăm hỗn hợp từ  
gỗ Cao su và vỏ hạt Jatropha, theo kết quả  
nghiên cứu hoàn toàn có thể áp dụng vào thực  
tế sản xuất của Việt Nam với những trang thiết  
bị dùng trong sản xuất các loại ván dăm thông  
dụng hiện nay.  
13. Evalipt¸kov¸, Milansedliačik (1998) Chemia a  
aplik¸cia pomocüch L·tok vdrev·rskom priemysle,  
vydavateľstvo technickej a ekono mickej litertóry – Tr 367-  
371.  
STUDY ON UTILIZATION OF JATROPHA CURCAS L. AND RUBER WOOD  
FOR PARTICLEBOARD  
Tran Van Chu  
SUMMARY  
In this study, Jatropha curcas L. - ruber wood particleboard were manufactured as boards using the method used  
in the wood-based panel industry. The raw material (the nut shell) Jatropha curcas L from Dak lak province and ruber  
wood from Dong Nai province, were chosen. In order to study the feasibility of utilizing Jatropha curcas L as an  
alternative raw material for panels, three-layer particleboard were produced by mixing Jatropha curcas L with  
industrial ruber wood particles in a proportion 75:25, 60:40, 50:50, 40:60. The experimental technological parameters  
were: temperature of 1600C and pressing time of 14.8 minutes and , pressure of 1.7 MPa. U-F adhesive was used (a  
commercial urea-formaldehyde adhesive was used) for blending the raw materials with adhesive content of 10 wt%  
for core and 13 wt% for surface layers. The results of discussion show that: Such a technlogical process are very  
suitable for technlogical and equipments conditions of Vietnam. By using such a technological process, the physical  
and mechanical properties of particleboard made from nut shell Jatropha curcas L and ruber wood are up to  
GB/T4965-92 standard. The board can reach 14.5 MPa. of bending Modulus of Rupture (MOR) , 0.365 Ma. of Intenal  
Bond (IB) and the Thickness Swelling (TS) of the board is 10.54%, with 0.7-0.73 specific gravity.  
Keywords: Bending modulus of rupture (MOR), Intenal Bonding (IB), Jatropha curcas L, Ruber wood,  
Thickness swelling (TS), Wood particle- Jatropha curcas L particleboard.  
Người phản biện: PGS. TS. Nguyễn Văn Thiết  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2012  
95  
pdf 8 trang yennguyen 19600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu tạo ván dăm từ gỗ cao su và vỏ hạt Jatropha", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_tao_van_dam_tu_go_cao_su_va_vo_hat_jatropha.pdf