Kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ lĩnh vực giống và công nghệ sinh học lâm nghiệp giai đoạn 2011-2020 và định hướng đến năm 2030

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ  
LĨNH VỰC GIỐNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC LÂM NGHIỆP  
GIAI ĐOẠN 2011 - 2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030  
Nguyễn Đức Kiên, Phí Hồng Hải, Hà Huy Thịnh, Nguyễn Hoàng Nghĩa,  
Lê Đình Khả, Nguyễn Việt Cường, Nghiêm Quỳnh Chi, Đỗ Hữu Sơn,  
Lê Sơn, Phan Văn Thắng, Nguyễn Tuấn Anh5, Nguyễn Hữu Sỹ,  
Trần Đức Vượng, Cấn Thị Lan, Ngô Văn Chính, Nguyễn Quốc Toản  
Viện nghiên cứu Giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp,  
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam  
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam  
Hội Khoa học Kỹ thuật Lâm nghiệp  
Trung tâm Nghiên cứu Lâm sản ngoài gỗ, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam  
5 Viện nghiên cứu Cây nguyên liệu giấy  
TÓM TẮT  
Trong giai đoạn 2011 - 2020, công tác nghiên cứu cải thiện giống cây rừng ở nước ta đã đạt được nhiều  
thành tựu to lớn, cụ thể là đã chọn tạo và công nhận được 93 giống keo lai, Keo lá tràm, Keo tai tượng, Keo  
lá liềm, Bạch đàn uro, bạch đàn lai và Mắc ca là giống quốc gia và giống tiến bộ kỹ thuật. Đặc biệt là có một  
số giống được tạo ra bằng công nghệ mới như công nghệ tạo giống đa bội và chọn lọc dựa trên các chỉ thị  
phân tử. Công nghệ chuyển gen đã bước đầu được nghiên cứu ứng dụng thành công trên Bạch đàn uro và  
Bạch đàn lai UP mở ra hướng nghiên cứu mới trong chọn tạo giống, đặc biệt là tạo ra các giống có chất  
lượng gỗ tốt và có khả năng chống chịu sâu bệnh hại cũng như các điều kiện môi trường bất lợi. Song song  
với công tác chọn tạo giống, hầu hết các giống được công nhận cho đến nay đã có quy trình nhân giống bằng  
công nghệ mô - hom ở quy mô phòng thí nghiệm và/hoặc quy mô công nghiệp. Riêng Viện Khoa học Lâm  
nghiệp Việt Nam đã tiến hành đào tạo tập huấn, chuyển giao công nghệ và giống gốc cho 15 cơ sở sản xuất  
để nhanh chóng phát triển giống vào sản xuất. Thông qua các dự án giống đã xây dựng được hơn 200 ha  
vườn giống các loài keo và bạch đàn có mức độ đa dạng di truyền cao và đã công nhận được hơn 30 vườn để  
cung cấp hạt cho sản xuất. Hạt giống từ các vườn giống được công nhận có sinh trưởng nhanh hơn hoặc  
tương đương với giống nhập nội nguyên sản nhưng có chất lượng thân cây tốt hơn. Thông qua các đề tài  
nghiên cứu chọn giống và bảo tồn nguồn gen, đã tiến hành thu thập bổ sung 3.818 lô hạt xuất xứ và lô hạt cá  
thể (nguồn gen), trong đó có 744 lô hạt cá thể của 102 xuất xứ thuộc 83 loài cây bản địa, quý hiếm và/hoặc  
có giá trị kinh tế và xây dựng được 104 ha ngân hàng gen ngoài thực địa cho 127 loài cây, đây là nguồn gen  
phong phú vừa đóng vai trò bảo tồn đồng thời tạo ra nguồn vật liệu ban đầu cho nghiên cứu cải thiện giống  
trong tương lai. Bên cạnh các thành tựu to lớn đã nêu trên, công tác nghiên cứu cải thiện giống trong thời  
gian qua còn bộc lộ một số tồn tại như chưa chú trọng nghiên cứu chọn giống cho các loài cây bản địa, cây  
lâm sản ngoài gỗ, chọn giống cho vùng cao, chọn giống kháng một số loại bệnh mới phát sinh trên keo như  
bệnh chết héo và cần được quan tâm nghiên cứu trong giai đoạn tới.  
31  
Achievements in research and technology transfer in forest tree improvement and biotechnology  
in the period 2011-2020 and recommended direction to 2030  
Nguyen Duc Kien, Phi Hong Hai, Ha Huy Thinh, Nguyen Hoang Nghia,  
Le Dinh Kha, Nguyen Viet Cuong, Nghiem Quynh Chi, Do Huu Son,  
Le Son, Phan Van Thang, Nguyen Tuan Anh5, Nguyen Huu Sy,  
Tran Duc Vuong, Can Thi Lan, Ngo Van Chinh, Nguyen Quoc Toan  
Institute of Forest Tree Improvement and Biotechnology, Vietnamese Academy of Forest Science  
Vietnamese Academy of Forest Science  
Forestry Science Technology Association  
Non-timber Forest Products Research Centre, Vietnamese Academy of Forest Science  
5 Forest Research Centre  
During the current decade (2011-2020), forest tree improvement programs in Vietnam, leading by  
Institute of Forets Tree Improvement and Biotechnology (IFTIB), gained successful achievements. In this  
period, 93 newly selected cultivars of Acacia hybrid, A. auriculiformis, A. mangium, Eucalyptus urophylla,  
Eucalyptus hybrid and Macadamia were recorded as Advanced Technology and National Germplasm. In  
which, some of them were created/selected with the massive assistance of Biotechnology tools such as  
molecular marker and the combination of mutation, hybridisation and embryo- rescue. Gene transformation  
was also primarily success with E. urophylla and its hybrid clones opening the new direction in breeding for  
pest and disease resistance, climate change and better wood quality with shorter breeding cycles. The  
protocol of propagation including cutting and tissue culture for newly selected germplasm was also  
developed at mass production scales and transferred to 15 forestry organisation/companies for  
commercialisation. In order to supply genetics improved seed for plantation, 200ha SSO/CSOs of Acacias  
and Eucalypts with the high level of genetic diversity were established, in which 30 SSO/CSOs were  
approved by MARD. The seedlings from these seed orchards showed better performance than un-improved  
seedlings. The genetic conservation of forest trees was also conducted. At this stage, the main purpose of  
studies is to establish a high level of genetic-based for further genetic improvement and conservation of high  
value, dangerous native species. There were 3,181 seedlots including 744 families and 102 provenances of 83  
native species were collected and conserved. The ex-situ conservation of 127 native species was also planted  
with a total of 104ha. In the future, besides the fast-growing and wood properties traits, the breeding program  
should also concentrate on disease resistance, wider adaptability, endemic/native species and the species that  
adapted to the high elevation sites.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Công tác nghiên cứu cải thiện giống cây rừng là quá trình thường xuyên, liên tục và bao gồm  
nhiều bước đi, nhiều giai đoạn và trải qua nhiều thế hệ với kết quả là sau từng giai đoạn và qua  
mỗi thế hệ, năng suất và chất lượng của rừng trồng không ngừng được cải thiện và nâng cao. Mặt  
khác, do phần lớn các loài cây trồng rừng là cây lâu năm, lâu ra hoa kết quả và ngay trong cùng  
một loài, khả năng và chu kỳ ra quả cũng rất khác nhau, gây không ít khó khăn cho những người  
làm công tác nghiên cứu giống. Một chu kỳ chọn tạo giống cây lâm nghiệp thường kéo dài hàng  
chục năm, nhanh nhất như đối với các loài cây có luân kỳ kinh doanh ngắn như nhóm các loài  
keo và bạch đàn cũng phải 10-12 năm. Vì lẽ đó, các chương trình cải thiện giống cây lâm nghiệp  
thường phải kéo dài 20-25 năm và bao gồm rất nhiều các kế hoạch cụ thể cho từng giai đoạn 3-5  
năm và luôn phải mang tính kế thừa.  
Trong giai đoạn 2011-2020, thông qua các đề tài/dự án cấp Bộ và cấp Quốc gia đã nghiên  
cứu, chọn tạo được nhiều giống mới cho các loài cây mọc nhanh, một giống đã được Bộ Nông  
nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật và giống quốc gia và đã được  
chuyển giao vào sản xuất, góp phần nâng cao chất lượng rừng trồng và hiệu quả kinh tế.  
32  
Các kết quả nghiên cứu và triển khai được trình bày trong bài viết này là kết quả tổng hợp  
của các đề tài nghiên cứu và dự án nghiên cứu về chọn tạo và phát triển giống của Viện Khoa  
học Lâm nghiệp Việt Nam thực hiện giai đoạn 2011-2020 cũng như của một số tổ chức khác.  
II. MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ CHUYỂN GIAO NỔI BẬT  
2.1. Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống  
2.1.1. Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống keo lai mới  
Nhằm chọn lọc được những dòng keo lai mới có năng suất cao và tính chất gỗ tốt, trong giai  
đoạn từ năm 2000 - 2010, Viện nghiên cứu Giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp đã xây  
dựng các vườn lai giống tự nhiên bao gồm các dòng Keo lá tràm và Keo tai tượng tốt nhất được  
trồng liền kề nhau nhằm tạo ra hạt lai tự nhiên giữa 2 loài. Hạt giống từ các dòng này được tiến  
hành thu hái và gieo ươm riêng rẽ, sau đó tiến hành chọn lọc được 6.000 cây keo lai từ các lô cây  
con này. Các cây keo lai tự nhiên này được trồng theo từng gia đình trong các khảo nghiệm chọn  
lọc sớm với đối chứng là các dòng keo lai đã được công nhận. Viện đã tiến hành đánh giá các  
khảo nghiệm này ở giai đoạn 24 tháng tuổi và đã chọn lọc được 550 cây trội keo lai. Các cây trội  
này sau đó được nhân giống vô tính và trồng khảo nghiệm trên các vùng sinh thái khác nhau,  
mỗi khảo nghiệm có từ 160 - 250 dòng (khảo nghiệm loại trừ dòng - clone elimination trial). Sau  
24 - 36 tháng tuổi, các khảo nghiệm này tiếp tục được đánh giá và chọn lọc các dòng có sinh  
trưởng tốt nhất, các dòng này tiếp tục được trồng trong các khảo nghiệm chứng minh dòng vô  
tính (clone proving trial) trên một số vùng sinh thái trên cả nước. Kết quả dưới đây thể hiện kết  
quả đánh giá các khảo nghiệm chứng minh dòng.  
Bảng 1. Kết quả khảo nghiệm các dòng keo lai mới tại Quảng Trị và Bình Định  
Cam Lộ, Quảng Trị (12/2013 - 7/2018)  
Quy Nhơn, Bình Định (12/2013 - 7/2018)  
D1,3  
(cm)  
H
(m)  
V
Năng suất  
D1,3  
(cm)  
H
(m)  
V
Năng suất  
(m/ha/năm)  
Dò ng  
Dò ng  
(dm/câ y) (m/ha/năm)  
(dm/câ y)  
BV523  
BV584  
BV434  
BV350  
BV32  
14,8  
14,0  
12,5  
13,0  
12,5  
12,3  
13,1  
13,3  
12,8  
13,9  
.
16,5  
16,8  
16,3  
16,4  
15,7  
15,7  
16,0  
15,5  
16,1  
14,8  
.
146,70  
133,80  
103,60  
113,30  
100,70  
97,30  
116,40  
114,50  
106,90  
123,20  
.
35,07  
33,76  
30,27  
30,09  
29,42  
27,14  
26,28  
25,85  
23,42  
22,91  
.
BV376  
BV586  
BB018  
BV355  
BB028  
BV16  
14,76  
13,08  
13,41  
12,52  
12,51  
11,98  
13,73  
12,40  
13,83  
13,95  
.
16,87  
15,89  
14,83  
15,53  
14,97  
14,43  
15,75  
14,82  
15,13  
14,26  
.
147,30  
112,30  
119,30  
98,20  
95,80  
87,70  
122,80  
95,10  
118,40  
116,70  
.
34,23  
28,89  
28,72  
26,08  
22,26  
21,84  
20,38  
18,94  
18,67  
18,40  
.
BV330  
BV16  
BB048  
BV390  
BV542  
BB055  
.
BV390  
BV586  
BV516  
.
BV303  
BV128  
9,6  
12,0  
11,0  
14,25  
<0,001  
1,67  
47,50  
34,70  
84,20  
<0,001  
29,49  
8,20  
BB038  
BV291  
11,28  
8,77  
14,24  
12,29  
13,75  
<0,001  
2,50  
72,90  
39,60  
81,10  
<0,001  
39,49  
5,45  
8,5  
8,06  
5,26  
11,58  
<0,001  
1,73  
11,58  
<0,001  
2,27  
(Nguồn: Viện nghiên cứu Giống và Công nghệ sinh học, 2018).  
33  
Trên cả hai khảo nghiệm, kết quả đánh giá còn cho thấy có sự sai khác rõ rệt giữa các dòng  
vô tính về tất cả các chỉ tiêu sinh trưởng (Fpr<0,001).  
Tại Cam Lộ, Quảng Trị, năng suất hàng năm của các dòng keo lai (tính bằng thể tích thân cây  
trung bình × mật độ ban đầu 1.660 cây/ha × tỷ lệ sống của từng dòng, chia cho số tuổi) được thể  
hiện trên bảng 1 cho thấy có sự khác biệt khá lớn giữa các dòng. Trong đó dòng BV523, BV584,  
BV434 và BV350 có năng suất vượt trội hơn so với các dòng keo lai khac cũng như các giống  
quốc gia được công nhận (BV10, BV16, BV32), với năng suất bình quân tương ứng đạt 35,1  
m/ha/năm; 33,8 m/ha/năm; 30,3 m/ha/năm và 30,1 m/ha/năm. Các dòng này đồng thời có dạng  
thân thẳng, cành nhánh nhỏ, tán lá phát triển đồng đều và không bị sâu bệnh.  
Tại Quy Nhơn, Bình Định, các dòng BV376, BV586, BB018, BV355, BB028 cũng có năng  
suất vượt trội hơn so với các giống quốc gia được công nhận (BV10, BV16, BV32), với năng  
suất bình quân đạt 22,26 đến 34,23 m/ha/năm. Trong số các dòng này thì 2 dòng BV376 và  
BV586 có chất lượng thân cây tốt nhất, thân thẳng cành nhánh nhỏ, tán lá phát triển đều.  
Hình 1. Dòng keo lai BV584 tại Cam Lộ, Quảng Trị đạt năng suất 34 m/ha/năm  
sau 4,5 tuổi (Ảnh: Đỗ Hữu Sơn)  
Từ các kết quả nghiên cứu trên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tiến hành công  
nhận 4 dòng BV523, BV584, BV434, BV350 là giống tiến bộ kỹ thuật cho vùng Cam Lộ, Quảng  
Trị và 3 dòng BV376, BV586 và BB055 là giống tiến bộ kỹ thuật áp dụng cho vùng Quy Nhơn,  
Bình Định.  
2.1.2. Kết quả nghiên cứu chọn giống keo lai tam bội  
Trong các giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2015, được sự giúp đỡ của các nhà khoa học  
Australia thông qua dự án ACIAR FST/2008/015 “Phương pháp chọn giống và phát triển giống  
tiến bộ cho các loài keo nhiệt đới”, Viện nghiên cứu Giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp  
đã tạo được các giống keo tứ bội và sau đó tiến hành lai giống với giống keo nhị bội để tạo ra hạt  
lai tam bội. Các hạt lai tam bội được cứu phôi (hạt lai tam bội không thể nảy mầm trong điều  
kiện bình thường) và được nhân giống bằng nuôi cấy mô và giâm hom. Từ năm 2015 đến 2019,  
trong khuôn khổ đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống keo lai tam bội sinh trưởng nhanh phục vụ  
trồng rừng gỗ lớn”, Viện đã tiến hành khảo nghiệm các giống tam bội trên nhiều địa điểm trên  
khắp cả nước. Kết quả đánh giá tổng hợp của các giống tam bội được thể hiện ở bảng 2 dưới đây.  
Tại Yên Thế, Bắc Giang 3 dòng triển vọng (X101, X102 và X201) đạt thể tích thân cây trung  
bình từ 50,0 - 57,9 dm/cây, năng suất từ 25,8 - 26,8 m/ha/năm. Các dòng này đều có chỉ số chất  
lượng thân cây tốt, thân tròn đều và chiều cao dưới cành lớn. Chỉ số chất lượng tổng hợp chúng  
34  
đều cao hơn hoặc tương đương với 2 giống BV10 và BV16 (Bảng 2). Vì thế cả 3 dòng (X101,  
X102 và X201) đều phù hợp để đề nghị công nhân giống cho điểm Yên Thế, Bắc Giang và một  
số nơi có điều kiện sinh thái tương tự.  
Tại Cam Lộ, Quảng Trị 4 dòng triển vọng có thể tích thân cây trung bình dao động lớn từ 30,5  
- 52,4 dm/cây. Về năng suất, 2 trong số 4 dòng triển vọng là dòng X201 và X205, đạt năng suất từ  
22,7 - 28,6 m/ha/năm vượt hoặc tương đương so với các giống đối chứng (BV10, BV16 và AH7).  
Trong đó dòng X205 có năng suất cao nhất (28,6 m/ha/năm) với độ vượt 108,8% so với trung bình  
chung khảo nghiệm; cũng như vượt 31,8 và 56,3% so với lần lượt 2 giống được công nhận AH7 và  
BV16 làm đối chứng. Dòng X102 thể hiện ưu thế sinh trưởng, đạt 22,7 m/ha/năm, vượt 65,7% so  
với trung bình chung khảo nghiệm và 4,6 - 24,0% so với 2 giống đối chứng.  
Bảng 2. Tổng hợp năng suất và chất lượng thân cây của các dòng keo lai tam bội và giống đối  
chứng trên các khảo nghiệm ở giai đoạn 3 tuổi  
TLS  
(%)  
V
Năng suất  
(m/ha/năm)  
Icl  
(điểm)  
Địa điểm  
Dò ng  
(dm/câ y)  
X201  
X102  
X101  
BV16  
BV10  
X205  
X102  
X101  
X201  
AH7  
BV16  
X102  
X201  
X101  
X205  
BV73  
TB12  
83,7  
93,2  
92,8  
90,5  
91,8  
95,0  
92,5  
87,5  
100,0  
85,0  
77,5  
93,9  
87,8  
83,7  
78,2  
88,4  
78,9  
57,9  
51,4  
50,2  
52,0  
48,5  
52,4  
39,5  
33,3  
30,5  
44,4  
41,1  
61,1  
63,1  
65,8  
54,8  
51,4  
41,0  
26,8  
26,5  
25,8  
26,0  
24,7  
28,6  
22,7  
16,7  
15,8  
21,7  
18,3  
31,9  
30,8  
30,6  
23,8  
25,2  
18,0  
4,5  
4,4  
4,5  
4,6  
4,4  
3,6  
3,5  
3,5  
3,9  
3,7  
3,7  
3,3  
3,3  
3,2  
3,2  
2,8  
2,6  
Yên Thế, Bắc Giang  
(49 câ y/ô )  
Cam Lộ, Quảng Trị  
(10 câ y/ô )  
Xuâ n Lộc, Đồng Nai  
(49 câ y/ô )  
(Icl là chỉ số chất lượng tổng hợp)  
(Nguồn: Nghiêm Quỳnh Chi và cộng sự, 2019)  
Hình 2. Dòng keo lai Tam bội X101 tại Yên Thế, Bắc Giang đạt năng suất 26 m/ha/năm ở tuổi 3  
(Ảnh: Nghiêm Quỳnh Chi)  
35  
Tại Xuân Lộc, Đồng Nai, 4 dòng triển vọng (X101, X102, X201 và X205) đều đạt thể tích  
thân cây trung bình cao hơn so với 2 điểm Bắc Giang và Quảng Trị, dao động từ 55,7 - 82,1  
dm/cây và đạt năng suất từ 23,8 - 31,9 m/ha/năm. Chỉ số chất lượng thân của cả 4 dòng trên đều  
cao và vượt so với các giống được công nhận sử dụng làm đối chứng trong khảo nghiệm (Bảng 3).  
Từ các kết quả nghiên cứu trên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tiến hành đánh  
giá và công nhận 4 dòng X101, X102, X201 và X205 là giống cây trồng lâm nghiệp mới theo  
quyết định số 1458/QĐ-BNN-TCLN ngày 20/4/2020.  
2.1.4. Nghiên cứu chọn giống kháng bệnh  
Nghiên cứu chọn giống sinh trưởng nhanh và có khả năng kháng bệnh cũng là một hướng  
nghiên cứu được quan tâm chú trọng. Trong giai đoạn 2011 - 2020, các nghiên cứu tập trung vào  
chọn lọc các giống keo kháng bệnh phấn hồng, bệnh mục ruột và một số loại bệnh khác.  
Khảo nghiệm dòng keo lai tại Long Bình, Đồng Nai, 2011  
Khảo nghiệm gồm 11 dòng keo lai được trồng năm 2011, tại Long Bình, Đồng Nai trong đó  
gồm 10 dòng keo lai được dẫn dòng từ những cây trội tại Sông Mây, Đồng Nai và 2 dòng đối  
chứng AA9 (Keo lá tràm) và keo lai AH7. Kết quả đánh giá cho thấy các chỉ tiêu sinh trưởng của  
12 dòng keo lai có sự khác nhau rõ rệt. Dòng AH7 có sinh trưởng tốt nhất với năng suất đạt  
41,69 m/ha/năm, đây là dòng keo lai đã được công nhân giống tiến bô  
̣ kỹ thuật cho vùng Đông  
Nam Bô năm 2007 và giống quốc gia năm 2015. Trong khảo nghiệm này dòng AH7 vẫn thể  
̣
hiện ưu thế vượt trội về khả năng sinh trưởng nhanh và không bị bệnh phấn hồng gây hại.  
Bảng 3. Sinh trưởng của các dòng keo lai tại Long Bình, Đồng Nai  
(8/2011 - 10/2014)  
D1,3  
(cm)  
Hvn  
(m)  
Năng suất  
(m/ha/năm)  
Tỷ lệ sống  
Xếp hạng  
Dò ng  
V (dm/câ y) Chỉ số bệnh  
(%)  
1
2
AH7  
AH15  
AH9  
11,54  
11,09  
10,40  
9,50  
15,20  
13,38  
14,04  
13,75  
11,24  
10,04  
10,47  
9,82  
86,90  
73,20  
58,40  
52,00  
45,80  
33,90  
32,00  
30,70  
37,40  
40,20  
32,30  
22,80  
45,50  
<0,001  
14,71  
-
41,69  
37,79  
26,92  
26,85  
21,11  
16,26  
15,63  
15,58  
15,52  
15,19  
14,89  
11,14  
86,70  
93,30  
83,30  
93,30  
83,30  
86,70  
88,30  
91,70  
75,00  
68,30  
83,30  
88,30  
-
3
-
4
AH12  
AH8  
-
5
9,46  
0,30  
6
AH13  
AA9  
8,54  
0,27  
7
8,16  
-
8
AH10  
AH16  
AH11  
AH14  
AH17  
8,21  
-
-
9
9,03  
9,97  
10  
11  
12  
9,37  
9,80  
-
8,84  
8,18  
3,85  
0,17  
7,37  
9,10  
TB  
Fpr  
Lsd  
9,26  
12,08  
<0,001  
1,74  
<0,001  
1,10  
(Nguồn: Nguyễn Hoàng Nghĩa và cộng sự, 2015).  
36  
Trong số các dòng keo lai mới được đưa vào khảo nghiệm đã xác định được 3 dòng có năng  
suất đạt trên 25 m/ha/năm là AH15, AH9 và AH12. Đáng chú ý là dòng AH15 có năng suất đạt  
tới 37,79 m/ha/năm, không sai khác về thống kê so với dòng AH7. Đây là dòng có khả năng sinh  
trưởng nhanh, có hình thân thẳng, cành nhánh nhỏ và không bị bệnh phấn hồng. Ngoài ra các  
dòng AH9 và AH12 có năng suất lần lượt là 26,92 và 26,85 m/ha/năm, đây cũng là 2 dòng có  
khả năng sinh trưởng nhanh, thân thẳng, cành nhánh nhỏ và không bị bệnh phấn hồng. Các dòng  
keo lai nêu trên có lá nhỏ và tán lá thưa vì vậy ít bị ảnh hưởng của gió, đồng thời điều kiện thông  
gió được đảm bảo, không tích lũy độ ẩm nên có thể tránh được sự xâm nhiễm của nấm Corticium  
salmonicolor gây bệnh phấn hồng. Đặc biệt trong khu khảo nghiệm dòng AH14 đang bị bệnh  
gây hại ở thân cành ở mức cao, các dòng còn lại bị bệnh hại lá nhưng ở mức độ nhẹ. Như vậy  
trong khảo nghiệm Long Bình, Đồng Nai đã xác định được dòng AH7 (giống tiến bộ kỹ thuật  
năm 2007) và 2 dòng AH15 và AH9 có tốc độ sinh trưởng nhanh và chống chịu bệnh tốt và có  
hình thân thẳng đẹp, được công nhận là giống TBKT năm 2015.  
Khảo nghiệm dòng vô tính Keo lá tràm tại Long Bình, Đồng Nai, 2011  
Khảo nghiệm gồm 48 dòng Keo lá tràm trồng tại Long Bình, Đồng Nai, trong đó có 27 dòng  
được dẫn dòng từ cây trội tại Chơn Thành, Bình Phước; 8 dòng được dẫn dòng từ những cây trội  
tại Bầu Bàng, Bình Dương; 11 dòng được dẫn dòng từ những cây trội tại Sông Mây, Đồng Nai  
và 2 dòng AA9 (Keo lá tràm) và AH7 (keo lai) đối chứng. Kết quả trung bình về các chỉ tiêu sinh  
trưởng và chỉ số bệnh được trình bày ở Bảng 4.  
Bảng 4. Sinh trưởng của các dòng Keo lá tràm tại Long Bình, Đồng Nai  
(8/2011-10/2014)  
Xếp  
hạng  
D1,3  
(cm)  
Hvn  
(m)  
Thể tí ch  
(dm/câ y)  
Năng suất  
(m/ha/năm)  
Tỷ lệ sống  
Dò ng  
Chỉ số bệnh  
(%)  
1
2
AH7  
AA42  
AA21  
AA34  
AA41  
AA23  
AA44  
AA53  
AA56  
AA17  
.
12,14  
9,83  
10,03  
9,31  
9,32  
9,94  
9,01  
8,56  
9,02  
8,62  
.
15,89  
13,47  
13,33  
12,66  
13,56  
12,77  
12,29  
12,73  
13,35  
12,69  
.
94,54  
52,71  
54,00  
44,96  
46,83  
51,14  
40,27  
38,30  
43,15  
39,55  
.
-
41,85  
24,06  
23,90  
23,01  
22,67  
21,93  
21,73  
20,66  
20,29  
20,24  
.
80,00  
82,50  
80,00  
92,50  
87,50  
77,50  
97,50  
97,50  
85,00  
92,50  
.
-
3
-
4
-
5
0,01  
1,03  
0,22  
-
6
7
8
9
-
10  
.
0,01  
.
46  
47  
48  
AA30  
AA58  
AA46  
6,30  
6,67  
5,53  
8,07  
<0,001  
1,09  
9,67  
17,82  
16,87  
11,64  
33,39  
<0,001  
10,35  
0,11  
0,01  
0,08  
5,42  
55,00  
57,50  
75,00  
8,69  
5,37  
8,76  
4,83  
TB  
Fpr  
Lsd  
11,62  
<0,001  
1,51  
(Nguồn: Nguyễn Hoàng Nghĩa và cộng sự, 2015).  
37  
Từ kết quả phân tích ở bảng 4 cho thấy đáng chú ý nhất trong khảo nghiệm tại Long Bình,  
Đồng Nai là giống tiến bộ kỹ thuật dòng keo lai AH7 với năng suất đạt 41,85 m/ha/năm. Dòng  
AH7 vẫn thể hiện ưu thế sinh trưởng nhanh và có khả năng kháng bệnh phấn hồng cao. Qua  
khảo nghiệm cũng cho thấy 6 dòng Keo lá tràm có sinh trưởng tốt và không bị bệnh, năng suất đạt  
trên 20 m/ha/năm lần lượt là AA42 (24,06 m/ha/năm), AA21(23,90 m/ha/năm), AA41 (22,67  
m/ha/năm), AA53 (20,66 m/ha/năm), AA56 (20,29 m/ha/năm) và AA17 (20,24 m/ha/năm). Chỉ có  
3 dòng có dạng thân thẳng đẹp, cành nhánh nhỏ, chiều cao dưới cành lớn và không bị bệnh phấn  
hồng gây hại là AA42, AA53 và AA56. Ngoài ra có 3 dòng có khả năng sinh trưởng tốt là AA34  
(23,0 m/ha/năm), AA23 (21,93 m/ha/năm), AA44 (21,73 m/ha/năm), tuy nhiên 3 dòng này lại có  
dạng thân kém, cành nhánh to và đặc biệt là dòng A23 đang bị bệnh phấn hồng gây hại.  
Như vậy tại khu khảo nghiệm Keo lá tràm tại Long Bình, Đồng Nai đã có 3 dòng Keo lá  
tràm AA42, AA53 và AA56 có tốc độ sinh trưởng nhanh, hình dạng thân thẳng, ít cành nhánh và  
có khả năng chống chịu bệnh phấn hồng, đã được công nhận là giống TBKT cho vùng Đông  
Nam Bộ năm 2015.  
2.1.5. Kết quả nghiên cứu chọn giống Keo tai tượng  
Bảng 5. Sinh trưởng, độ thẳng thân cây và trị số pilodyn của 20 gia đình sinh trưởng tốt nhất  
tại KNHT thế hệ 2 Keo tai tượng tại Ba Vì - Hà Nội (7 tuổi)  
Đường kí nh  
1,3m (cm)  
Chiều cao Thể tí ch thâ n câ y  
Trị số Pilodyn  
Độ vượt  
Năng suất thể tí ch so  
(m/ha/năm) với TBKN  
(%)  
Độ thẳng  
thâ n  
(điểm)  
(m)  
(dm/câ y)  
(mm)  
Gia đình  
D1,3  
V%  
Hvn V%  
V
V%  
Pin  
V%  
127  
81  
21,0  
20,8  
20,6  
20,2  
19,6  
20,0  
20,2  
20,1  
19,5  
19,8  
19,6  
19,9  
19,5  
19,3  
19,7  
18,8  
19,2  
19,6  
19,1  
19,5  
8,8  
8,8  
8,9  
9,1  
9,4  
9,2  
18,7 6,1  
18,0 6,3  
18,7 6,1  
18,3 6,2  
18,1 6,3  
18,5 6,2  
330,2  
321,9  
316,4  
296,0  
294,6  
293,7  
1,3  
1,4  
1,4  
1,5  
1,5  
1,5  
1,7  
1,5  
1,7  
1,5  
1,6  
1,6  
1,3  
1,6  
1,9  
1,6  
1,6  
1,6  
1,6  
1,6  
4,01  
3,44  
3,80  
3,23  
3,74  
3,71  
3,74  
3,54  
3,87  
3,90  
3,94  
3,59  
3,92  
3,08  
3,48  
3,85  
3,41  
3,32  
3,42  
3,64  
3,60  
13,8  
14,4  
13,9  
13,8  
14,5  
12,6  
13,1  
13,6  
13,6  
13,5  
13,9  
14,9  
14,3  
14,9  
14,0  
13,9  
13,4  
15,6  
13,1  
13,4  
7,4  
8,6  
6,9  
4,7  
5,0  
9,4  
7,3  
5,3  
8,3  
7,7  
7,8  
5,5  
8,0  
7,9  
3,5  
6,6  
7,3  
11,7  
4,4  
5,2  
29,48  
28,74  
28,25  
26,42  
26,30  
26,22  
26,06  
25,95  
25,90  
25,87  
25,27  
25,16  
25,01  
25,01  
24,78  
24,71  
24,62  
24,52  
24,35  
24,30  
20,3  
45,2  
41,5  
39,1  
30,1  
29,5  
29,1  
28,3  
27,8  
27,6  
27,4  
24,5  
23,9  
23,2  
23,2  
22,0  
21,7  
21,2  
20,8  
19,9  
19,7  
135  
14  
147  
12  
110  
42  
12,4 17,4 10,9 291,9  
9,1  
9,8  
9,3  
9,4  
9,3  
5,5  
9,5  
17,7 6,4  
18,4 4,2  
18,4 6,2  
18,2 6,3  
17,7 6,4  
18,0 6,3  
17,7 6,4  
290,6  
290,1  
289,7  
283,0  
281,8  
280,2  
280,2  
37  
88  
35  
91  
5
45  
83  
11,5 17,6 10,1 277,5  
138  
60  
9,8  
9,6  
9,4  
9,6  
9,4  
17,7 6,4  
17,3 6,6  
17,7 6,4  
18,0 6,3  
17,4 6,6  
17,0  
276,7  
275,7  
274,7  
272,8  
272,2  
66  
117  
34  
TBKN  
17,9  
227,4  
13,9  
Xá c suất  
Fpr  
< 0,001  
< 0,001  
< 0,001  
< 0,001  
< 0,001  
< 0,001  
(Nguồn: Phí Hồng Hải và cộng sự, 2015).  
38  
Hai mươi gia đình sinh trưởng nhanh nhất về thể tích thân cây trong khảo nghiệm có độ vượt  
từ 19,7% tới 45,2% so với trung bình khảo nghiệm và vượt 127-175% so với gia đình có sinh  
trưởng kém nhất (bảng 5). Năng suất bình quân năm của các gia đình này cũng đạt tới 24,3 tới  
29,5 m/ha/năm mặc dù đất Ba Vì nghèo dinh dưỡng và có hiện tượng đá ong hóa rất mạnh. Giá  
trị chọn giống những gia đình như 127, 135, 110, 37, 88, 35 và 81 đều có giá trị chọn giống cao  
nhất trong khảo nghiệm. Đặc biệt các gia đình 127, 81 và 135 có sinh trưởng vượt trội so với  
nhóm 20 gia đình tốt nhất, với năng suất trung bình đạt trên 28 m/ha/năm.  
Tương tự như tính trạng sinh trưởng, trị số pilodyn biến động cũng khá lớn, từ 11,8 mm đến  
16,1 mm. Nhưng, hệ số biến động của các trị số này trong từng gia đình lại nhỏ, từ 1,9% đến  
12,6%. Các gia đình 12, 110, 42, 37, 88, 60, 117 và 34 là những gia đình có trị số pilodyn thấp  
hơn hẳn so với trị số trung bình vườn giống, như vậy các gia đình này là những gia đình vừa sinh  
trưởng nhanh vừa có khối lượng riêng của gỗ cao.  
Đánh giá về độ thẳng thân cho thấy cây Keo tai tượng trong khảo nghiệm hậu thế Ba Vì có  
độ thẳng thân không cao, với giá trị trung bình chỉ đạt 3,6 điểm. Trong 20 gia đình tốt nhất chỉ có  
12 gia đình có độ thẳng thân cây vượt so với độ thẳng thân trung bình vườn giống. Gia đình có  
độ thẳng thân cây cao hơn so với các gia đình khác là 127, 135, 147, 12, 110, 37, 88, 35, 5 và  
138. Đánh giá thực tế trên hiện trường cho thấy các gia đình 127, 35, 37, 135, 88, 110, 5, 81, 42  
và 91 là những gia đình có thân thẳng đẹp, ít cành và cành nhỏ.  
Như vậy, đánh giá cả bốn chỉ tiêu sinh trưởng, độ thẳng thân và pilodyn cho thấy 7 gia  
đình 127, 35, 37, 135, 81, 88 và 110 là những gia đình vừa sinh trưởng nhanh, thân thẳng và  
khối lượng của gỗ cao. Các gia đình này đã được Hội đồng Bộ Nông nghiệp và PTNT công  
nhận là giống TBKT cho Hà Nội và các lập địa tương tự.  
2.1.6. Nghiên cứu chọn lọc các dòng vô tính bạch đàn lai mới  
Nhóm các loài bạch đàn cũng là một đối tượng trồng rừng chính ở nước ta. Trong những  
năm trước đây do sử dụng giống và kỹ thuật trồng rừng không phù hợp nên năng suất và chất  
lượng rừng trồng bạch đàn rất thấp, bị bệnh nhiều dẫn đến người dân quay lưng với cây bạch  
đàn. Tuy nhiên trong thời gian gần đây, nhu cầu trồng rừng bạch đàn đã bắt đầu tăng mạnh trở  
lại, đặc biệt ở một số tỉnh phía Bắc. Nhằm đáp ứng nhu cầu trồng rừng bạch đàn, nghiên cứu lai  
giống giữa Bạch đàn uro với Bạch đàn pellita và các giống bạch đàn khác đã được thực hiện. Kết  
quả là đã tạo ra hàng chục tổ hợp lai giữa các giống bạch đàn này. Các tổ hợp lai mới có sinh  
trưởng vượt trội từ 20 đến 50% so với các giống bố mẹ cũng như các giống đối chứng U6, PN14  
trên các lập địa ở Ba Vì (Hà Nội), Nam Đàn (Nghệ An), Đông Hà (Quảng Trị) và Bầu Bàng  
(Bình Dương) (Hà Huy Thịnh và cộng sự, 2010). Từ kết quả khảo nghiệm các tổ hợp lai, Viện đã  
tiến hành chọn lọc các cá thể lai tốt nhất trong các khảo nghiệm giống lai và khảo nghiệm dòng  
vô tính nhằm chọn lọc ra những dòng vô tính có sinh trưởng tốt nhất cho trồng rừng. Kết quả  
khảo nghiệm giống lai UP và PB tại Yên Thế, Bắc Giang và Hàm Thuận Nam, Bình Thuận được  
trình bày tại bảng 6.  
39  
Bảng 6. Kết quả khảo nghiệm các dòng Bạch đàn lai UP và PB  
tại Yên Thế, Bắc Giang và Hàm Thuận Nam, Bình Thuận  
Yên Thế, Bắc Giang (3/2011 - 4/2015)  
Hàm Thuận Nam, Bì nh Thuận (8/2011 - 12/2014)  
Hvn Năng suất  
V
V
Năng suất  
Dò ng D1,3 (cm)  
Dò ng  
D1,3 (cm) Hvn (m)  
(m)  
15,4  
14,6  
14,8  
14,3  
14,9  
14,8  
14,7  
15,1  
14,9  
14,8  
...  
(m/câ y) (m/ha/năm)  
(m/câ y)  
0,1053  
0.0753  
0.0823  
0.0963  
0.0896  
0.0756  
0.0744  
0.0856  
0.0869  
0.068  
(m/ha/năm)  
42,4  
38,5  
37,8  
36,6  
36,3  
35,6  
35,5  
30,2  
29,6  
29,5  
27,4  
25,6  
25,3  
.
UP164  
UP138  
UP171  
UP223  
UP180  
UP219  
UP218  
UP239  
UP190  
UP238  
...  
11,5  
11,6  
11,5  
11,6  
11,4  
11,2  
11,0  
11,0  
11,1  
10,8  
...  
0,0816  
0,0799  
0,0785  
0,0782  
0,0774  
0,0767  
0,0740  
0,0740  
0,0740  
0,0693  
...  
33,0  
29,0  
29,3  
32,5  
28,9  
28,6  
20,0  
26,9  
28,4  
25,9  
...  
C9  
PB7  
13,2  
11,5  
11,9  
13  
14,4  
14,3  
15,1  
14,3  
15  
PB48  
UP68BB  
UP69BB  
PB55  
UP75BB  
UP71BB  
C55  
12,4  
11,1  
11,5  
12,1  
11,9  
11,1  
11,3  
10,5  
10,8  
.
15,2  
13,3  
14,3  
14,5  
13,6  
14,8  
13  
U6  
UP50BB  
UP56BB  
C159  
.
0.0743  
0.0668  
0.0623  
.
UP274  
UP173  
UP167  
PN14  
U6  
8,9  
13,7  
13,3  
13,5  
11,9  
10,7  
0,0434  
0,0422  
0,0392  
0,0253  
0,0206  
17,6  
15,3  
13,4  
10,0  
7,1  
8,8  
13,2  
.
8,4  
7,3  
P19  
9,3  
12,4  
9,3  
0.0436  
0.0267  
<0,001  
5,6  
6,6  
PB29  
Fpr  
8,7  
5,6  
Fpr  
<0,001 <0,001 <0,001  
<0,001  
<0,001  
<0,001  
(Nguồn: Hà Huy Thịnh và cộng sự, 2015; Nguyễn Đức Kiên và cộng sự, 2015).  
Kết quả đánh giá sinh trưởng của các dòng vô tính bạch đàn lai tại Yên Thế, Bắc Giang ở  
giai đoạn 4 tuổi cho thấy có sự sai khác rõ rệt giữa các dòng vô tính về tất cả các chỉ tiêu sinh  
trưởng (Fpr<0,001). Đường kính thân cây trung bình toàn thí nghiệm là 10,0 cm, chiều cao và  
thể tích tương ứng là 14,1m và 0,0585 m/cây, tương đương với lượng tăng trưởng đường kính,  
chiều cao và thể tích hàng năm là 2,5 cm, 3,5 m và 0,015 m/cây. Kết quả đánh giá cũng cho thấy  
các công thức đối chứng có sinh trưởng kém trong thí nghiệm, trong đó dòng PN14 và U6 là  
dòng được công nhận giống và được gây trồng nhiều có sinh trưởng kém nhất với thể tích thân  
cây chỉ đạt 0,020 - 0,025 m/cây. Căn cứ vào khoảng sai dị đảm bảo về chỉ tiêu thể tích để phân  
nhóm các dòng vô tính thì nhóm có thể tích thân cây cao nhất có đến 12 dòng. Tuy nhiên trong  
số 12 dòng này có thể phân thành 3 nhóm như sau:  
- Nhóm 1 gồm 2 dòng UP164 và UP223 có năng suất từ 32,5 đến 33 m/ha/năm  
- Nhóm 2 gồm các dòng UP171, UP180, UP219, UP190, UP153 và UP236 có năng suất từ  
27,7 đến 29,3 m/ha/năm.  
- Nhóm 3 gồm các dòng UP238 và UP239 có năng suất từ 25,9 đến 26,9 m/ha/năm.  
Từ kết quả khảo nghiệm dòng vô tính bạch đàn lai tại Bắc giang, năm 2015 Viện nghiên cứu  
Giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp đã đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn  
công nhận giống và đã công nhận được 07 giống là giống tiến bộ kỹ thuật gồm: UP153, UP164,  
UP171, UP180, UP190, UP223 và UP236.  
40  
Hình 3. Dòng PB7 (trái) và PB48 (phải) 4 năm tuổi tại Hàm Thuận Nam, Bình Thuận  
đạt năng suất 38 m/ha/năm (Ảnh: Nguyễn Đức Kiên)  
Tại Hàm Thuận Nam, Bình Thuận, kết quả đánh giá ở giai đoạn 40 tháng tuổi cho thấy có sự  
sai khác rất rõ rệt về các chỉ tiêu sinh trưởng giữa các dòng vô tính. Có thể thấy dòng C9 là giống  
được công nhận TBKT vẫn duy trì khả năng sinh trưởng cao nhất. Hầu hết các dòng đối chứng  
đều có sinh trưởng trong nhóm tốt đến trung bình. Từ kết quả đánh giá khảo nghiệm dòng vô  
tính bạch đàn lai tại Hàm Thuận Nam, Bình Thuận, năm 2015 Viện đã đề nghị Bộ Nông nghiệp  
và Phát triển nông thôn công nhận giống và đã công nhận được 06 giống bạch đàn lai mới là  
giống tiến bộ kỹ thuật gồm các giống: PB7, PB48, PB55, UP68BB, UP69BB và UP75BB. Đây  
là các giống có năng suất cao và chất lượng tốt đáp ứng cho trồng rừng sản xuất.  
Khảo nghiệm dòng vô tính bạch đàn lai tại Cà Mau  
Tham gia khảo nghiệm ở Kinh Đứng Cà Mau bao gồm 26 dòng bạch đàn lai và 2 giống đối  
chứng là UE3 và PN3d. Kết quả đánh giá ở giai đoạn 3 tuổi cho thấy có sự sai khác rõ rệt về các  
chỉ tiêu sinh trưởng giữa các dòng vô tính. Trong đó, dòng bạch đàn lai là TU104 và UG24 có  
sinh trưởng nhanh nhất với tăng trưởng bình quân về đường kính đạt 5 cm/năm, năng suất đạt  
40,7 m/ha/năm và 33,9 m/ha/năm; tiếp đến là các dòng bạch đàn lai là UC61, CU98, CU82,  
UG55, UC51, TP12, TP13, TP28, CU52, CP2 US53, TU10, UU55, UT64 có tăng tăng bình quân  
đường kính đạt trên 4 cm với năng suất đạt tương ứng từ 27,5 - 41,0 m/ha/năm, trong khi đó  
dòng đối chứng PN3d chỉ đạt 21,6 m/ha/năm. Như vậy, có 17 dòng lai có sinh trưởng nhanh,  
năng suất vượt giống đối chứng PN3d từ 27% đến 123%. Từ kết quả đánh giá khảo nghiệm dòng  
vô tính bạch đàn lai tại Kinh Đứng, Cà Mau, năm 2015 Viện đã đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát  
triển nông thôn công nhận giống và đã công nhận được 3 giống quốc gia là UG24, CU98, CU82  
và 3 giống tiến bộ kỹ thuật là UG55, TU104, TP12 cho vùng Cà Mau và những nơi có điều kiện  
sinh thái tương tự.  
41  
Bảng 7. Sinh trưởng bạch đàn lai tuổi 3 tại Kinh Đứng, Cà Mau (8/2012-9/2015)  
Thể tí ch thâ n câ y  
Năng suất  
(m/ha/năm)  
1.250 câ y/ha  
D1,3 (cm)  
Hvn (m)  
Tỷ lệ sống  
(dm/câ y)  
STT  
Tên dò ng  
(%)  
TB  
V%  
15,3  
20,0  
12,0  
9,8  
TB  
V%  
12,6  
14,8  
7,1  
TB  
112,8  
123,0  
136,0  
111,8  
90,1  
98,9  
86,2  
144,5  
105,4  
94,0  
82,6  
97,8  
...  
V%  
7,0  
7,0  
5,7  
6,3  
8,2  
6,6  
8,4  
4,4  
7,0  
7,9  
6,9  
7,5  
...  
1
2
CU98  
UC61  
TU104  
CU82  
UUU63  
TP12  
CP2  
13,8  
13,8  
14,9  
13,8  
12,6  
13,3  
12,3  
15,0  
13,3  
12,9  
12,3  
13,1  
...  
14,1  
13,5  
14,8  
14,4  
13,3  
13,8  
13,5  
15,4  
14,3  
13,7  
13,5  
13,6  
...  
44,1  
43,2  
40,7  
37,8  
35,2  
34,8  
34,8  
33,9  
31,6  
30,6  
30,1  
29,3  
...  
93,8  
84,4  
71,9  
81,3  
93,8  
84,4  
96,9  
56,3  
71,9  
78,1  
87,5  
71,9  
...  
3
4
6,5  
5
15,3  
8,7  
11,8  
8,4  
6
7
14,5  
7,8  
10,9  
5,6  
8
UG24  
UG55  
TP28  
UT64  
TP13  
...  
9
13,1  
15,3  
6,7  
5,8  
10  
11  
12  
...  
27  
25  
9,6  
3,5  
12,4  
...  
10,6  
...  
UT89  
PN3d  
9,9  
14,8  
14,9  
12  
15,5  
10,2  
51  
12,6  
10,8  
14,6  
21,6  
27,2  
68,8  
18,8  
74,1  
10,9  
13,3  
64,8  
TB  
12,4  
13,3  
87,9  
Fpr  
Lsd  
<0,001  
1,92  
<0,001  
1,67  
<0,001  
34,99  
(Nguyễn Việt Cường và cộng sự, 2015).  
Hình 4. Dòng CU98 (trái) và Dòng UG24 (phải) 3 năm tuổi tại Kinh Đứng, Cà Mau  
đạt năng suất 44,1 m/ha/năm và 33,9 m/ha/năm (Ảnh: Nguyễn Việt Cường)  
42  
Kết quả khảo nghiệm giống Bạch đàn uro của Viện nghiên cứu Cây nguyên liệu giấy  
Trong giai đoạn 2011 - 2020, bên cạnh các nghiên cứu chọn giống bạch đàn do Viện nghiên  
cứu Giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp tiến hành thì Viện nghiên cứu Cây nguyên liệu  
giấy thuộc Tổng công ty Giấy cũng đã có những nghiên cứu chọn giống Bạch đàn uro phục vụ  
trồng rừng nguyên liệu và đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận 5 giống  
Bạch đàn gồm CT3, CTIV, PN54, PN108 và PN24 là giống tiến bộ kỹ thuật. Dưới đây là kết quả  
khảo nghiệm một số giống này trên một số lập địa.  
Bảng 8. Kết quả khảo nghiệm một số giống Bạch đàn tại Lạng Sơn và Phú Thọ  
ở giai đoạn 7 năm tuổi  
Hữu Lũng, Lạng Sơn  
Tiên Kiên, Phú Thọ  
Giống  
Bạch đàn  
D1,3  
(cm)  
Hvn  
(m)  
Vc  
(m)  
M
(m/ha)  
Giống  
Bạch đàn  
D1,3  
(cm)  
Hvn  
(m)  
Vc  
(m)  
M
(m/ha)  
PN54  
PN108  
PN14  
PN21  
PN116  
PN24  
Sig  
14,8  
15,0  
14,0  
14,5  
12,9  
16,0  
***  
18,3  
17,7  
17,7  
18,3  
19,7  
18,3  
***  
0,186  
0,186  
0,163  
0,176  
0,147  
0,214  
***  
165,4  
142,6  
139,5  
113,3  
107,8  
99,8  
PN108  
PN24  
PN14  
PN54  
PN116  
14,9  
12,6  
13,1  
12,6  
10,4  
21,0  
19,7  
18,3  
19,5  
18,5  
0,213  
0,148  
0,145  
0,151  
0,092  
186,8  
182,5  
174,0  
153,6  
113,4  
***  
Sig  
***  
***  
***  
***  
***: sai khác có Fpr < 0.001  
(Nguồn: Viện nghiên cứu Cây nguyên liệu giấy, 2015).  
Kết quả đánh giá ở giai đoạn 7 năm tuổi tại Tiên Kiên và Hữu Lũng cho thấy các dòng  
PN54, PN108 và PN24 có sinh trưởng vượt trội so với giống PN14 và PN116 là những giống đã  
được công nhận giai đoạn trước. Các giống này đạt năng suất từ 20 đến 27 m/ha/năm đồng thời  
có tỷ lệ cây có sức sống tốt, thân thẳng và cành nhỏ trên 90% (Viện nghiên cứu Cây nguyên liệu  
giấy, 2015).  
2.1.8. Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống các loài cây bản địa lấy gỗ  
Từ năm 2010 đến nay, thông qua các đề tài nghiên cứu, đã có tổng cộng 24 loài cây bản địa  
được nghiên cứu chọn giống. Các nghiên cứu chọn giống cây bản địa trong giai đoạn này mới  
chỉ ở bước đầu, tập trung chủ yếu vào chọn lọc cây trội và xây dựng các khảo nghiệm giống, kỹ  
thuật tạo cây con, chế biến và bảo quản hạt giống làm cơ sở cho nghiên cứu cải thiện giống ở  
giai đoạn cao hơn. Tổng cộng đã chọn lọc được hơn 1.300 cây trội và đã xây dựng được 90 ha  
khảo nghiệm giống các loài cây bản địa. Đây là nguồn vật liệu giống hết sức quan trọng cho  
nghiên cứu cải thiện giống. Tuy nhiên, hầu hết các đề tài nghiên cứu cây bản địa mới chỉ đươc  
thực hiện trong 5 năm mà không được đầu tư tiếp tục nên việc quản lý bảo vệ hệ thống cây trội  
và khảo nghiệm giống này gặp rất nhiều khó khăn.  
2.1.9. Kết quả nghiên cứu chọn giống các loài cây lâm sản ngoài gỗ  
Trong giai đoạn 2011 - 2020, công tác nghiên cứu cải thiện giống cây lâm sản ngoài gỗ  
(LSNG) đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng. Tổng cộng đã có 34 giống của 5 loài được  
công nhận. Trong đó, Mắc ca có 13 dòng vô tính, Tràm năm gân có 12 dòng vô tính, Tràm trà có  
6 dòng vô tính và 2 gia đình, Sa nhân tím có 1 xuất xứ (bảng 9).  
43  
Bảng 9. Giống của các loài LSNG đã được công nhận giai đoạn 2011-2020  
STT  
Loài câ y  
Số lượng  
Giống  
1
13 dò ng  
OC, Daddow, 246, 816, 842, 849, 695, 741, 800, 900, A16, A38, QN1  
Mắc ca  
Q4.50; Q4.19’; Q4.40; Q23.127; Q23.21; Q23.315; Q15.38; Q15.013;  
Q16.427.  
2
Tràm năm gân  
12 dò ng  
06 dò ng  
2 gia đình  
01 xuất xứ  
A36.217; A32.23; A38.317; A66.218; A38.39; A38.124.  
A9; A10.  
Xuất xứ Sơn Long  
3
5
Tràm trà  
Sa nhâ n tí m  
Các giống Mắc ca được công nhận đều có năng suất hạt cao, trên các lập địa phù hợp ở vùng  
Tây Bắc và Tây Nguyên có thể đạt từ 8 - 10 kg/cây ở giai đoạn 6 tuổi và từ 15 đến 20 kg/cây ở  
giai đoạn 8-10 tuổi (Viện nghiên cứu giống và CNSH Lâm nghiệp, 2018).  
Xuất xứ Sa nhân tím Sơn Long được khảo nghiệm tại Hoành Bồ, Quảng Ninh có hệ số đẻ  
nhánh cao nhất, đạt 2,5 nhánh con/nhánh mẹ ở giai đoạn 28 tháng tuổi và cho năng suất hạt đạt  
456 kg/ha, vượt 78 đến 179% so với các xuất xứ khác. Hàm lượng tinh dầu trong hạt Sa nhân tím  
đạt 3,1%, cao nhất so với các xuất xứ khác và đạt tiêu chuẩn làm dược liệu của Việt Nam (Phan  
Văn Thắng và cộng sự, 2018).  
Ngoài ra, các nhiệm vụ khai thác phát triển nguồn gen thực hiện trong giai đoạn 2013-2019  
cũng tiến hành chọn lọc cây trội, nhân giống và khảo nghiệm các gia đình và các dòng vô tính,  
nhưng chưa công nhận các giống TBKT. Đây cũng là nguồn giống đã được cải thiện ở một mức độ  
nhất định, cần phải đưa vào để phát triển trong giai đoạn trước mắt.  
Dự án Giống cấp Bộ thực hiện tại Trung tâm Nghiên cứu Lâm sản ngoài gỗ giai đoạn 2011-  
2016 về nâng cao chất lượng giống một số loài cây gỗ bản địa và cây LSNG có giá trị. Trong đó  
có 6 loài cây LSNG gồm: Giổi ăn hạt (Michelia tonkinensis), Hồi (Illicium verum), Sa nhân tím  
(Amomum longiligulare), Thảo quả (Amomum aromaticum), Cọ khiết (Dalbergia hupeana) và  
Sở (Camellia sasanqua). Kết quả đã chọn được số lượng cây trội đủ lớn cho các loài cây LSNG  
gồm: 60 cây trội Giổi ăn hạt, 80 cây trội Hồi, 80 cây trội Thảo quả. Thu thập được 60 lô hạt  
giống Hồi, 55 lô hạt giống Thảo quả, 55 lô hạt giống Giổi ăn hạt, 50 lô hạt giống Sa nhân tím, 30  
lô hạt giống Cọ khiết và 20 lô hạt giống Sở. Đồng thời đã xây dựng được hệ thống các khu rừng  
giống, vườn giống và vườn sưu tập giống cho các loài cây LSNG.  
Hình 5. Khảo nghiệm Mắc ca ở tuổi 7 tại K’Bang - Gia Lai (Ảnh: Nguyễn Đức Kiên)  
44  
2.2. Nghiên cứu nhân giống cho các giống mới chọn tạo và tập huấn chuyển giao kỹ thuật  
Đối với các loài cây trồng rừng chủ yếu như các loài keo và bạch đàn nuôi cấy mô cũng là  
phương pháp được áp dụng rộng rãi để phát triển các giống được cải thiện vào sản xuất. Song song  
với nghiên cứu chọn lọc các dòng keo và bạch đàn mới cho trồng rừng thì nghiên cứu nhân  
giống sinh dưỡng bằng nuôi cấy mô và giâm hom cũng đã được chú trọng. Cho đến nay hầu hết  
tất cả các giống được công nhận đều đã có quy trình nhân giống bằng nuôi cấy mô và giâm hom  
đi kèm.  
Bắt đầu được nghiên cứu từ năm 1995 bởi tác giả Nguyễn Ngọc Tân và cộng sự, quy trình nhân  
giống bằng nuôi cấy mô và giâm hom cho các dòng keo lai và bạch đàn có năng suất chất lượng cao  
đã được xây dựng và hoàn thiện. Trong giai đoạn, 2003-2016 hàng loạt các quy trình nhân giống cho  
các giống keo và bạch đàn mới chọn lọc đã được Viện nghiên cứu Giống và Công nghệ sinh học  
Lâm nghiệp phát triển (Đoàn Thị Mai và cộng sự, 2000; Đoàn Thị Mai và cộng sự, 2003; Đoàn Thị  
Mai, Lê Sơn và cộng sự, 2011, Lê Sơn và cộng sự, 2013, Cấn Thị Lan và cộng sự, 2016). Bên cạnh  
đó, các nghiên cứu nhân nhanh một số loài cây thân gỗ khác (Tếch, Trầm gió, Thông, Hông, Xoan  
ta, Lát hoa) cũng đã được thực hiện ( Đoàn Thị Mai và cộng sự 2005; Đoàn Thị Mai, Lê Sơn và  
cộng sự, 2011).  
Từ năm 2011 đến nay, Viện đã tiến hành chuyển giao giống và công nghệ nhân giống mô-  
hom cho nhiều cơ sở sản xuất và nghiên cứu trên khắp cả nước. Có thể kể đến một số cơ sở nhân  
giống và trồng rừng hàng đầu như Công ty Cổ phần Giống lâm nghiệp vùng Nam Bộ, Công ty  
Lâm nghiệp Quy Nhơn, Công ty Cổ phần Giống Nguyên Hạnh, các công ty giống và trồng  
rừng ở các tỉnh Thừa Thiên - Huế, Quảng Bình, Phú Thọ, Quảng Ninh, Nghệ An, Thanh Hóa,  
Tuyên Quang, Hòa Bình... và các Trung tâm vùng thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt  
Nam. Đến nay các cơ sở nhận chuyển giao đều đã có khả năng nhân giống ở các quy mô khác  
nhau. Một số đơn vị như Công ty Giống Lâm nghiệp Nam Bộ, Công ty Dịch vụ cây trồng  
Nguyên Hạnh... đã có thể sản xuất hàng triệu cây giống/năm từ công nghệ mô - hom để cung  
cấp cho trồng rừng kinh tế.  
Bên cạnh việc chuyển giao công nghệ cho các cơ sở nghiên cứu và sản xuất, từ năm 2011  
đến nay, hàng năm Viện đã sản xuất và cung cấp gần 2,5 triệu cây mô đầu dòng keo và bạch đàn  
và trên 4.000 bình giống được phục tráng trên cho các nhà mô và vườn ươm trên cả nước làm vật  
liệu nhân giống.  
2.3. Ứng dụng công nghệ gen và sinh học phân tử trong chọn tạo giống  
2.3.1. Nghiên cứu chọn giống bằng công nghệ chuyển gen  
Nghiên cứu chuyển gen cây lâm nghiệp bắt đầu được Viện nghiên cứu Giống và Công nghệ  
sinh học Lâm nghiệp tiến hành từ những năm 2010 với các nghiên cứu chủ yếu về chuyển gen  
làm tăng chiều dài sợi gỗ cho bạch đàn. Bạch đàn chuyển gen tăng chiều dài sợi gỗ (EcHb1) đã  
được Trần Hồ Quang và cộng sự thực hiện trong khuôn khổ Đề tài “Nghiên cứu tạo giống bạch  
đàn lai biến đổi gen cho chiều dài sợi gỗ” ở trong giai đoạn 2011-2015. Các tác giả đã xây dựng  
cấu trúc vector GWB2/35S/EcHB1/NOS mang gen mục tiêu EcHB1 và gen chọn lọc HPT  
(kháng Hygromicin) và nptII (kháng Kanamycin). Hoạt động của gen EcHB1 được điều khiển  
bởi promoter CaMV35S. Cấu trúc vector pGWB2/35S/EcHB1/NOS biểu hiện tốt trên cây thuốc  
lá chuyển gen với sinh trưởng cao hơn gấp 1,8 lần và sợi gỗ dài hơn 1,2 lần so với cây đối chứng  
sau 3 tháng trồng tại vườn ươm. Đề tài cũng đã xây dựng được quy trình chuyển gen EcHB1 làm  
tăng chiều dài sợi gỗ với hiệu suất chuyển gen đạt 1,06%. Đã tạo được 19 dòng Bạch đàn lai UU  
chuyển gen mang gen mục tiêu EcHB1 được xác định bằng phương pháp PCR, cây chuyển gen  
45  
có hình thái bình thường và sinh trưởng nhanh hơn cây đối chứng. Số lượng mạch gỗ, tia gỗ và  
chiều dài sợi gỗ dài hơn cây đối chứng tương ứng là 15%, 27% và 1,5%. Hàm lượng lignin trong  
cây chuyển gen E1 ít hơn cây đối chứng 2,3%.  
Hiện nay, nghiên cứu chuyển gen EcHB1 tiếp tục được Viện triển khai trong giai đoạn  
2017-2020 với đối tượng là các dòng Bạch đàn lai UP đã được công nhận là giống tiến bộ kỹ  
thuật. Viện đã xây dựng được cấu trúc vector pCB301/EcHB1 mới và Quy trình chuyển gen  
cho các dòng Bạch đàn lai UP với hiệu suất chuyển gen đạt xấp xỉ 3% (Trần Thị Thu Hà và  
cộng sự, 2019). Qua đó, đã tạo được trên 100 các dòng bạch đàn chuyển gen và đã đưa ra trồng  
khảo nghiệm tại hiện trường để đánh giá khả năng sinh trưởng cũng như chiều dài sợi gỗ của  
các dòng này.  
2.3.2. Nghiên cứu chọn giống ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn giống cây rừng  
Ứng dụng các chỉ thị phân tử trong nghiên cứu chọn giống các loài keo đã được Viện  
nghiên cứu Giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp bắt đầu triển khai từ năm 2001 với  
nghiên cứu sử dụng các chỉ thị vi vệ tinh (SSR) để xác định tỷ lệ tự thụ phấn ở 6 vườn giống  
Keo tai tượng và ảnh hưởng của hiện tượng này đến sinh trưởng của cây con trên hiện trường  
(Harwood và cộng sự, 2004). Kết quả nghiên cứu cho thấy các cây con từ hạt thu từ các vườn  
giống với các xuất xứ Papua New Giunea có tỷ lệ thụ phấn chéo cao có sinh trưởng tốt nhất.  
Các cây hạt thu được từ vườn giống có xuất xứ từ Queensland có tỷ lệ tự thụ phấn 51% và sinh  
trưởng thấp nhất. Các cây con từ tự thụ phấn cao có sinh trưởng thấp hơn 15% về chiều cao và  
16% về đường kính ngang ngực so với các cây con từ thụ phấn chéo tại các khảo nghiệm 18  
tháng tuổi. Kết quả nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của việc giảm tỷ lệ tự thụ phấn trong  
các vườn giống Keo tai tượng (Harwood và công sự, 2004).  
Các nghiên cứu sử dụng chỉ thị phân tử trong hỗ trợ chọn giống (MAS- Marker assisted  
Selection) bắt đầu được Viện nghiên cứu Giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp thực hiện  
trong giai đoạn 2010-2020 với đối tượng chủ yếu là keo lai và bạch đàn. Hướng đi chính của các  
nghiên cứu này là xác định các chỉ thị phân tử có tương quan đến tính trạng sinh trưởng (Trần Hồ  
Quang và cộng sự, 2011, Hà Huy Thịnh và cộng sự, 2016, Nguyễn Việt Cường và cộng sự, 2016)  
và kháng bệnh (Trần Thanh Trăng và cộng sự, 2013).  
Qua nghiên cứu, các tác giả đã chọn lọc được một số chỉ thị SSR có tương quan đến tính  
trạng sinh trưởng nhanh ở keo lai và tính kháng bệnh trên lá của bạch đàn trắng. Trong đó, 21 chỉ  
thị SSR hoạt động ổn định trên keo lai và 2 loài bố mẹ và có tương quan đến tính trạng sinh  
trưởng. Một số dòng keo lai có tiềm năng sinh trưởng nhanh được sàng lọc bằng các chỉ thị này  
từ quần thể chọn giống qua khảo nghiệm dòng vô tính cho khả năng sinh trưởng tốt trên hiện  
trường thí nghiệm. Một kết quả đáng ghi nhận là đã tạo được một số dòng keo lai có sinh trưởng  
nhanh và đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật để đưa vào  
trồng rừng sản xuất.  
Hiện nay, để bắt kịp xu thế nghiên cứu về chỉ thị phân tử trên thế giới trong nghiên cứu cải  
thiện giống cây lâm nghiệp, Viện đã bắt đầu triển khai các nghiên cứu ứng dụng các chỉ thị SNPs  
(là chỉ thị có nhiều ưu việt hơn so với các chỉ thị khác như: (1) có tần suất phát hiện rất cao -  
thường là tỷ lệ 1/1000 Nucleotide - do đó dễ phát triển với số lượng lớn và giá thành rẻ, (2) các  
chỉ thị SNP xuất hiện ở vùng gen mã hóa có khả năng tương quan trực tiếp đến các tính trạng  
quan tâm) cũng như phương pháp chọn giống mới (chọn giống trên kiểu gen - Genomic  
Selection) trong nghiên cứu chọn giống keo lai sinh trưởng nhanh và có sức chống chịu với các  
điều kiện bất lợi.  
46  
2.4. Nghiên cứu bảo tồn và phát triển nguồn gen các loài cây quý hiếm  
Bảo tồn nguồn gen cây rừng là một nhiệm vụ nghiên cứu hết sức quan trọng nhằm bảo tồn  
và phát triển các nguồn gen quý hiếm. Trong thời gian vừa qua công tác bảo tồn nguồn gen cây  
rừng đã đạt được các kết quả như sau:  
- Điều tra, khảo sát: Đã xác định chính xác thực trạng và khu phân bố của 53 loài cây lá kim; 42  
loài thuộc 6 chi Dầu; 216 loài/phân loài của 25 chi Tre trúc; 40 loài cây lá rộng khác.  
- Thu thập nguồn gen: Đã thu thập 1.189 nguồn gen cho 127 loài, mẫu hạt giống của 67 loài  
cây bản địa  
- Lưu trữ nguồn gen:  
+ Ngân hàng gen hạt giống: 3.818 xuất xứ và lô hạt cá thể (nguồn gen), trong đó có 744 lô  
hạt cá thể của 102 xuất xứ thuộc 83 loài cây bản địa, quý hiếm và/hoặc có giá trị kinh tế.  
+ Ngân hàng gen hiện trường: 104 ha rừng trồng bảo tồn cho 127 loài, tại Cầu Hai - Phú  
Thọ, Lương Thịnh - Yên Bái; Măng Linh - Lâm Đồng, Đakplao - Đắk Nông, Bình Thuận, Bầu  
Bàng - Bình Dương, Cát Tiên - Đồng Nai và Cà Mau. Đã trồng bổ sung 20 loài mới cho Vườn  
thực vật Cầu Hai; 93 loài cho Vườn thực vật Trảng Bom.  
+ Vườn thực vật: 107 ha.  
- Đánh giá đặc điểm lâm học, đặc điểm sinh lý hạt giống: cho 47 loài cây.  
- Đánh giá di truyền nguồn gen: cho 17 loài thuộc 6 chi họ Dầu; các xuất xứ và cá thể cho  
Giáng hương quả to, Dầu đọt tím, Gụ mật, Thông hai lá dẹt, Lim xanh; Giổi xanh; Pơ mu; Bách  
xanh và Bách xanh đá; Chò chỉ; Gõ đỏ, Giổi xương và Sao lá hình tim.  
- Tư liệu hóa: Xuất bản 7 cuốn Atlas cây rừng Việt Nam với 800 loài; 01 sách chuyên khảo  
về công tác bảo tồn nguồn gen cây rừng; 01 cơ sở dữ liệu tài nguyên thực vật rừng cho 196 loài  
- Khai thác phát triển nguồn gen: Đã và đang thực hiện cho 19 loài cây bản địa có giá trị  
kinh tế cao, như Sở, Quế thanh, Quế trà mi, Sâm lai châu, Trám đen, Ươi, Dẻ bắc giang, Óc chó,  
Mây chỉ, Song bột, Xoay, Giổi xanh, Giổi ăn hạt, Trà hoa vàng, Vù hương, Tre ngọt, Lùng,  
Hoàng đàn chi lăng, Thiết san giả lá ngắn, Tơm trơng và Huyết đằng lông.  
2.5. Tập hợp nguồn giống và xây dựng các vườn giống  
Bên cạnh việc phát triển rừng trồng dòng vô tính các loài keo lai, Keo lá tràm và bạch đàn lai  
thì việc xây dựng các vườn giống và quần thể chọn giống là hết sức cần thiết nhằm tiếp tục chọn  
lọc các giống mới phục vụ sản xuất. Một số loài cây trồng rừng chủ lực như Keo tai tượng và  
Keo lá liềm rất khó nhân giống bằng hom nên chủ yếu nhân giống bằng hạt. Cho đến nay mặc dù  
đã có một số vườn giống Keo tai tượng được xây dựng nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu của  
sản xuất, vì vậy hàng năm nước ta vẫn phải nhập một khối lượng lớn hạt giống từ các xuất xứ  
nguyên sản để phục vụ trồng rừng. Vì vậy, trong thời gian vừa qua song song với công tác chọn  
tạo các dòng vô tính thì Viện đã và đang tiếp tục đẩy mạnh xây dựng các vườn giống để cung  
cấp hạt giống phục vụ sản xuất và làm nền tảng cho nghiên cứu cải thiện giống.  
Cho đến nay, thông qua các đề tài và dự án, Viện đã xây dựng gần 200 ha vườn giống các  
loài Keo tai tượng, Keo lá tràm, Keo lá liềm, Bạch đàn uro, Bạch đàn pellita... Trong số đó đã có  
gần 30 vườn giống được công nhận đủ điều kiện sản xuất hạt giống phục vụ trồng rừng. Các  
vườn giống này đều có tính đa dạng di truyền cao và đã bước đầu cung cấp hạt giống cho nghiên  
cứu và sản xuất. Rừng trồng từ nguồn hạt giống được cải thiện trong các vườn giống của Keo lá  
47  
tràm và Keo tai tượng có năng suất vượt 20 - 40% so với xuất xứ tốt nhất và vượt 60 - 200% so  
với giống cây hạt đại trà (Hà Huy Thịnh và cộng sự, 2010).  
III. ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN GIỐNG GIAI ĐOẠN 2021 - 2030  
Nghiên cứu cải thiện giống cây lâm nghiệp là một quá trình lâu dài và liên tục và luôn phải  
đi trước công tác trồng rừng một bước, đồng thời có sự kế thừa qua các giai đoạn, các thế hệ,  
qua mỗi thế hệ có sự cải thiện tốt hơn so với thế hệ trước. Trong bối cảnh ngành lâm nghiệp  
của nước ta đang có sự phát triển vượt bậc, nghành chế biến gỗ xuất khẩu đã trở thành ngành  
kinh tế quan trọng với nhu cầu về gỗ rừng trồng chất lượng gỗ tốt ngày càng cao do đó yêu cầu  
về giống được cải thiện ngày càng lớn. Trên cơ sở các nguồn lực hiện có, mức độ cải thiện đã  
tiến hành cho từng nhóm đối tượng, cần có các định hướng khác nhau cho các nhóm loài cây,  
cụ thể như sau:  
- Nhóm các loài cây nhập nội, mọc nhanh:  
Đây là nhóm loài cây trồng rừng chủ lực, đã được nghiên cứu cải thiện qua một số thế hệ, đã  
đạt được nhiều thành tựu về giống, có nền tảng di truyền phong phú, có chiến lược cải thiện  
giống tương đối rõ ràng. Vì vậy các định hướng trong giai đoạn tới đối với nhóm loài này là:  
+ Trên cơ sở bộ giống đã được công nhận, cần tiến hành khảo nghiệm mở rộng cho các  
giống được chọn tạo nhằm đánh giá một cách toàn diện tiềm năng của các giống này trên quy mô  
sản xuất và xúc tiến chuyển giao các giống mới cho các cơ sở sản xuất.  
+ Tiếp tục các nghiên cứu chọn tạo giống mới, ưu tiên chọn lọc các giống có năng suất cao  
và chất lượng gỗ tốt thông qua các con đường chọn giống truyền thống, lai tạo và đột biến.  
+ Chú trọng nghiên cứu chọn giống kháng bệnh, đặc biệt là bệnh chết héo do nấm  
Ceratocytis, bệnh thối rễ, mục ruột do nấm Garnoderma gây ra trên các loài keo.  
+ Nghiên cứu hoàn thiện các quy trình nhân giống sinh dưỡng bằng công nghệ mô-hom cho  
các giống có triển vọng, tiếp tục nghiên cứu cải tiến công nghệ theo hướng nâng cao hơn nữa sản  
lượng cây giống và giảm giá thành cây giống nhân bằng nuôi cấy mô.  
+ Ứng dụng các tiến bộ công nghệ sinh học, công nghệ đa bội thể, chỉ thị phân tử và công  
nghệ gen trong nghiên cứu chọn tạo giống. Đây là các nghiên cứu mang tính lâu dài, cần được  
đầu tư có bài bản có trọng điểm, ví dụ công nghệ gen cần đi theo hướng phân lập các gen chức  
năng, giải trình tự và đăng ký bảo hộ để từ đó đưa vào ứng dụng trong nghiên cứu chọn tạo  
giống mới.  
+ Nghiên cứu chọn lọc các giống cho trồng rừng gỗ lớn ở các vùng cao  
- Nhóm các loài cây bản địa:  
Đây là nhóm các loài cây chưa được nghiên cứu một cách bài bản, không có (hoặc rất ít)  
rừng giống hoặc vườn giống được công nhận, chưa có các quần thể chọn giống, các hiểu biết về  
sinh học còn hạn chế. Vì vậy, định hướng nghiên cứu đối với nhóm loài cây này là:  
+ Ưu tiên chọn 1 - 2 loài cho mỗi vùng sinh thái có khả năng trồng cây bản địa cung cấp gỗ  
lớn (Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên).  
+ Tập trung thu thập các nguồn gen nhằm nâng cao tính đa dạng di truyền của loài cây  
nghiên cứu ở cả cấp độ xuất xứ và cá thể từ đó tạo ra quần thể chọn giống ban đầu có mức độ đa  
di truyền cần thiết phục vụ nghiên cứu chọn tạo giống trong tương lai.  
+ Nghiên cứu xây dựng các vườn giống và rừng giống từ các gia đình cây trội đã được chọn  
lọc để cung cấp giống cho sản xuất.  
48  
IV. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ  
Từ các kết quả nghiên cứu và chuyển giao đã thực hiện trong giai đoạn vừa qua có thể thấy  
công tác nghiên cứu cải thiện giống cây rừng đã đi đúng hướng, kế thừa và phát huy hiệu quả  
các kết quả nghiên cứu của giai đoạn trước. Các nghiên cứu cải thiện giống đã gắn liền với nhu  
cầu của thực tế sản xuất và do đó các giống mới được đưa ra đã được sản xuất đón nhận.  
Nghiên cứu nhân giống sinh dưỡng bằng nuôi cấy mô và giâm hom cũng đã được tiến hành  
song song với nghiên cứu chọn tạo giống do đó các giống mới đã đi vào và phát huy hiệu quả  
trong sản xuất. Công tác chuyển giao giống và công nghệ nhân giống cũng đã được tiến hành  
thành công, các cơ sở tiếp nhận chuyển giao đã từng bước nhân giống thành công và phát triển  
mạnh trong sản xuất.  
Để phát triển rừng trồng bền vững, từng bước nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng các  
loài cây mọc nhanh phục vụ mục tiêu tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, trong thời gian tới cần tiếp tục  
đẩy mạnh công tác nghiên cứu và chuyển giao giống vào sản xuất, và tăng cường công tác quản lý  
chất lượng giống, cụ thể như sau:  
- Tiếp tục đầu tư nghiên cứu chọn tạo giống và nhân giống các loài cây mọc nhanh phục vụ  
trồng rừng kinh tế, trong đó chú trọng hơn nữa đến nâng cao khả năng chống chịu sâu bệnh hại,  
chống chịu gió bão và nâng cao chất lượng gỗ phục vụ trồng rừng gỗ lớn.  
- Tăng cường công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nhân giống mô-hom vào sản xuất, đặc  
biệt là các giống mới chọn tạo.  
- Các địa phương và doanh nghiệp phối hợp chặt chẽ với Viện để xây dựng các mô hình trình  
diễn giống mới, khảo nghiệm mở rộng giống từ đó chọn lọc ra các giống thực sự phù hợp với địa  
phương mình để phát triển vào sản xuất.  
- Các địa phương và doanh nghiệp tăng cường công tác xây dựng các vườn giống mới sử  
dụng các giống đã qua chọn tạo của các loài Keo tai tượng và Keo lá liềm của Viện để từng bước  
chủ động trong cung ứng hạt giống chất lượng cao phục vụ trồng rừng, tránh lệ thuộc vào nguồn  
giống nhập nội từ nơi nguyên sản hiện đang được khai thác cạn kiệt.  
- Tăng cường quản lý chất lượng cây giống: Giám sát chặt chẽ chất lượng cây giống theo  
các tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) đã ban hành, trong đó cần quản lý chặt chẽ nguồn giống gốc  
để làm vườn cây đầu dòng và bình giống gốc cũng như nguồn gốc hạt giống. Khuyến cáo các  
địa phương lấy cây giống gốc, bình giống gốc từ các cơ sở nghiên cứu để đảm bảo chất lượng  
cũng như hạt giống từ các nguồn giống được công nhận và thu hái theo đúng quy trình.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Harwood, CE, et al. (2004). “The effect of inbreeding on early growth of Acacia mangium in Vietnam”, Silvae  
Genetica. 53(2), pp. 65-68.  
2. Nghiêm Quỳnh Chi và các cộng tác viên, 2019. Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống Keo tam  
bội sinh trưởng nhanh phục vụ trồng rừng gỗ lớn”. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.  
3. Nguyễn Việt Cường và các cộng tác viên, 2016. Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống Bạch đàn  
lai bằng chỉ thị phân tử”. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.  
4. Nguyễn Việt Cường và các cộng tác viên, 2016. Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu lai tạo giống một số loài  
bạch đàn, keo, tràm, thông”. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.  
5. Trần Thị Thu Hà và cộng sự, 2019. Nghiên cứu chuyển gen EcHB1 làm tăng chiều dài sợi gỗ cho dòng Bạch  
đàn lai UP thông qua A. tumefaciens. Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp 2019 (1).  
49  
6. Phí Hồng Hải và các cộng tác viên, 2015. Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu chọn và nhân giống Keo lá liềm  
(Acacia crassicarpa) và Keo tai tượng (Acacia mangium) phục vụ trồng rừng kinh tế” giai đoạn 2011 - 2015.  
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.  
7. Nguyễn Đức Kiên và các cộng tác viên, 2015. Báo cáo tổng kết đề tài: “Nghiên cứu chọn tạo giống bạch đàn lai  
mới giữa Bạch đàn pellita và các giống bạch đàn khác”. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.  
8. Nguyễn Đức Kiên và cộng sự, 2015. Báo cáo tổng kết đề tài “Khảo nghiệm giống và đánh giá khả năng phát  
triển cây Macadamia tại Việt Nam” giai đoạn 3: 2011 - 2015. Viện nghiên cứu Giống và Công nghệ sinh học  
Lâm nghiệp.  
9. Cấn Thị Lan và các công tác viên, 2016. Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu nhân giống mới một số loài keo  
và bạch đàn bằng công nghệ tế bào thực vật”. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.  
10. Đoàn Thị Mai, Lương Thị Hoan và Lê Sơn 2005. Một số kết quả ứng dụng công nghệ sinh học trong nhân  
giống cây lâm nghiệp. Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp 2005 (2).  
11. Đoàn Thì Mai, Lê Sơn và các cộng tác viên, 2011. Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu nhân nhanh giống keo  
lai tự nhiên, keo lai nhân tạo, Bạch đàn Uro, bạch đàn lai nhân tạo (mới chọn tạo) và Lát hoa bằng công nghệ  
nuôi cấy mô tế bào. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.  
12. Nguyễn Hoàng Nghĩa và các cộng tác viên, 2015. Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu chọn các dòng keo và  
bạch đàn chống chịu bệnh có năng suất cao phục vụ trồng rừng kinh tế” giai đoạn 2011 - 2015. Viện Khoa học  
Lâm nghiệp Việt Nam.  
13. Trần Hồ Quang và các cộng tác viên, 2011. Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu ứng dụng chỉ thị phân tử ADN  
trong chọn giống Bạch đàn urô (Eucalyptus urophylla ST. Blake)”. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.  
14. Đỗ Hữu Sơn, 2017. Luận án tiến sỹ “Nghiên cứu ảnh hưởng của loài cây mẹ và biến dị, di truyền về sinh trưởng  
và tính chất gỗ trong chọn giống keo lai tự nhiên”. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.  
15. Lê Sơn và các công tác viên, 2013. Báo cáo tổng kết dự án “Hoàn thiện quy trình nhân nhanh bằng nuôi cấy mô  
cho 6 giống keo lai đã được công nhận”. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.  
16. Phan Văn Thắng, Hà Văn Năm, Nguyễn Huy Sơn, Phan Thị Hảo, Phan Thị Hạnh, 2018. Kết quả khảo nghiệm  
giống Sa nhân tím (Amomum longiligulare) tại Hoành Bồ, Quảng Ninh. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển  
nông thôn trang 105-110, tháng 11 năm 2018.  
17. Hà Huy Thịnh và các cộng tác viên, 2015. Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu cải thiện giống nhằm tăng năng  
suất, chất lượng cho một số loài cây trồng rừng chủ lực” giai đoạn 3 : 2011-2015. Viện Khoa học Lâm nghiệp  
Việt Nam.  
18. Hà Huy Thịnh và các cộng tác viên, 2016. Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu chọn giống keo lai sinh trưởng  
nhanh bằng chỉ thị phân tử”. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.  
19. Trần Thanh Trăng và các cộng tác viên, 2013. Báo cáo tổng kết đề tài “Chọn tạo giống bạch đàn trắng kháng  
bệnh đốm lá bằng chỉ thị phân tử”. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.  
20. Viện nghiên cứu Cây nguyên liệu Giấy, 2015. Báo cáo đánh giá sinh trưởng của giống Bạch đàn PN54, PN24  
và PN108.  
21. Viện nghiên cứu Giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp, 2018. Báo cáo công nhận giống keo lai tự nhiên tại  
Cam Lộ, Quảng Trị và Quy Nhơn, Bình Định.  
22. Viện nghiên cứu Giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp, 2018. Báo cáo công nhận giống Macadamia mới  
tại Tây Nguyên và Tây Bắc.  
50  
pdf 20 trang yennguyen 8040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ lĩnh vực giống và công nghệ sinh học lâm nghiệp giai đoạn 2011-2020 và định hướng đến năm 2030", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfket_qua_nghien_cuu_va_chuyen_giao_cong_nghe_linh_vuc_giong_v.pdf