Ảnh hưởng của tỷ lệ chất độn Canxi Cacbonat tới một số tính chất của vật liệu composite gỗ nhựa

Công nghiệp rừng  
ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ CHẤT ĐỘN CANXI CACBONAT  
TỚI MỘT SỐ TÍNH CHẤT CỦA VẬT LIỆU COMPOSITE GỖ NHỰA  
Quách Văn Thiêm1, Trần Văn Chứ2, Phan Duy Hưng3  
1Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh  
2,3Trường Đại học Lâm nghiệp  
TÓM TẮT  
Vật liệu composite gỗ nhựa là loại vật liệu mới có rất nhiều ưu điểm như: có kích thước ổn định hơn, không bị  
xuất hiện vết rạn nứt, không bị cong vênh… Tuy nhiên cũng có nhược điểm là tốc độ lão hóa của nhựa rất  
nhanh, độ cứng và chịu mài mòn thấp. Để khắc phục nhược điểm này ngoài việc sử dụng một số phụ gia để làm  
chậm quá trình lão hóa của nhựa, ta có thể sử dụng một số loại chất độn như Canxi cacbonat để tăng độ cứng và  
chịu mài mòn. Canxi cacbonat được sử dụng làm chất độn rộng rãi trong ngành sản xuất đồ nhựa và vật liệu  
composite gỗ nhựa. Khi sử dụng tỷ lệ Canxi cacbonat hợp lý có thể cải thiện được một số tính chất như: độ  
cứng, độ chịu mài mòn, độ bóng sản phẩm đạt được tốt hơn… Tuy nhiên, việc sử dụng chất độn này với tỷ lệ  
bao nhiêu thì cần phải có những nghiên cứu cụ thể vào từng lĩnh vực. Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu ảnh  
hưởng của tỷ lệ chất độn Canxi cacbonat tới độ hút nước, độ bền kéo, độ bền uốn; kết quả nghiên cứu cho thấy  
khi tỷ lệ chất độn Canxi cacbonat tăng thì các tính chất này có xu hướng giảm, nhưng ở giai đoạn đầu thì giảm  
chậm sau đó giảm mạnh. Qua nghiên cứu cho thấy tỷ lệ chất độn Canxi cacbonat từ 7 - 9% là hợp lý và đảm  
bảo được các yêu cầu về kinh tế, kỹ thuật.  
Từ khóa: Chất độn, độ bền kéo, độ bền uốn, độ hút nước.  
sở khoa học cho các nghiên cứu nhằm nâng  
cao chất lượng vật liệu phức hợp gỗ nhựa, kéo  
dài tuổi thọ từ đó góp phần tiết kiệm nguyên  
liệu, giảm thiểu ô nhiễm môi trường là một  
điều có ý nghĩa. Bài báo trình bày kết quả  
nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ chất độn bột  
tới độ hút nước, độ bền kéo, độ bền uốn của  
vật liệu; các thông số tìm được sẽ là cơ sở để  
đề xuất chế độ gia công và ứng dụng vào trong  
thực tiễn sản xuất.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Vật liệu composite gỗ nhựa là một loại vật  
liệu mới; là sự kết hợp giữa bột gỗ, nhựa nhiệt  
dẻo và một số loại phụ gia, sự kết hợp giữa các  
loại nguyên liệu này mang lại tính năng ưu việt  
cho sản phẩm composite gỗ nhựa như: bền khi  
sử dụng, tuổi thọ của sản phẩm cao, có bề  
ngoài mang chất liệu gỗ, có độ cứng cao hơn  
so với vật liệu nhựa, không có Formaldehyde...  
Có nhiều tính chất tốt ví dụ so với gỗ như: có  
kích thước ổn định hơn, không bị xuất hiện vết  
rạn nứt, không bị cong vênh, dễ tạo màu sắc  
cho sản phẩm, có thể gia công lần thứ 2 giống  
như vật liệu gỗ, dễ cắt gọt... Tuy nhiên, để hạn  
chế quá trình co ngót, tăng độ cứng, chịu mài  
mòn cho vật liệu… khi sản xuất người ta  
thường sử dụng bột đá làm chất độn để tăng  
những tính chất này.  
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Vật liệu nghiên cứu  
Các vật liệu được sử dụng trong thí nghiệm  
dùng cho nghiên cứu gồm:  
- Nhựa nền polypropylen có tên thương mại  
là Moplen RP348N được sản xuất tại HMC  
Polymers Company Limited, Thái Lan.  
- Bột gỗ cao su được làm phế liệu gỗ như  
mùn cưa, phoi bào được lấy từ Công ty Cổ  
phần ván ghép Năm Trung, Dĩ An, Bình  
Dương, sau đó được sấy rồi nghiền về kích  
thước 0,3 - 0,45 mm.  
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu sử dụng chất  
độn cho vật liệu phức hợp gỗ nhựa còn ít; các  
nghiên cứu về lĩnh vực này chủ yếu nghiên cứu  
về tỷ lệ bột gỗ/nhựa, kích thước bột gỗ,  
phương pháp gia công, ảnh hưởng của tỷ lệ  
chất trợ tương hợp... đến tính chất vật liệu.  
Trước thực trạng đó, để bổ sung, hoàn thiện cơ  
- Phụ gia liên kết sử dụng là Scona TPPP  
8112 GA được sản xuất tại BYK Kometra  
GmbH, Đức.  
149  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1-2018  
Công nghiệp rừng  
- Phụ gia bôi trơn được sử dụng là BKY – P  
4101 được sản xuất tại BYK Kometra GmbH,  
Đức.  
Trung, Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Để thực hiện nội dung nghiên cứu nhóm tác  
giả dùng phương pháp tiếp cận hệ thống,  
phương pháp giải tích toán học và quy hoạch  
thực nghiệm, được tóm tắt như sau:  
* Bố trí thí nghiệm  
- Chất làm chậm oxy hóa sử dụng là  
IRGANOX B215 được mua tại Công ty Phụ  
gia nhựa Thành Lộc, địa chỉ số 424/4/4 Quang  
Trung, Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh.  
- Chất hấp thụ tia cực tím là TINUVIN 1130  
được mua tại Công ty Phụ gia nhựa Thành  
Lộc, địa chỉ số 424/4/4 Quang Trung, Gò Vấp,  
TP. Hồ Chí Minh.  
- Thí nghiệm: Trong nghiên cứu này chúng  
tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu thực  
nghiệm và các thí nghiệm được tiến hành bố trí  
với tỷ lệ chất độn thay đổi từ 0 – 11% và các  
thành phần khác được cố định và xác định như  
bảng 01.  
- Chất độn bột đá được mua tại Công ty Phụ  
gia nhựa Thành Lộc, địa chỉ số 424/4/4 Quang  
Bảng 01. Tỷ lệ hỗn hợp giữa các thành phần  
Phụ Gia Bôi Chống Oxy Hấp Thụ tia Tổng  
Bột đá  
(%-kg)  
Bột gỗ  
(%-kg)  
Nhựa PP  
(%-kg)  
MAPP  
(%-kg)  
Trơn  
hóa  
UV  
cộng  
(%-kg)  
(%-kg)  
(%-kg)  
(kg)  
3 - 0,6 50 - 10  
5 - 1,0 50 - 10  
7 - 1,4 50 - 10  
9 - 1,8 50 - 10  
11 - 2,2 50 - 10  
46 - 9,2  
46 - 9,2  
46 - 9,2  
46 - 9,2  
46 - 9,2  
4 - 0,8  
4 - 0,8  
4 - 0,8  
4 - 0,8  
4 - 0,8  
1 - 0,2  
1 - 0,2  
1 - 0,2  
1 - 0,2  
1 - 0,2  
0,2 - 0,04  
0,2 - 0,04  
0,2 - 0,04  
0,2 - 0,04  
0,2 - 0,04  
2,3 - 0,46  
2,3 - 0,46  
2,3 - 0,46  
2,3 - 0,46  
2,3 - 0,46  
21,3  
21,7  
22,1  
22,5  
22,7  
* Công đoạn tạo hạt gỗ nhựa  
* Công đoạn tạo mẫu  
- Cân chính xác các thành phần với độ chính  
xác 0,1 g như bảng 01 và trộn đều các thành  
phần, rồi đem đi đùn tạo hạt gỗ nhựa.  
- Mẫu ép được gia công trên thiết bị máy ép  
phun SW-120B (tại Trung tâm Công nghệ cao,  
Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP. Hồ  
Chí Minh). Máy ép phun có một số đặc điểm  
chính là: nhiệt độ ép, áp suất ép, tốc độ phun  
được chia thành 4 vùng; Máy ép SW-120B và  
mẫu thử được thể hiện như hình 01.  
- Thiết bị sử dụng trong thực nghiệm là máy  
ép đùn hai trục vít của Đài Loan tại công ty  
TNHH Chính Phát Thanh. Máy có 10 vùng  
nhiệt độ, đầu đùn có 2 lỗ đùn, đường kính lỗ  
đùn là 3,2 mm. Chế độ tạo hạt gỗ nhựa với  
nhiệt độ các vùng là: T1: 90oC, T2: 130oC, T3:  
140oC, T4: 140oC, T5: 150oC, T6: 150oC, T7:  
145oC, T8: 165oC, T9: 175oC, T10: 180oC. Sau  
khi ra khỏi máy sợi gỗ nhựa được làm nguội  
bằng không khí khi qua băng tải được chuyển  
qua máy cắt hạt để tạo hạt gỗ - nhựa với kích  
thước là 3,2 x 5 mm, sau đó sấy khô và đóng  
gói.  
- Chế độ gia công mẫu: Trên cơ sở các  
nghiên cứu trước chúng tôi đã xác định được  
chế độ gia công hợp lý và chế độ ép cho thí  
nghiệm như sau: nhiệt độ ép (T1: 180; T2: 177;  
T3: 172; T4: 162)oC, tốc độ phun (S1: 60; S2:  
55; S3: 50; S4: 45)%, áp suất phun (P1:9,0; P2:  
9,0; P3: 8,5; P4: 8,0) MPa, thời gian ép 30s  
(trong đó thời gian phun 3 giây) và được gia  
công trên máy ép W-120B.  
150  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1-2018  
Công nghiệp rừng  
Hình 01. Máy ép phun SW-120B và mẫu thử kéo, uốn  
2.3. Xác định độ hút nước, độ bền kéo và  
bền uốn  
m2 m1  
.100  
W   
(%)  
m1  
* Xác định độ hút nước của vật liệu  
composite gỗ nhựa (Lý Tiểu Phương, 2010)  
- Độ hút nước được xác định theo tiêu  
chuẩn GB/T1034-70 của Trung Quốc.  
Trong đó:  
W - độ hút nước sau 24 giờ (%);  
m1 - khối lượng mẫu trước khi hút nước (g);  
m2 - khối lượng sau khi hút nước (g).  
- Mẫu thử có kích thước (50 x 10 x 4) mm,  
mỗi nhóm sử dụng 5 mẫu thử. Cho mẫu thử  
vào tủ sấy ở nhiệt độ 105oC sấy trong thời gian  
1 giờ, rồi dùng cân điện tử để cân trọng lượng  
các mẫu thử với độ chính xác là 0,001 g. Sau  
đó cho toàn bộ mẫu thử vào nước đã qua  
chưng cất trong thời gian 24h, rồi dùng giấy  
lọc thấm hết nước trên bề mặt mẫu và cuối  
cùng dùng cân điện tử để cân trọng lượng các  
mẫu thử, độ chính xác đến 0,001 g.  
* Xác định ứng suất kéo của vật liệu  
composite gỗ nhựa (Lý Tiểu Phương, 2010)  
- Ứng suất kéo được xác định theo tiêu  
chuẩn GB/T1040-1992 của Trung Quốc.  
- Mẫu có hình dạng và kích thước như hình  
02; Số lượng thử nghiệm không ít hơn 5 mẫu,  
bề mặt mẫu bằng phẳng, mịn, không bị nứt, tốc  
độ gia tải 5 mm/phút và được thử trên máy  
INSTRON 3367 của Mỹ (tại Trường Đại học  
Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh).  
Công thức xác định độ hút nước:  
Hình 02. Mẫu xác định độ bền kéo của vật liệu composite gỗ nhựa  
03; Số lượng thử nghiệm không ít hơn 5 mẫu,  
khoảng cách hai gối đỡ 64 mm, bề mặt mẫu  
bằng phẳng, mịn, không bị nứt, tốc độ gia tải 2  
mm/phút và được thử trên máy INSTRON  
3367.  
* Xác định ứng suất uốn của vật liệu  
composite gỗ nhựa (Lý Tiểu Phương, 2010)  
- Ứng suất uốn được xác định theo tiêu  
chuẩn GB/T9431-2000 của Trung Quốc.  
- Mẫu có hình dạng và kích thước như hình  
`
Hình 03. Mẫu xác định độ bền uốn của vật liệu composite gỗ nhựa  
151  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1-2018  
Công nghiệp rừng  
định tính chất của vật liệu tại Trung tâm  
nghiên cứu Chế biến lâm sản, giấy và bột giấy,  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
và thu được kết quả như bảng 02.  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, THẢO LUẬN  
3.1. Ảnh hưởng của chất độn bột đá đến độ  
hút nước  
Xác định tính chất của vật liệu: Mẫu sau khi  
gia công để nguội 24 giờ, sau đó đem mẫu xác  
Bảng 02. Ảnh hưởng của tỷ lệ bột đá đến độ hút nước  
Trung  
bình  
(%)  
Số lần đo  
Lần 3  
Mẫu  
TN  
Tỷ lệ bột đá (%)  
Lần 1  
Lần 2  
Lần 4  
Lần 5  
No 1  
No 2  
No 3  
No 4  
No 5  
No 6  
0
3
5
7
9
0,47  
0,53  
0,51  
0,52  
0,55  
0,58  
0,50  
0,50  
0,52  
0,52  
0,56  
0,57  
0,48  
0,49  
0,49  
0,54  
0,55  
0,59  
0,48  
0,48  
0,52  
0,55  
0,57  
0,57  
0,49  
0,49  
0,49  
0,53  
0,56  
0,59  
0,48  
0,50  
0,51  
0,53  
0,56  
0,58  
11  
Tiến hành phân tích phương sai và hồi quy  
giữa các đại lượng thu được ta có:  
- Kiểm tra độ tin cậy của các hệ số hồi quy  
theo tiêu chuẩn Student cho thấy các hệ số hồi  
quy tồn tại vì tt > tb, do vậy ta tìm được mối  
tương quan giữa độ hút nước và tỷ lệ bột đá.  
- Hệ số tương quan: R = 0,974;  
- Phương trình tương quan ở dạng thực W =  
0,4738 + 0,0090.D (trong đó D – tỷ lệ bột đá);  
0.7  
0.6  
0.5  
0.4  
0.3  
0.2  
0.1  
0
0
3
5
7
9
11  
Đường thực nghiệm  
Đường lý thuyết  
Hình 04. Ảnh hưởng của tỷ lệ bột đá đến độ hút nước  
Qua hình 04 biểu diễn tương quan giữa tỷ lệ  
bột đá với độ hút nước của vật liệu cho thấy,  
mối quan hệ này rất chặt được thể hiện qua hệ  
số tương quan, đường thực nghiệm và đường  
lý thuyết. Hơn nữa, đường biểu diễn quan hệ  
này đều nằm trong khoảng biến động của các  
cấp thực nghiệm, điều này càng làm tăng độ tin  
cậy của phương trình tương quan giữa chúng.  
3.2. Ảnh hưởng của chất độn bột đá đến độ  
bền kéo  
Xác định tính chất của vật liệu: Mẫu sau khi  
gia công để nguội 24 giờ, sau đó đem mẫu xác  
152  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1-2018  
Công nghiệp rừng  
định tính chất của vật liệu tại tại Trung tâm  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
và thu được kết quả như bảng 03.  
nghiên cứu chế biến lâm sản, giấy và bột giấy,  
Bảng 03. Ảnh hưởng của tỷ lệ bột đá đến độ bền kéo  
Trung  
bình  
Số lần đo  
Lần 3  
Mẫu  
Tỷ lệ bột đá  
TN  
(%)  
Lần 1  
Lần 2  
Lần 4  
Lần 5  
(Mpa)  
No 1  
No 2  
No 3  
No 4  
No 5  
No 6  
0
3
29,38  
28,5  
30,97  
29,42  
28,21  
26,91  
26,23  
21,29  
30,47  
28,62  
27,88  
26,47  
26,62  
20,74  
29,32  
29,11  
27,57  
27,11  
25,66  
21,09  
30,65  
27,67  
27,89  
27,02  
25,97  
20,43  
30,16  
28,66  
27,65  
26,89  
26,15  
21,09  
5
26,71  
26,92  
26,26  
21,89  
7
9
11  
Tiến hành phân tích phương sai và hồi quy  
giữa các đại lượng thu được ta có:  
- Kiểm tra độ tin cậy của các hệ số hồi quy  
theo tiêu chuẩn Student cho thấy các hệ số hồi  
quy tồn tại vì tt > tb, do vậy ta tìm được mối  
tương quan giữa độ bền kéo và tỷ lệ bột đá.  
- Hệ số tương quan: R = 0,911;  
- Phương trình tương quan ở dạng thực k =  
30,8834 - 0,7058.D (trong đó D – tỷ lệ bột đá);  
35  
30  
25  
20  
15  
10  
5
0
0
3
5
7
9
11  
Đường thực nghiệm  
Đường lý thuyết  
Hình 05. Ảnh hưởng của tỷ lệ bột đá đến độ bền kéo  
Qua hình 05 biểu diễn tương quan giữa tỷ lệ  
bột đá với độ bền kéo của vật liệu cho thấy,  
mối quan hệ này rất chặt được thể hiện qua hệ  
số tương quan, đường thực nghiệm và đường  
lý thuyết. Hơn nữa, đường biểu diễn quan hệ  
này đều nằm trong khoảng biến động của các  
cấp thực nghiệm, điều này càng làm tăng độ tin  
cậy của phương trình tương quan giữa chúng.  
3.3. Ảnh hưởng của chất độn bột đá đến độ  
bền uốn  
Xác định tính chất của vật liệu: Mẫu sau khi  
gia công để nguội 24 giờ, sau đó đem mẫu xác  
định tính chất của vật liệu tại tại Trung tâm  
nghiên cứu Chế biến lâm sản, giấy và bột giấy,  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
và thu được kết quả như bảng 04.  
153  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1-2018  
Công nghiệp rừng  
Bảng 04. Ảnh hưởng của tỷ lệ bột đá đến độ bền uốn  
Số lần đo  
Trung  
bình  
Mẫu  
TN  
Tỷ lệ bột đá  
(%)  
Lần 1  
Lần 2  
Lần 3  
Lần 4  
Lần 5  
(MPa)  
71,64  
65,94  
63,56  
62,87  
61,07  
49,67  
No 1  
0
3
5
7
9
71,55  
64,63  
62,89  
62,06  
61,03  
50,48  
71,49  
67,38  
64,51  
63,39  
60,94  
50,12  
71,29  
66,27  
63,03  
62,52  
61,03  
49,66  
72,74  
66,17  
64,03  
63,4  
60,92  
48,95  
71,12  
65,24  
63,36  
62,97  
61,43  
49,16  
No 2  
No 3  
No 4  
No 5  
No 6  
11  
Tiến hành phân tích phương sai và hồi quy  
giữa các đại lượng thu được ta có:  
- Kiểm tra độ tin cậy của các hệ số hồi quy  
theo tiêu chuẩn Student cho thấy các hệ số hồi  
quy tồn tại vì tt > tb, do vậy ta tìm được mối  
tương quan giữa độ bền uốn và tỷ lệ bột đá.  
- Hệ số tương quan: R = 0,9209;  
- Phương trình tương quan ở dạng thực u =  
72,1504 - 1,6614.D (trong đó D – tỷ lệ bột đá);  
80  
70  
60  
50  
40  
30  
20  
10  
0
0
3
5
7
9
11  
Đường thực nghiệm  
Đường lý thuyết  
Hình 06. Ảnh hưởng của tỷ lệ bột đá đến độ bền uốn  
Qua hình 06 biểu diễn tương quan giữa tỷ lệ  
bột đá với độ bền uốn của vật liệu cho thấy,  
mối quan hệ này rất chặt được thể hiện qua hệ  
số tương quan, đường thực nghiệm và đường  
lý thuyết. Hơn nữa, đường biểu diễn quan hệ  
này đều nằm trong khoảng biến động của các  
cấp thực nghiệm, điều này càng làm tăng độ tin  
cậy của phương trình tương quan giữa chúng.  
Nhận xét: Qua thực nghiệm ta thấy cho chất  
độn vào vật liệu độ hút nước tăng, độ bền kéo  
và độ bền uốn giảm; sở dĩ có hiện tượng này là  
do chất độn Canxi cacbonat là chất vô cơ có  
phân cực, không thể liên kết trực tiếp được với  
bột gỗ và nhựa PP. Khi tỷ lệ chất độn ít thì pha  
nền có thể bao bọc được hết chất độn do vậy  
pha nền được liên tục cho nên độ hút nước, độ  
bền kéo, độ bền uốn có giảm nhưng ít. Tuy  
nhiên, khi tỷ lệ chất độn quá nhiều pha nền  
không bao bọc được hết cốt và chất độn; do  
vậy các pha trong vật liệu không liên tục và có  
hiện tượng tách pha, vì vậy tính chất của vật  
liệu giảm nhanh.  
IV. KẾT LUẬN  
Từ các kết quả nghiên cứu, có thể rút ra một  
số kết luận sau:  
Khi cho chất độn Canxi cacbonat làm chất  
độn để sản xuất vật liệu Composite gỗ nhựa thì  
độ hút nước, độ bền kéo, độ bền uốn có sự thay  
đổi. Khi tỷ lệ chất độn này tăng thì độ hút nước  
tăng, độ bền kéo, độ bền uốn giảm nhưng  
154  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1-2018  
Công nghiệp rừng  
Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian ép đến độ bền kéo,  
độ bền uốn của vật liệu phức hợp gỗ nhựa. Tạp chí khoa  
học giáo dục kỹ thuật, số 24, trang 91-96.  
5. Quách Văn Thiêm, Trần Văn Chứ (2013). Nghiên  
cứu ảnh hưởng nhiệt độ đầu vòi phun tới độ bền kéo, độ  
bền uốn của vật liệu phức hợp gỗ nhựa. Tạp chí Khoa học  
& Công nghệ Lâm nghiệp, số 3, trang 86-91.  
6. Quách Văn Thiêm, Trần Văn Chứ (2013).  
Nghiên cứu ảnh hưởng tỷ lệ nhựa polypropylen, trợ  
tương hợp, bột gỗ tới độ bền kéo và độ bền uốn của vật  
liệu phức hợp gỗ nhựa. Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp,  
số 3, trang 2948-2955.  
không đều; nhưng ở giai đoạn đầu thì giảm  
chậm sau đó giảm mạnh.  
Tỷ lệ chất độn Canxi cacbonat hợp lý để sản  
xuất loại vật liệu này từ 7 - 9% là hợp lý và  
đảm bảo được các yêu cầu về kinh tế, về kỹ  
thuật một số tính chất được cải thiện rõ rệt  
như: độ bóng của vật liệu, độ co ngót, độ  
cứng… mà vẫn đảm bảo được các yêu cầu kỹ  
thuật khác để sử dụng trong trang trí nội, ngoại  
thất.  
7. Quách Văn Thiêm, Trần Văn Chứ (2013).  
Nghiên cứu ảnh hưởng chế độ ép tới độ bền kéo và độ  
bền uốn của vật liệu phức hợp gỗ nhựa. Tạp chí Khoa  
học & Công nghệ Lâm nghiệp, số 4, trang 52-59.  
8. Quách Văn Thiêm, Trần Văn Chứ (2015).  
Nghiên cứu ảnh hưởng phụ gia chống lão hóa tới độ bền  
kéo và độ bền uốn của vật liệu phức hợp gỗ nhựa. Tạp  
chí Khoa học & Công nghệ Lâm nghiệp, số 1, trang 100-  
108.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Nguyễn Đình Đức (2007). Công nghệ vật liệu  
compozit. Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.  
2. Đoàn Thị Thu Loan (2010). Nghiên cứu cải thiện  
tính năng của vật liệu Composite sợi đay/nhựa  
Polypropylene bằng phương pháp biến tính nhựa nền.  
Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng, Số  
36(1): 28-35  
3. Lý Tiểu Phương (2010). Nghiên cứu vật liệu  
phức hợp gỗ nhựa PP. Luận văn thạc sỹ, Đại học Đông  
Sơn, Trung Quốc.  
9. Anatole Klyosov (2007). Wood plastic  
composites. Wiley-interscience A John Wiley & Sons,  
INC, Publication. pp.150 - 172.  
4. Quách Văn Thiêm, Trần Văn Chứ (2013).  
EFFECT OF ADDITIVE RATIO OF CALCIUM CARBONATE ON  
PROPERTIES OFWOOD PLASTIC COMPOSITE MATERIAL  
Quach Van Thiem1, Tran Van Chu2, Phan Duy Hung3  
1Hochiminh University of Technology and Education  
2,3Vietnam National University of Forestry  
SUMMARY  
Wood plastic composite material, which is emerging as a new material, possesses many advantages: more  
stable dimension, less split and curved, etc, for instance. Besides that, however, it also shows given  
disadvantages such as fast aging rate, low hardness and abrasion-resistance. In order to overcome the  
disadvantages of this material, other than using some additives for slowing down aging process, calcium  
carbonate is considered to be added for getting a higher hardness and abrasion-resistant material. Calcium  
carbonate is commonly applied in the manufacturing of plastic-products and wood plastic composite materials.  
Some properties of products may be better when calcium carbonate is added with the reasonable ratio, such as  
higher hardness, glossiness, abrasion-resistant, and lower aging rate. This paper shows the research on the  
influence of the additive ratio of calcium carbonate on properties of wood plastic composite material including  
the water absorption, tension strength and bending strength. The researched results suggest that when the ratio  
of added calcium carbonate increased, these properties of product decreased with tendency, slowly and rapidly  
in the early and final stages, respectively. It also indicates that the reasonable ratio of calcium carbonate, which  
can meet requirements on technology and economy, is from 7% to 9%.  
Keywords: Additive, bending strength, tension strength, water absorption.  
Ngày nhận bài  
Ngày phản biện  
Ngày quyết định đăng  
: 15/8/2017  
: 12/9/2017  
: 20/9/2017  
155  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1-2018  
pdf 7 trang yennguyen 12380 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng của tỷ lệ chất độn Canxi Cacbonat tới một số tính chất của vật liệu composite gỗ nhựa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfanh_huong_cua_ty_le_chat_don_canxi_cacbonat_toi_mot_so_tinh.pdf