Ứng dụng khoa học công nghệ trong phát triển công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam

ỨNG DỤNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ  
TRONG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN GỖ VIỆT NAM  
Hiệp hội Gỗ và lâm sản Việt Nam  
Ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam trong những thập niên qua đã có bước phát triển  
mang tính đột phá và đã trở thành một trong những ngành công nghiệp quan trọng của Việt Nam.  
Nguyên nhân đạt được thành tựu to lớn nêu trên nhờ có đường lối, định hướng và cơ chế  
chính sách đúng đắn của Nhà nước. Nhờ có sự năng động, sáng tạo của đội ngũ doanh nhân và  
cộng đồng doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam. Một nguyên nhân nữa không kém phần quan  
trọng đó là khoa học công nghệ (KHCN). Việc ứng dụng KHCN trong suốt quá trình chế biến gỗ  
có vai trò quyết định tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, đem lại giá trị gia  
tăng cao và lợi nhuận lớn, tăng sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.  
Nội dung báo cáo gồm 4 phần sau:  
1. Tình hình ứng dụng KHCN trong phát triển công nghệ chế biến gỗ  
2. Các hình thức tiếp cận kết nối chuyển giao công nghệ  
3. Thuận lợi và khó khăn đối với ứng dụng KHCN chế biến gỗ  
4. Kiến nghị về phát triển KHCN chế biến gỗ  
I. TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG KHCN TRONG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN GỖ  
1.1. Các loại hình công nghệ chế biến gỗ  
- Công nghệ xẻ gỗ;  
- Công nghệ sấy gỗ;  
- Công nghệ sản xuất các loại ván nhân tạo;  
- Công nghệ sản xuất các sản phẩm gỗ;  
- Công nghệ sơn phủ bề mặt các sản phẩm gỗ;  
- Công nghệ hoàn thiện và đóng gói sản phẩm;  
1.2. Đầu tư và ứng dụng công nghệ chế biến gỗ  
Tùy theo yêu cầu của từng đối tượng và năng lực sản xuất của doanh nghiệp (DN), trình độ  
áp dụng công nghệ của các đối tượng DN rất khác nhau.  
- Có DN chỉ sản xuất gỗ xẻ;  
- Có DN sản xuất gỗ xẻ và sấy gỗ;  
- Có DN sản xuất gỗ xẻ, sấy gỗ và sản xuất các sản phẩm gỗ;  
- Có DN chỉ chuyên sản xuất các loại ván nhân tạo;  
- Có DN vừa sản xuất ván nhân tạo và sản xuất các sản phẩm gỗ từ ván nhân tạo;  
- Do đó việc lựa chọn công nghệ và áp dụng công nghệ cũng khác nhau. Mỗi loại sản phẩm  
đều có loại hình công nghệ sản xuất riêng của sản phẩm đó như trình bày ở phần trên.  
142  
1.3. Trình độ áp dụng công nghệ  
Hiện nay Việt Nam đã và đang áp dụng nhiều loại hình công nghệ khác nhau với mức độ  
công nghệ cao thấp khác nhau.  
- Các cơ sở chế biến nhỏ, các làng nghề gỗ: sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ, đồ gỗ cấp thấp vẫn sử  
dụng công nghệ thủ công (đục, đẽo) cơ giới hóa và rất ít cơ sở đã có máy chép hình.  
- Các DN vừa và nhỏ: Vừa áp dụng công nghệ cơ giới hóa + điện khí hóa kết hợp với 1 số  
thiết bị CNC  
- Các DN lớn: Đã đầu tư công nghệ tự động hóa và số hóa.  
1.4. Xuất xứ công nghệ và thiết bị chế biến gỗ  
- Công nghệ thiết bị chế biến gỗ của Việt Nam hiện nay chủ yếu là nhập khẩu từ Trung  
Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và một số ít các nước châu Âu.  
- Công nghệ để sản xuất các loại ván MDF, ván ghép thanh, viên nén nhiên liệu phần lớn  
mua công nghệ và thiết bị của các nước châu Âu, Nhật.  
- Công nghệ để sản xuất các loại đồ gỗ trong nhà, ngoài trời... chủ yếu mua công nghệ thiết  
bị của Đài Loan, Trung Quốc,..  
- Công nghệ để sản xuất dăm mảnh, đồ gỗ mỹ nghệ,.. sử dụng 1 số thiết bị của Việt Nam sản  
xuất như máy băm dăm, băng tải và thiết bị phun dăm,... còn lại nhập khẩu từ Trung Quốc.  
1.5. Đầu tư đổi mới và máy móc thiết bị chế biến gỗ  
Đầu tư công nghệ và máy móc thiết bị trong ngành chế biến gỗ cũng đang ở thời điểm cần  
phải đổi mới. Có thể chia thành những phân đoạn chính như sau:  
- Từ năm 1995 - 2005: Ngành chế biến gỗ chủ yếu sử dụng máy móc phần lớn đã qua sử  
dụng nhập từ Đài Loan và sản xuất trong nước.  
- Từ năm 2006 - đến nay: Máy móc nhập từ nhiều nước và vùng lãnh thổ khác nhau như  
Trung Quốc, Đài Loan, Đức, Ý, Nhật,... Trong đó có nhiều doanh nghiệp nhập khẩu máy  
móc thế hệ mới, máy CNC,... Tuy nhiên, số doanh nghiệp này chưa nhiều, nhất là những  
doanh nghiệp có dây chuyền thiết bị hiện đại, đồng bộ sản xuất đồ nội, ngoại thất trong nước  
và xuất khẩu.  
Với ngành thủ công mỹ nghệ còn khó hơn, tình hình hiện nay yêu cầu các sản phẩm phải đáp  
ứng đòi hỏi ngày càng cao hơn của thị trường, giá cả phải cạnh tranh được với các sản phẩm  
khác, nhất là từ Trung Quốc. Việc đưa máy móc vào để thay thế sản xuất thủ công ở từng công  
đoạn cần thiết trong dây chuyền, nhằm nâng cao năng suất lao động và đảm bảo chất lượng sản  
phẩm đối với các DN trong ngành vẫn còn rất lúng túng.  
Quản trị DN yếu kém đang là thách thức với các doanh nghiệp trong ngành. Tình trạng các  
DN loay hoay tự xoay sở, làm ăn một cách tự phát, không có bài bản rất phổ biến. Rất nhiều các  
DN ngồi chờ hợp đồng từ khách hàng tìm tới mình vào giao cho mình các đơn hàng sản xuất  
theo mẫu mã của họ. Những điểm yếu cơ bản này đã làm chậm đi rất nhiều các bước tiến của DN  
và làm yếu đi khả năng cạnh tranh của sản phẩm.  
143  
1.6. Độ tươi của công nghệ (Thế hệ sản xuất công nghệ và thiết bị)  
Độ tươi của công nghệ trong ngành chế biến gỗ được thể hiện thông qua bảng sau:  
Độ tuổi cô ng nghệ  
Dưới 2 năm  
Từ 2-5 năm  
Gỗ (%)  
7,8  
17,1  
42,6  
20,2  
3,1%  
9,3  
Từ 6-10 năm  
Từ 11-20 năm  
Trên 20 năm  
Khô ng rõ  
Nguồn: VIFOREST tổng hợp  
1.7. Công suất sử dụng máy móc thiết bị  
Công suất sử dụng máy móc thiết bị trong ngành gỗ được thể hiện qua bảng sau:  
Cô ng suất sử dụng má y mó c  
Dưới 30%  
Gỗ (%)  
5,4  
Từ 30-50%  
11,6  
35,7  
35,7  
11,6  
Từ 50-70%  
Từ 70-90%  
Từ 90-100%  
Nguồn: VIFOREST tổng hợp  
1.8. Mức độ tự động hóa  
Mức độ tự động hóa trong ngành gỗ thấp, được đánh giá qua chỉ số sau:  
Mức độ tự động hó a  
Chủ yếu điều khiển thủ cô ng  
Tỷ lệ DN (%)  
27,4  
9,7  
Chủ yếu điều khiển cơ giới hó a  
Chủ yếu được điều khiển theo chương trình bán tự động, má y vạn năng, chuyên dùng  
Chủ yếu điều khiển theo chương trình tự động, chương trình cố định  
Chủ yếu được điều khiển theo chương trình tự động, chương trình linh hoạt  
Có tất cả cá c loại trên  
24,9  
8,3  
7,9  
21,8  
100  
Tổng  
Nguồn: VIFOREST tổng hợp  
1.9. Nguồn cung công nghệ  
- Nguồn cung từ các viện, trường: Thông qua hoạt động kết nối cung - cầu công nghệ trong  
lĩnh vực lâm nghiệp, đã xác định các Vvện, trường đã và đang cung ứng các nguồn cung công  
nghệ sau đây:  
+ Công nghệ tạo giống cây lâm nghiệp với các giống cây mới có năng suất vượt trội, có chất  
lượng thân cây tốt, có tỷ trọng gỗ cao;  
+ Công nghệ trồng rừng: Công nghệ xác định lập địa, công nghệ trồng rừng thâm canh, công  
nghệ chuyển hóa rừng gỗ nhỏ thành gỗ lớn, ứng dụng công nghệ phế phẩm vi sinh hỗn hợp cho  
cây trồng;  
144  
+ Công nghệ chế biến, bảo quản gỗ: Ứng dụng công nghệ biến tính gỗ tạo nguyên liệu gỗ có  
chất lượng cao để sản xuất các sản phẩm gỗ; nghiên cứu công nghệ chế biến gỗ uốn cong để tạo  
ra các chi tiết sản phẩm gỗ có chất lượng cao; công nghệ tạo vật liệu mới từ gỗ rừng trồng, công  
nghệ sản xuất ván LVL để sản xuất các loại ván nhân tạo, công nghệ bảo quản gỗ...  
- Nguồn cung công nghệ từ DN và các tổ chức KHCN khác: Theo kết quả khảo sát của  
VCCI (về xuất xứ công nghệ) được sử dụng tại DN, hiện nay các DN đang sử dụng công  
nghệ sau năm 2005 tại các nước phát triển chiếm 39%. Các công nghệ được ứng dụng sau  
2005 chỉ chiếm 14%. Số còn lại là công nghệ có nguồn gốc xuất xứ khác và công nghệ  
trong nước.  
1.10. Hoạt động kết nối nguồn cung công nghệ  
Đối với công nghệ gỗ Việt Nam, hoạt động kết nối nguồn cung công nghệ theo chuỗi sản  
xuất, gồm các hoạt động chủ yếu sau:  
(1) Kết nối nguồn cung công nghệ giữa các DN FDI;  
(2) Kết nối nguồn cung công nghệ giữa các nhà máy cung cấp máy móc thiết bị nguyên liệu  
phụ trợ với các DN;  
(3) Kết nối nguồn cung công nghệ giữa khách hàng (chủ yếu là các đối tác nước ngoài)  
mua sản phẩm gỗ Việt Nam với các DN của Việt Nam;  
(4) Kết nối nguồn cung công nghệ giữa các tổ chức KHCN ngoài nhà nước, phòng thí nghiệm  
tư nhân với các viện, trường và DN;  
(5) Kết nối nguồn cung công nghệ các trường, viện và DN;  
(6) Kết nối nguồn công nghệ giữa DN với DN;  
(7) Kết nối cung công nghệ từ nội bộ DN.  
II. CÁC HÌNH THỨC TIẾP CẬN KẾT NỐI CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ  
Nhu cầu đổi mới công nghệ của các DN chế biến gỗ:  
- Ngành công nghiệp gỗ Việt Nam đã và đang hội nhập kinh tế quốc tế sâu và rộng, thể hiện  
qua các con số sau:  
+ Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đã hiện diện ở trên 120 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới;  
+ Nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ 100 quốc gia trên thế giới;  
+ Việt Nam đã ký nhiều Hiệp định FTA thế hệ mới, trong đó có nhiều hiệp định có liên quan  
tới sự phát triển của ngành công nghiệp gỗ Việt Nam như: Hiệp định CPTTP, EVFTA,  
VPA/FLEGT,...  
- Cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đã đặt ra sự cấp thiết cho ngành công nghiệp gỗ Việt Nam  
phải đổi mới công nghệ;  
- Nhà nước đặt ra yêu cầu kim ngạch xuất khẩu lâm sản phải tăng cao đến năm 2025 đạt  
được 20 tỷ USD;  
- Ngành công nghiệp gỗ tập trung phần lớn là các DN vừa và nhỏ, hợp tác xã, hộ gia đình  
trong các làng nghề,... Lực lượng lao động chủ yếu là lao động phổ thông. Theo đánh giá của  
VCCI, lao động trong ngành gỗ có lượng cán bộ chuyên ngành lâm nghiệp chiếm từ 2-3%, công  
145  
nhân kỹ thuật từ 20-30% (thực tế con số này còn ít hơn); còn lại là lao động phổ thông. Nếu  
không có những bước đột phá trong sản xuất kinh doanh thì khó có được một đội ngũ công nhân  
có trình độ, tay nghề cao để nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh của  
sản phẩm trên thị trường.  
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới vẫn chưa thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng do Covid 19 đã  
đẩy sức mua của khách hàng xuống thấp. Giá cả các sản phẩm xuất khẩu nói chung có dấu hiệu  
chững lại, trong những năm gần đây chi phí trong nước ngày càng tăng cao, cộng với sự cạnh tranh  
từ các nước trong khu vực hoặc từ Trung Quốc đã tạo ra áp lực không nhỏ lên mỗi sản phẩm xuất  
khẩu của Việt Nam trong đó có sản phẩm đồ gỗ. Vấn đề là phải có những giải pháp công nghệ tiến  
tiến, phù hợp với từng DN, nhằm hạ giá thành, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm. Đây là con  
đường đúng nhất cho mỗi DN nhằm tạo ra bước đột phá chiến lược. Có giải pháp công nghệ tốt  
phù hợp, từng DN sẽ giải quyết các vấn đề sau:  
+ Nâng cao trình độ năng lực quản trị và tầm nhìn của ban lãnh đạo;  
+ Tạo ra hàng hoạt lao động tay nghề cao;  
+ Tăng cường và hợp lý hóa dây chuyển sản xuất theo hướng tối ưu;  
+ Tái cấu trúc nhân lực hiệu quả;  
+ Tạo bước đột phá trong khâu tiếp thị và thiết kế sản phẩm để tiếp cận trực tiếp vào hệ  
thống phân phối tại các thị trường mục tiêu.  
Tác động vào khâu công nghệ, DN sẽ giải quyết được hàng loạt vấn đề đang tắc nghẽn,  
nhằm tạo ra bước đột phá nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm trong chuỗi cung ứng toàn  
cầu. Khâu công nghệ là một trong những mắt xích quan trọng trong quá trình phát triển DN.  
- Đổi mới công nghệ và ứng dụng công nghệ mới trong quá trình sản xuất sẽ mang lại rất  
nhiều lợi ích cho DN. Nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, giảm chi phí nhân công, chi phí  
nguyên liệu, vật liệu,.. từ đó dẫn đến giảm giá thành, tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong  
nước và thế giới.  
III. THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN ĐỐI VỚI ỨNG DỤNG KHCN CHẾ BIẾN GỖ  
3.1. Thuận lợi  
- Đảng và Nhà nước rất quan tâm về phát triển khoa học công nghệ, đã ban hành nhiều cơ  
chế chính sách khuyến khích các DN áp dụng công nghệ mới.  
- Bộ KHCN có quỹ đổi mới công nghệ - đây là 1 quỹ rất bổ ích với DN.  
- Việt Nam đã ký nhiều hiệp định FTA thế hệ mới, như CPTPP, EVFTA và 1 số FTA khác.  
- Các quốc gia này có trình độ công nghệ chế biến gỗ rất tiên tiến và phát triển. Vì vậy tiếp  
cận các nguồn thông tin về công nghệ mới tiên tiến, hiện đại rất thuận lợi.  
- Nguồn cung gỗ nhập khẩu từ các quốc gia này có sản lượng khai thác gỗ lớn, ổn định chất  
lượng gỗ cao, chứng minh được xuất xứ (C/O) đảm bảo gỗ hợp pháp.  
- Các quốc gia này có trình độ quản trị công nghệ rất cao và rất chuyên nghiệp.  
- Trình độ công nghệ thông tin và các trung tâm dữ liệu về công nghệ rất đa dạng về chủng  
loại và sâu về khoa học,...  
146  
3.2. Khó khăn  
- Thiếu thị trường khoa học - công nghệ chế biến gỗ  
+ Thiết bị chế biến gỗ chủ yếu nhập khẩu;  
+ Việt Nam không có nhiều các DN chuyên kinh doanh thiết bị chế biến gỗ. Hiện chỉ có một  
số DN ở phía Nam. Các DN tự đầu tư tìm kiếm công nghệ và thiết bị.  
+ Thiếu các tổ chức giao dịch công nghệ, chủ yếu tìm kiếm trên mạng nhưng cũng không  
thuận lợi.  
+ Công nghiệp phụ trợ cho ngành chế biến gỗ cũng chủ yếu là nhập khẩu;  
+ Thiếu thị trường quảng bá giới thiệu về KHCN, thiếu các HCTL về công nghệ và thiết bị  
chế biến gỗ.  
- Thiếu thông tin và cơ sở dữ liệu về công nghệ chế biến gỗ  
+ Việt Nam hiện có nhiều trường đại học lâm nghiệp, viện KHCN,... tuy nhiên không có  
các đơn vị chuyên về thông tin công nghệ chế biến gỗ;  
+ Thông tin về công nghệ chỉ có thể tra được ở trên mạng hoặc tạp chí KHCN của thế giới.  
Tuy nhiên rất khó khăn cho nhiều DN vì không thuận lợi về ngoại ngữ và thiếu các chuyên gia  
về công nghệ thông tin;  
+ Thiếu sự liên kết giữa các cơ sở đào tạo và nghiên cứu KH với DN để giao lưu học hỏi và  
chuyển giao công nghệ và tiến bộ kỹ thuật.  
- Quản trị công nghệ chế biến gỗ còn bất cập  
+ Công nghệ chế biến gỗ chưa đồng bộ từ khâu sản xuất ra nguyên liệu gỗ (công nghệ lâm  
sinh) đến việc sử dụng gỗ (công nghệ thân thiện môi trường và tiết kiệm nguyên liệu) và sản  
xuất đồ gỗ (công nghệ chế biến sản phẩm gỗ).  
+ Việc đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề cao để quản trị công nghệ và vận hành thiết bị  
mới hiện đại một cách chuyên nghiệp rất hạn chế.  
- Phương thức bán hàng hóa hiện nay của DN chế biến gỗ (CBG) cũng là một thách thức  
lớn đối với lựa chọn và áp dụng công nghệ mới  
+ Hiện nay các DN CBG Việt Nam chủ yếu bán hàng cho khách hàng nước ngoài theo  
phương thức giao hàng tại các cảng của Việt Nam. Tức là bán hàng theo giá FOB - chưa bán  
hàng theo giá CIF, tức là bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng ở quốc gia nhập khẩu, không  
thông qua đối tác trung gian.  
+ Bán theo giá FOB là sản phẩm làm theo thiết kế mẫu mã của nước ngoai, yêu cầu chất  
lượng sản phẩm của nước ngoài, giá bán FOB thấp hơn nhiều so với giá bán CIF.  
+ Từ phương thức đó, DN Việt Nam không thực hiện công nghệ thiết kế sản phẩm và theo  
đó là không xây dựng được thương hiệu sản phẩm gỗ Việt Nam. Thách thức này cần được khắc  
phục để nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm gỗ Việt Nam.  
- Các làng nghề gỗ và các cơ sở chế biến nhỏ rất khó tiếp cận với các nguồn thông tin và  
các trung tâm dữ liệu công nghệ chế biến gỗ, thiếu nguồn nhân lực để vận hành công nghệ  
thông tin, công nghệ lưu trữ hồ sơ phục vụ cho truy suất nguồn gốc gỗ.  
Điều nay có tác động tiêu cực tới các DN lớn và vừa. Vì làng nghề và các cơ sở CBG nhỏ  
là đối tác của các mô hình liên kết giữa DN CBG với làng nghề và làng nghề là vệ tinh của các  
DN CBG.  
147  
- Các đơn vị nguồn cung vẫn rất lúng túng, khó khăn trong việc CGCN, do chưa có nhiều  
thông tin về nhu cầu của DN, một số công nghệ và thiết bị chưa thực sự đáp ứng nhu cầu thực tế.  
- Đối với các DN thì chưa quan tâm đánh giá đầy đủ về vai trò của đầu tư phát triển công  
nghệ; chưa có nhiều thông tin về các hoạt động CGCN, chưa nắm rõ chính sách ưu đãi và các  
vấn đề có liên quan đến hỗ trợ, đổi mới, CGCN. Cùng với việc thiếu nguồn vốn đầu tư và nguồn  
nhân lực chất lượng cao nên các DN còn chưa tự tin và mạnh dạn trong đầu tư ứng dụng  
KH&CN trong sản xuất; phần lớn các DN vừa và nhỏ trình độ công nghệ thấp, quá trình đổi mới  
công nghệ chậm và rất khó khăn do nhiều yếu tố, trong đó có khó khăn về tìm kiếm, trao đổi  
thông tin, tư vấn xúc tiến giao dịch mua - bán công nghệ trong khi đây là nhu cầu đòi hỏi, là tiềm  
năng phát triển trị trường công nghệ.  
- Mối liên kết giữa các nhà quản lý, nhà khoa học và DN chưa thực sự chặt chẽ. Do vậy có  
thể thấy một thực trạng là trên thực tế có những cung - cầu tốt nhưng hai bên lại chưa tìm thấy  
nhau. Việc liên kết viện/trường và DN còn tồn tại một số vấn đề khúc mắc mà trở ngại lớn nhất  
là mối quan hệ chưa tạo được lòng tin, còn có khoảng cách. Mặt khác, phát triển thị trường công  
nghệ được xem là giải pháp căn bản nhưng đến nay mới ở dạng sơ khai, hành lang pháp lý vẫn  
còn đang phải hoàn thiện, các định chế hỗ trợ thị trường chưa phát triển, các cơ chế gắn kế cung  
cầu còn lỏng lẻo, yếu tố định chế trung gian hiện đang còn yếu trong thị trường khoa học và công  
nghệ khiến các nguồn cung có giá trị không được áp dụng trong sản xuất kinh doanh.  
IV. KIẾN NGHỊ VỀ PHÁT TRIỂN KHCN CHẾ BIẾN GỖ  
Công nghệ có vai trò quyết định tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm,  
đem lại giá trị gia tăng cao và lợi nhuận lớn, tăng sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Doanh  
nghiệp gỗ Việt Nam nhận thức được điều đó và đang xúc tiến xây dựng chiến lược phát triển  
triển công nghệ để ngành công nghiệp gỗ Việt Nam phát triển nhanh, mạnh và bền vững.  
Để giúp DN thực hiện được khát vọng đó, đề nghị Nhà nước quan tâm hơn nữa và ban hành  
các cơ chế chính sách về một số lĩnh vực chủ yếu sau:  
- Tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý cho phát triển thị trường khoa học và công nghệ  
cũng như môi trường đầu tư đồng bộ: Rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản quy  
phạm pháp luật, các chính sách liên quan tới sở hữu trí tuệ, hoạt động chuyển giao công nghệ,  
nguồn vốn, mặt bằng, nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới và chuyển giao công nghệ, đảm bảo lợi  
ích quốc gia, đáp ứng yêu cầu của những cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.  
- Xây dựng các giải pháp kích cầu công nghệ: Xây dựng môi trường kinh doanh mang tính  
cạnh tranh, thúc đẩy đổi mới công nghệ. Hoàn thiện môi trường kinh tế vĩ mô, tạo thuận lợi và  
động lực cho các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư đổi mới công nghệ. Đặc biệt, khuyến khích,  
hỗ trợ và thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ; Có cơ chế, chính sách cụ thể để hỗ trợ DN  
trong đầu tư ứng dụng đổi mới công nghệ sản xuất trong một số ngành, lĩnh vực ưu tiên; Xây  
dựng cơ chế phối hợp, đối thoại giữa các cơ quan Nhà nước các cấp với tổ chức KH&CN và  
doanh nghiệp nhằm kịp thời phát hiện, giải quyết các vướng mắc trong thực thi chính sách ưu  
đãi, khuyến khích hoạt động ứng dụng, đổi mới công nghệ.  
- Xây dựng giải pháp thúc đẩy hoạt động cung - cầu công nghệ: Phát triển nguồn cung công  
nghệ trong nước, tạo động lực mạnh mẽ cho các tổ chức, cá nhân tạo ra và thương mại hóa công  
nghệ có giá trị thực tiễn. Quy định rõ ràng trách nhiệm đối với các cơ quan chuyển giao và nhận  
chuyển giao đối với kết quả thực hiện nghiên cứu phục vụ công ích; có chế độ khen thưởng thỏa  
đáng đối với tổ chức, cá nhân có kết quả nghiên cứu được ứng dụng rộng rãi và mang lại hiệu  
148  
quả kinh tế - xã hội cao. Đồng thời có giải pháp triển khai có hiệu quả việc nhập khẩu công nghệ  
từ nước ngoài theo quy định của pháp luật.  
- Phát triển mạng lưới và nâng cao năng lực tổ chức trung gian của thị trường khoa học và  
công nghệ. Bên cạnh việc tăng cường chức năng tư vấn và chất lượng tư vấn của các cơ quan nhà  
nước về công nghệ thì Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ và tạo điều kiện để phát triển, nâng  
cao năng lực các tổ chức trung gian trong việc khai thác cơ sở dữ liệu công nghệ, tư vấn về đổi  
mới và chuyển giao công nghệ, được các bên cung và cầu tin tưởng (như các sàn giao dịch công  
nghệ, tổ chức ứng dụng và chuyển giao công nghệ; điểm kết nối cung - cầu công nghệ ở Trung  
ương và địa phương, doanh nghiệp, hiệp hội, HTX). Đồng thời có cơ chế khuyến khích các tổ  
chức, cá nhân khác tham gia vào lĩnh vực này để tăng nguồn cung, tăng cường chất lượng dịch  
vụ kết nối cung - cầu công nghệ để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp về đổi mới công nghệ.  
- Phát triển các dịch vụ tư vấn, giám định, thẩm định, đánh giá công nghệ; dịch vụ pháp lý về  
sở hữu trí tuệ và các dịch vụ pháp lý khác liên quan tới mua bán công nghệ. Khuyến khích thành  
lập các DN hoạt động, cung ứng dịch vụ pháp lý về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ.  
- Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuận cho DN (đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao).  
Xây dựng và thực hiện chiến lược đào tạo, phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật gắn liền với nhu cầu  
của kinh tế - xã hội; Trong đó có việc đổi mới phương pháp giáo dục và đạo tạo cho lực lượng cán  
bộ kỹ thuật tại các trường đại học và lực lượng công nhân kỹ thuật tại các trường dạy nghề, tạo thói  
quen đổi mới, sáng tạo và chủ động trong hoạt động nghiên cứu, gắn công tác đào tạo, nghiên cứu  
khoa học của các trường đại học với thực tiễn và nhu cầu thị trường nhằm hình thành lực lượng có  
năng lực thực hiện đổi mới công nghệ ở nước ta. Mặt khác cũng có chính sách để hỗ trợ doanh  
nghiệp trong việc duy trì và khuyến khích lao động kỹ thuật có chất lượng cao, khuyến khích tự  
đào tạo trong mỗi doanh nghiệp.  
- Thúc đẩy hoạt động liên kết trong đầu tư đổi mới công nghệ thông qua đa dạng hóa các  
mối liên kết như: Viện - doanh nghiệp; Nhà nước - viện - doanh nghiệp; ngân hàng/tổ chức tài  
chính - viện - doanh nghiệp; doanh nghiệp trong nước - doanh nghiệp FDI,... đẩy mạnh việc phát  
triển các doanh nghiệp KH&CN trên phạm vi cả nước. Khuyến khích các trường đại học, các  
viện nghiên cứu tự bỏ vốn hay liên doanh, liên kết với các tổ chức trong và ngoài nước để thành  
lập các doanh nghiệp KH&CN hoạt động theo luật Doanh nghiệp như: Công ty dịch vụ công  
nghệ, công ty chuyển giao công nghệ; trung tâm đổi mới sáng tạo,... nhằm gắn kết quá trình  
nghiên cứu đổi mới công nghệ với sản xuất - kinh doanh.  
- Một số chính sách hỗ trợ khác: Mặc dù Nhà nước đã có chính sách khuyến khích trong hỗ  
trợ ứng dụng, đổi mới công nghệ đối với một số nhóm DN, tuy nhiên trong bối cảnh hiện tại  
cũng cần chú trọng đến các DN quy mô nhỏ, siêu nhỏ (hiện chiếm tỷ lệ lớn và là nhóm yếu thế),  
doanh nghiệp xuất khẩu trong việc hỗ trợ pháp lý, hỗ trợ mở cửa thị trường, cải cách thủ tục  
hành chính nói chung,... để tạo sự công bằng trong cạnh tranh.  
- Thúc đẩy hoạt động truyền thông, phổ biến rộng rãi các cơ chế, chính sách tới mọi loại  
hình doanh nghiệp, trên các phương tiện truyền thông đại chúng./.  
149  
pdf 8 trang yennguyen 18260 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng khoa học công nghệ trong phát triển công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfung_dung_khoa_hoc_cong_nghe_trong_phat_trien_cong_nghiep_che.pdf