Mối quan hệ giữa nhóm ngành lâm nghiệp với nền kinh tế

  
MỐI QUAN HỆ GIỮA  
NHÓM NGÀNH LÂM NGHIỆP VỚI NỀN KINH TẾ  
Bùi Trinh*  
Tóm tắt:  
Bài viết cho thấy vai trò của ngành lâm nghiệp và 4 tiểu ngành lâm nghiệp trong tổng thể  
các ngành kinh tế cũng như các điểm hiệu quả để xây dựng các chính sách can thiệp, từ đó  
cung cấp các cơ sở khoa học để huy động các nguồn lực cho phát triển lâm nghiệp bền vững ở  
Việt Nam.  
1. Mở đầu  
nguyên rừng, bảo tồn và tăng cường trữ  
lượng các-bon rừng gắn với sinh kế bền vững  
(REDD+). Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết  
định số 419/QĐ-TTg ngày 5 tháng 4 năm  
2017 phê duyệt Chương trình hành động  
quốc gia về REDD+ đến năm 2030 (sau đây  
gọi là NRAP). Trong quá trình thực hiện  
NRAP, việc xây dựng bảng cân đối đầu vào-  
đầu ra để xác định vai trò của ngành lâm  
nghiệp nói chung và các tiểu ngành lâm  
nghiệp nói riêng trong việc đóng góp vào  
tổng sản phẩm trong nước (GDP) cũng như  
ảnh hưởng lan tỏa (độ nhạy, tràn, giá trị tăng  
thêm, v.v...), hiệu quả của việc thực hiện  
một số chính sách và biện pháp (PAM) được  
đặt ra trong mục tiêu của NRAP hay một số  
mục tiêu trong Chương trình mục tiêu phát  
triển rừng bền vững giai đoạn 2016-2020.  
Nạn phá rừng là một trong những vấn  
nạn hàng đầu ở Việt Nam, là nước có tỉ lệ  
phá rừng nguyên sinh đứng thứ 2 trên thế  
giới, chỉ sau Nigeria1. Nguyên nhân mất rừng  
trầm trọng do sự quản lý chưa tốt và một  
phần do tham nhũng trong công tác bảo vệ  
rừng, sự thông đồng, cấu kết, chia chác của  
các giới chức hữu quan đã tiếp tay cho lâm  
tặc chặt phá rừng. Theo Tổng cục Lâm  
nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông  
thôn (Bộ NN&PTNT), chỉ hơn 5 năm (2012-  
2017), diện tích rừng tự nhiên bị mất do  
chuyển mục đích sử dụng rừng tại các dự án  
được duyệt chiếm 89% tổng diện tích rừng  
giảm; còn lại là do phá rừng trái pháp luật  
làm mất 11%. Thêm vào đó, việc trồng lại  
rừng chưa tốt, nên tỷ lệ che phủ rừng có thể  
cao nhưng chất lượng che phủ rừng không  
cao và khả năng giữ nước kém khi mưa nên  
nạn lũ lụt vẫn ngày càng nghiêm trọng.  
Bài viết này dựa trên phân tích đầu vào -  
đầu ra của nền kinh tế, không chỉ liên quan  
đến giá trị tăng thêm của ngành lâm nghiệp  
chiếm tỷ lệ phần trăm không nhiều trong  
tổng giá trị tăng thêm (GVA) hay GDP mà  
còn thông qua việc phân tích mối quan hệ  
liên ngành để chỉ ra tác động của nhóm  
ngành lâm nghiệp đối với kinh tế và môi  
trường ở Việt Nam.  
Xác định tầm quan trọng của rừng, Việt  
Nam là một trong những quốc gia đầu tiên  
tham gia Chương trình “Giảm phát thải khí  
nhà kính” thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng  
và suy thoái rừng, quản lý bền vững tài  
* Tiến sỹ, Viện nghiên cứu phát triển Việt Nam  
1https://vi.wikipedia.org/wiki/Nạn_phá_rừng_ở_Việt  
4
  
2. Phương pháp  
Ma trận A được chia thành các ma trận  
con cho nhóm ngành lâm nghiệp (r) và các  
ngành còn lại của nền kinh tế (s) như sau:  
Vào những năm 1930, lý thuyết tổng quát  
của J.M. Keynes đã được đưa ra nhằm giải  
thích hiện tượng khủng hoảng và suy thoái  
kinh tế của thế giới trong những năm này.  
Dựa trên lý thuyết tổng quát của Keynes và  
lược đồ kinh tế của Francois Quesnay, năm  
1941, Wassily Leontief đã giới thiệu mô hình  
đầu vào-đầu ra (còn được gọi là bảng IO).  
d
Ad  
Ad  
A
rr  
sr  
rs  
ss  
Ad  
A =  
(8)  
(9)  
Gọi:  
Quan hệ cơ bản của W. Leontief có  
dạng:  
d
B
Bd  
Bd  
rr  
sr  
rs  
ss  
B = (I- Ad)-1 = Bd  
X = (I – A)-1.Y  
(1)  
Hoặc:  
Bijd là ma trận con của ma trận nghịch  
đảo Leontief thể hiện quan hệ liên ngành.  
X = (I – Ad)-1.Yd  
(2)  
Trong đó: (I-Ad)-1 là ma trận nghịch đảo  
Leontief, Yd là cầu cuối cùng trong nước, ma  
trận X là ma trận giá trị sản xuất được lan  
tỏa bởi các nhân tố của cầu cuối cùng.  
B .Y B .Y  
Brs.Yss Brr.Yrs  
rr rr  
rs sr  
X =  
Bsr.Yrr Bss.Yrc BssYss Bsr.Yrs  
Đặt: vi = Vi/Xi,  
Theo Miyazawa (1976) [22] thì ma trận  
B có thể được phân rã như sau:  
Với Vi là giá trị tăng thêm ngành i nhân  
hai vế với (2) ta có:  
Brr = (I - Arr- Ars.(I - Arr)-1.Asr)  
Bss = (I - Ass- Asr.(I - Ass)-1.Ars)  
Brs = Bss.Ars(I-Ass)-1  
V = v. (I-Ad)-1.Yd  
(3)  
Gọi e là ma trận hệ số chất thải trực tiếp  
theo ngành với ej = Eij/Xj. Eij là ma trận khối  
lượng chất thải trực tiếp theo ngành. Từ  
quan hệ (5) ta có:  
Bsr = Bss.Asr( I - Arr)-1  
Vì lý do này, chúng ta có thể định nghĩa  
ba yếu tố cấu thành trong công thức trên,  
bao gồm:  
E = e. (I-Ad)-1.Yd  
(4)  
Từ đó có thể tính toán mức độ lan tỏa  
của các nhân tố của cầu cuối cùng đến giá trị  
sản xuất, giá trị tăng thêm và phát thải như  
sau:  
Ảnh hưởng số nhân (I - Arr)-1,  
Ảnh hưởng ngược liên ngành Brr-(I-Arr)-1  
Ảnh hưởng tràn Bsr và Brs.  
GOm = X † ∑Y  
VAm = V † ∑Y  
Em = E† ∑Y  
(5)  
(6)  
(7)  
Từ (1) và (8) ta có:  
∆Xs = (I – Ass)-1.Asr.∆Xr  
∆Xr = (I – Arr)-1.Ars.∆Xs  
(10)  
(11)  
Ở đây: † thể hiện chia vô hướng  
5
  
Quan hệ (10), (11) chỉ ra sự thay đổi  
khác trong nền kinh tế) và chỉ 10% cho sử  
dụng cuối cùng. Trong đó, cầu trung gian  
của các sản phẩm trồng và chăm sóc rừng  
rất cao vượt quá 99,87% và chỉ có 0,13%  
sản phẩm được sử dụng cho cầu cuối cùng.  
Nhu cầu về sản phẩm gỗ vượt quá 35,2%  
năng lực sản xuất gỗ và do đó giá trị nhập  
khẩu của ngành lâm nghiệp vẫn chiếm tỷ  
trong lớn với 43,76%. Theo thống kê, mặc  
dù khối lượng gỗ nhập khẩu là khoảng 21%  
(năm 2016) nhưng giá trị khai thác gỗ nhập  
khẩu chiếm 71,6%, cho thấy rằng gỗ chất  
lượng cao/giá trị rất cần thiết cho nhu cầu  
trung gian, đặc biệt là ngành sản xuất đồ nội  
thất. Đối với hoạt động khai thác gỗ, cầu cuối  
cùng chỉ chiếm 15% giá trị sản xuất của  
ngành này và 85% giá trị sản xuất của ngành  
này cho tiêu dùng trung gian (ví dụ như  
ngành chế biến gỗ, đồ nội thất/đỗ gỗ ngoài  
trời, giấy và đỗ gỗ, v.v...). Điều này cho thấy  
vai trò quan trọng của ngành lâm nghiệp  
trong việc tạo ra giá trị tăng thêm cho các  
ngành khác trong nền kinh tế nói chung và  
GDP nói riêng.  
của một ngành hoặc một nhóm ngành sẽ  
dẫn đến sự thay đổi của tất cả các ngành  
trong nền kinh tế. Khi sản lượng của nhóm  
ngành r(s) tăng lên sẽ dẫn đến sự thay đổi  
của nhóm ngành s(r) là (I - Ass)-1.Asr và (I -  
Arr)-1.Ars  
Từ quan hệ tổng quát của Leontief ta có  
thể tính toán sự lan tỏa của cầu cuối cùng  
thông qua giá trị sản xuất đến giá trị tăng  
thêm của nhóm ngành r và s:  
X
Xrs  
rr  
Xsr Xss  
(VR, VS) = (vr,vs).X  
= (vr,vs)  
Ở đây: Xrr là sản lượng của vùng r được  
lan tỏa bởi cầu cuối cùng sản phẩm của chính  
nó; Xrs là sản lượng của vùng r được tạo  
thành khi vùng s sử dụng sản phẩm vùng r.  
Tương tự đối với Xss và Xsr.  
Như vậy, việc sử dụng cuối cùng của  
vùng r sẽ lan tỏa đến giá trị tăng thêm của  
cả vùng r và vùng s. Tổng giá trị tăng thêm  
khi lan tỏa bởi sản phẩm cuối cùng của vùng  
r là: Vr.Xrr + Vs.Xsr  
Xét về phía cung, giá trị khai thác gỗ  
trong nước chỉ chiếm 28,39% tổng nguồn  
(sản xuất trong nước và nhập khẩu), điều  
này phản ánh thực tế là giá trị khai thác gỗ  
rất thấp trong khi nguyên liệu gỗ nhập khẩu  
với giá rất cao. Giá trị tăng thêm của ngành  
lâm nghiệp đã tạo ra theo các khâu chế biến  
và thương mại của chuỗi giá trị.  
Và tổng giá trị tăng thêm được lan tỏa  
bởi sử dụng cuối cùng của vùng s là: Vr.Xrs +  
Vs.Xss.  
Và tổng giá trị tăng thêm của một vùng  
được xác định:  
Vr.Xrr + Vr. Xrs  
3.2. Hệ số lan tỏa và độ nhạy của  
các nhóm ngành lâm nghiệp  
Vs.Xss + Vs. Xsr  
Bảng 1 cho thấy hệ số lan tỏa và độ  
nhạy của 4 tiểu ngành lâm nghiệp. Tầm quan  
trọng của cả hai chỉ số khai thác gỗ; trồng và  
chăm sóc rừng đều cao hơn mức trung bình  
của ngành lâm nghiệp, cho thấy tiểu ngành  
này có ảnh hưởng lớn nhất đến các tiểu  
ngành lâm nghiệp khác và các ngành còn lại  
3. Kết quả nghiên cứu  
3.1. Cung và cầu các nhóm tiểu  
ngành lâm nghiệp  
Xét về các yếu tố từ phía cầu, 90% lâm  
sản từ phía cung được sử dụng cho cầu trung  
gian (cho đầu vào sản xuất của các ngành  
6
  
trong nền kinh tế. Điều này có ý nghĩa là nếu  
việc trồng và chăm sóc rừng được cải thiện,  
sẽ không chỉ ảnh hưởng đến nhóm ngành  
lâm nghiệp mà còn có tác động tích cực đến  
sự phát triển của các ngành khác trong nền  
kinh tế. Hiệu quả khai thác gỗ đối với sản  
xuất trong nước thấp hơn so với trung bình  
chung, cũng như so với ngành lâm nghiệp.  
Chỉ số độ nhạy của tiểu ngành trồng và chăm  
sóc rừng cao hơn mức trung bình (1,55) cũng  
cho thấy rằng các sản phẩm của tiểu ngành  
này là đầu vào cho chính nó hoặc đầu vào  
cho các tiểu ngành khác của ngành lâm  
nghiệp và các ngành kinh tế khác. Tất cả ba  
tiểu ngành lâm nghiệp khác đều có mức lan  
tỏa và chỉ số độ nhạy thấp hơn trung bình  
(trên dưới 1), điều này phần nào cho thấy cả  
ngành lâm nghiệp không ảnh hưởng lớn đến  
các ngành kinh tế khác và ngược lại.  
Bảng 1: Hệ số lan tỏa và độ nhạy của tiểu ngành lâm nghiệp năm 2016  
Đơn vị tính: Lần  
Trồng và chăm  
Sản phẩm khác  
từ rừng  
0,84  
Dịch vụ  
lâm nghiệp  
0,79  
Khai thác gỗ  
sóc rừng  
0,92  
1,55  
Hệ số lan tỏa  
Độ nhạy  
0,75  
0,69  
0,57  
0,54  
Nguồn: Tính toán từ bảng cân đối IO của Việt Nam năm 2016  
3.3. Phân tích các ảnh hưởng số  
nhân, ảnh hưởng lan tỏa, ảnh hưởng  
tràn bởi các yếu tố của cầu cuối cùng  
gỗ, giấy & các sản phẩm liên quan; in ấn) và  
ngành 16 (sản xuất đồ nội thất & các hàng  
hóa khác; sửa chữa & lắp đặt) đã bị ảnh  
hưởng mạnh bởi ngành 2 (khai thác gỗ) với  
ảnh hưởng tràn tương ứng là 7,146 và 2,238  
và mức độ lan tỏa tới các hiệu ứng lan tỏa  
lần lượt là 12,687 và 3,039 tương ứng cho  
ngành 12 và ngành 16. Những kết quả này  
phản ánh thực tế rằng các sản phẩm khai  
thác gỗ là đầu vào quan trọng cho hai ngành  
12 và 16. Sự thay đổi tích cực của các ngành  
khai thác gỗ theo hướng đáp ứng nhu cầu  
cao từ các ngành liên quan đến chế biến gỗ  
sẽ có đóng góp lớn cho nền kinh tế.  
Bảng 2 cho thấy trong khi hệ số lan tỏa,  
ảnh hưởng tràn của ngành lâm nghiệp trong  
nền kinh tế nói chung khá thấp, nhưng hiệu  
ứng lan tỏa của ngành lâm nghiệp nói chung  
và ngành khai thác gỗ nói riêng là rất ấn  
tượng. Tuy nhiên, các tiểu ngành lâm nghiệp  
tự tạo ra ảnh hưởng cho nhau: Ngành 1:  
Trồng và chăm sóc rừng; ngành 2: Khai thác  
gỗ; Ngành 3: Sản phẩm khác từ rừng; và  
ngành 4: Dịch vụ lâm nghiệp. Từ số liệu của  
bảng IO, cho thấy ngành kinh tế 12 (sản xuất  
Bảng 2: Phân tích các hiệu ứng lan tỏa năm 2016  
Đơn vị tính: Lần  
Liên  
Ảnh  
Ảnh  
Ảnh  
Hệ số lan Ảnh hưởng Ảnh hưởng Ảnh hưởng  
Ngành  
kết  
hưởng hưởng hưởng tỏa về sản  
số nhân  
bình quân  
0,806  
0,731  
0,682  
0,687  
1,024  
1,563  
lan tỏa bình tràn bình  
ngược số nhân lan tỏa  
tràn  
0,004 0,281  
0,002 0,09  
lượng  
0,924  
0,753  
0,837  
0,79  
quân  
0,701  
0,296  
1,764  
0,617  
0,462  
0,506  
quân  
4,488  
1,441  
5,354  
3,884  
0,25  
1
2
3
4
5
6
1,789  
1,457  
1,619  
1,529  
1,929  
2,938  
1,504  
1,365  
1,274  
1,282  
1,911  
2,918  
0,011 0,335  
0,004 0,243  
0,003 0,016  
0,003 0,017  
0,997  
1,518  
0,264  
7
  
Liên  
Ảnh  
Ảnh  
Ảnh  
Hệ số lan Ảnh hưởng Ảnh hưởng Ảnh hưởng  
Ngành  
kết  
hưởng hưởng hưởng tỏa về sản  
số nhân  
bình quân  
1,322  
0,938  
1,534  
1,102  
1,045  
0,974  
1,135  
lan tỏa bình tràn bình  
ngược số nhân lan tỏa  
tràn  
lượng  
1,283  
0,909  
1,492  
1,076  
1,015  
1,211  
1,104  
1,109  
0,955  
0,992  
quân  
0,346  
0,169  
0,611  
0,636  
0,362  
12,687  
0,514  
0,561  
0,237  
3,039  
quân  
0,19  
7
8
9
2,482  
1,759  
2,887  
2,082  
1,965  
2,343  
2,137  
2,146  
1,848  
1,919  
2,468  
1,751  
2,863  
2,056  
1,95  
1,818  
2,118  
2,123  
1,837  
1,76  
0,002 0,012  
0,001 0,006  
0,004 0,021  
0,004 0,022  
0,002 0,013  
0,077 0,447  
0,003 0,016  
0,003 0,019  
0,001 0,009  
0,102  
0,328  
0,355  
0,208  
7,146  
0,263  
0,308  
0,142  
2,238  
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
…
1,138  
0,984  
0,943  
0,019  
0,14  
Nguồn: Tác giả tính toán từ bảng IO Việt Nam năm 2016  
3.4. Đóng góp về giá trị tăng thêm  
của ngành lâm nghiệp trong tổng ngành  
nông, lâm nghiệp và thủy sản và tổng  
giá trị tăng thêm của nền kinh tế  
nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, trong  
đó các sản phẩm trồng và chăm sóc rừng  
chiếm tỷ lệ cao nhất (9,8%). Trong GVA,  
ngành lâm nghiệp đóng góp tới 2,31%, đặc  
biệt chỉ riêng việc trồng và chăm sóc rừng đã  
đóng góp tới 1,64%.  
Bảng 3 cho thấy tổng giá trị tăng thêm  
ngành lâm nghiệp chiếm 13,75% trong ngành  
Bảng 3: Đóng góp của ngành lâm nghiệp trong nông, lâm nghiệp và thủy sản và GVA năm 2016  
Đơn vị tính: %  
Trồng và  
Khai thác Các sản phẩm  
Dịch vụ  
Tổng ngành  
chăm sóc rừng  
gỗ khác từ rừng lâm nghiệp lâm nghiệp  
Tỷ lệ trong nông, lâm  
nghiệp và thủy sản  
Tỷ lệ trong GVA  
9,79  
1,64  
2,35  
0,39  
1,46  
0,25  
0,15  
0,02  
13,75  
2,31  
Nguồn: Tác giả ước tính từ bảng IO của Việt Nam năm 2016  
3.5. Thay đổi cấu trúc kinh tế thông  
qua chỉ số về lan tỏa và độ nhạy  
ngành trồng và chăm sóc rừng. Trong giai  
đoạn từ 2010-20153, chỉ số độ nhạy thấp hơn  
mức trung bình chung của nền kinh tế (thấp  
hơn 1), nhưng nó đã được cải thiện và vượt  
qua mức trung bình chung của nền kinh tế  
(đạt 1,30) trong giai đoạn hiện nay4.  
Bảng 4 cho thấy sự thay đổi cơ cấu đóng  
góp của các tiểu ngành lâm nghiệp khác  
nhau trong giai đoạn 2010-2015 (Bảng IO  
2012) và giai đoạn 2016-2020 được ước tính  
trong Bảng IO 20162, có thể thấy nhu cầu về  
các sản phẩm của ngành lâm nghiệp thông  
qua việc phân tích độ nhạy và mức lan tỏa  
của 4 tiểu ngành tăng mạnh, đặc biệt là tiểu  
Về nguyên tắc, nếu ảnh hưởng lan tỏa  
đối với giá trị tăng thêm tăng và tác động  
đến nhập khẩu (ảnh hưởng lan tỏa giảm khi  
nhập khẩu) sẽ giảm được xem như tín hiệu  
2
Theo nguyên tắc, bảng IO sẽ được xây dựng trong thời  
3 Giả thiết bảng IO 2012 đại diện giai đoạn 2010-2015.  
4 Giả thiết bảng IO 2016 đại diện giai đoạn 2015-2020.  
gian là 5 năm.  
8
  
tích cực trong cấu trúc ngành. Các nhóm  
ngành được coi là tầm quan trọng tương đối  
khi các chỉ số của các ngành đã thay đổi theo  
hướng tích cực. Kết quả phân tích cho thấy  
nhóm ngành khai thác gỗ có ảnh hưởng lan  
tỏa đến nhập khẩu giai đoạn 2015-2020 thấp  
hơn giai đoạn trước (2010-2015) là 23 điểm  
phần trăm và lan tỏa đến giá trị tăng thêm  
của giai đoạn 2015-2020 cao hơn giai đoạn  
2010-2015 là 20 điểm phần trăm. Sự thay đổi  
này là đáng kể, thực sự là điểm sáng trong  
điều hành của Chính phủ; điều này phần nào  
phản ánh thực tế rằng đã có chính sách hỗ  
trợ cho việc kiểm soát nhập khẩu gỗ trong  
giai đoạn 2013-2015.  
Bảng 4: Ảnh hưởng lan tỏa, độ nhạy đối với của nhóm ngành lâm nghiệp  
Đơn vị tính: Lần  
Năm 2012  
Năm 2016  
Các tiểu ngành lâm nghiệp  
Độ nhạy  
0,61  
Hệ số lan tỏa  
0,80  
Độ nhạy  
Hệ số lan tỏa  
0,89  
Trồng và chăm sóc rừng  
Khai thác gỗ  
1,30  
0,63  
0,56  
0,51  
0,59  
0,63  
0,67  
0,66  
0,71  
Các sản phẩm khác từ rừng  
Dịch vụ lâm nghiệp  
0,74  
0,80  
0,71  
0,75  
Nguồn: Tác giả ước tính từ bảng IO năm 2012 và 2016 của Việt Nam  
3.6. Nhân tử nhập khẩu và giá trị với giá trị tăng thêm trên tiểu ngành các sản  
tăng thêm  
phẩm khác từ rừng phản ánh thực tế rằng  
lâm sản ngoài gỗ đã không được chú trọng  
nhiều trong thời gian vừa qua khi khai thác  
gỗ từ rừng tự nhiên vẫn được cho phép.  
Những thực thi trong 2 tiểu ngành thuộc  
ngành lâm nghiệp cho thấy phát triển lâm  
nghiệp ở Việt Nam đã chuyển sang hướng  
bền vững hơn và khai thác gỗ từ rừng trồng  
đã thay thế một phần cho nhu cầu nhập  
khẩu gỗ phục vụ nhu cầu công nghiệp chế  
biến gỗ.  
Nhóm ngành dịch vụ lâm nghiệp có ảnh  
hưởng lan tỏa trên chỉ số nhập khẩu giảm 2  
điểm phần trăm và ảnh hưởng lan tỏa đối với  
giá trị tăng thêm tăng 4 điểm phần trăm cho  
thấy nhóm ngành này cũng đã có những  
chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, sự cải thiện  
không đáng kể như các nhóm ngành khác  
của ngành lâm nghiệp.  
Sự gia tăng ảnh hưởng lan tỏa trong  
nhập khẩu giai đoạn 2016 so với năm 2012  
có sự gia tăng nhỏ về ảnh hưởng lan tỏa đối  
Bảng 5: Ảnh hưởng lan tỏa đến nhập khẩu và giá trị tăng thêm  
Đơn vị tính: Lần  
Năm 2012  
Năm 2016  
2016 so với 2012 (%)  
Nhóm ngành  
Nhập  
Giá trị  
Nhập  
Giá trị  
tăng thêm  
Nhập  
khẩu  
Giá trị  
tăng thêm  
khẩu tăng thêm khẩu  
Trồng và chăm sóc rừng  
Khai thác gỗ  
0,61  
1,94  
0,41  
0,62  
1,16  
0,61  
1,25  
1,16  
0,38  
1,50  
0,46  
0,61  
1,34  
0,73  
1,29  
1,21  
-38  
+16  
-23  
+12  
-2  
+20  
+3  
Các sản phẩm khác từ rừng  
Dịch vụ lâm nghiệp  
+4  
Nguồn: Tác giả tính toán dựa vào bảng IO năm 2012 và 2016 của Việt Nam  
9
  
3.7. Giá trị sản xuất và giá trị tăng  
thêm lan tỏa bởi các yếu tố cầu cuối cùng  
sản phẩm đầu vào lâm nghiệp tăng trưởng.  
Tác động liên kết ngược giữa các ngành sẽ  
tạo ra giá trị tăng thêm cho ngành lâm nghiệp.  
Bảng 6 cho thấy giá trị tăng thêm của  
ngành lâm nghiệp được tạo ra bởi các sản  
phẩm cuối cùng của các ngành kinh tế khác  
nhiều hơn giá trị tăng thêm của các ngành  
kinh tế khác được tạo ra bởi các sản phẩm  
cuối cùng của ngành lâm nghiệp. Giá trị tăng  
thêm của ngành lâm nghiệp được tạo ra bởi  
các sản phẩm cuối cùng của chính ngành đó  
chỉ chiếm 12,9% trong khi các sản phẩm cuối  
cùng của các ngành kinh tế khác trong nền  
kinh tế chiếm tới 87,1%. Điều này đã xảy ra  
bởi vì khi các sản phẩm khác được sử dụng  
cho nhu cầu cuối cùng, sẽ dẫn đến sự gia  
tăng sản lượng của các ngành khác trong  
nền kinh tế, do đầu vào tăng lên kéo theo  
Ngược lại, các sản phẩm cuối cùng của  
ngành lâm nghiệp gần như không có ảnh  
hưởng (chỉ 0,002%) đối với giá trị tăng thêm  
của các ngành khác trong nền kinh tế. Những  
kết quả này cho thấy ngành lâm nghiệp đóng  
vai trò quan trọng trong việc cung cấp đầu  
vào cho các ngành kinh tế khác phát triển và  
do đó, khi nhìn vào sự đóng góp của ngành  
lâm nghiệp vào GDP (hay GVA), ta nên nhìn  
nhận sự đóng góp của nó trong bối cảnh  
toàn nền kinh tế, không chỉ đơn giản là trên  
con số thống kê như là một lĩnh vực trong  
bảng IO.  
Bảng 6: Giá trị tăng thêm của ngành lâm nghiệp và các ngành khác  
lan tỏa bởi các sản phẩm cuối cùng năm 2016  
Sản phẩm cuối  
cùng của ngành  
lâm nghiệp  
Sản phẩm cuối  
cùng của các  
ngành khác  
Sản phẩm cuối cùng  
của nền kinh tế  
Lan tỏa đến  
Giá trị tăng thêm ngành lâm  
nghiệp (Nghìn đồng)  
12.099.266  
12,9  
81.511.065  
87,1  
93.610.330  
100,0  
Tỷ lệ (%)  
Giá trị tăng thêm các ngành  
khác (Nghìn đồng)  
766.646  
0,02  
3.962.641.690  
99,98  
3.963.408.337  
Tỷ lệ (%)  
100,00  
4.057.018.667  
2,3  
GVA (Nghìn đồng)  
Đóng góp ngành lâm nghiệp (của 4 tiểu ngành) đến GVA (%)  
Đóng góp đầy đủ ngành lâm nghiệp (nếu tính cả công nghiệp chế biến  
gỗ, giấy và các sản phẩm liên quan, in ấn, công nghiệp đồ gỗ…) đến  
GVA (%)  
5,88  
Nguồn: Tác giả ước tính từ bảng IO năm 2016 của Việt Nam  
nhà quản lý về lâm nghiệp muốn tính cả  
4. Kết luận và khuyến nghị  
Kết luận  
phần giá trị tăng thêm của một số ngành như  
chế biến sản phẩm từ gỗ vào giá trị tăng  
thêm ngành lâm nghiệp. Tính cho ngành nào  
là quy định, tính chung cho nền kinh tế thì  
việc thêm ở ngành này bớt ở ngành kia là  
Do bệnh thành tích, một số nhóm nghiên  
cứu đã phê phán cách tính giá trị tăng thêm  
ngành lâm nghiệp của Liên hợp quốc, các  
10  
  
không có ý nghĩa gì. Giá trị tăng thêm của  
ngành lâm nghiệp được tạo ra bởi các sản  
phẩm cuối cùng của các ngành kinh tế khác  
nhiều hơn giá trị tăng thêm của các ngành  
kinh tế khác được tạo ra bởi các sản phẩm  
cuối cùng cho ngành lâm nghiệp. Kết quả  
này cho thấy ngành lâm nghiệp đóng vai trò  
quan trọng trong việc cung cấp đầu vào đối  
với nền kinh tế.  
xuất khẩu, trong khi tác động do xuất khẩu  
đến đầu ra của toàn bộ nền kinh tế là thấp.  
Để tăng giá trị xuất khẩu gỗ, cần đặc biệt  
chú ý đến cấu trúc của rừng trồng theo  
hướng chuyển đổi sang rừng trồng chuyên  
canh gỗ lớn.  
Ngành 12 (sản xuất gỗ, giấy & các sản  
phẩm liên quan; in) có hệ số tương quan cao  
hơn so với trung bình nhập khẩu của ngành.  
Điều này cho thấy nhu cầu của Việt Nam đối  
với các sản phẩm gỗ sản xuất trung gian là  
rất cao. Do đó, để đáp ứng nhu cầu trong  
nước, vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguyên  
liệu từ nước ngoài cho chế biến các sản  
phẩm gỗ có giá trị tăng thêm cao để xuất  
khẩu, cũng là cơ hội để nâng cao giá trị cho  
người trồng rừng trong nước. Cần lưu ý rằng  
xuất khẩu có thể được thúc đẩy bởi các công  
ty đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) và  
các công ty này có thể sử dụng mạng lưới  
sản xuất của riêng họ cũng có thể tự nhập  
khẩu. Để thay thế nhu cầu gỗ nhập khẩu,  
ngành lâm nghiệp phải xây dựng các chính  
sách và cơ chế hỗ trợ để khuyến khích đầu  
tư trồng rừng gỗ xẻ chất lượng cao đáp ứng  
các tiêu chuẩn quốc tế.  
Kết quả phân tích kịch bản cho thấy,  
việc đạt được các mục tiêu phát triển rừng  
bền vững không chỉ cải thiện sự đóng góp  
của ngành lâm nghiệp đối với GVA, mà còn  
lan tỏa các tác động tích cực đến nhiều  
ngành kinh tế khác, đặc biệt là các ngành sử  
dụng lâm sản làm cầu trung gian.  
Khuyến nghị  
Xu hướng tăng về nhu cầu gỗ lớn (khai  
thác rừng), đặc biệt cho tiêu dùng trung gian  
làm đầu vào cho các ngành kinh tế khác (ví  
dụ: Sản xuất đồ gỗ, đồ nội thất và các hàng  
hoá khác), điều này cho thấy việc cần phải  
xây dựng các chính sách khuyến khích người  
trồng rừng chuyển sang trồng rừng gỗ lớn.  
Nhu cầu về gỗ vượt quá khả năng cung tại  
Việt Nam cần được giải quyết thông qua các  
chính sách phù hợp nhằm tăng nguồn cung  
gỗ trong nước, cải thiện năng suất rừng  
(MAI) (bằng công nghệ nhân giống, giống  
mới, kỹ thuật trồng), tăng khối lượng gỗ  
bằng cách kéo dài chu kì rừng.  
Tóm lại, ngành lâm nghiệp cần được  
công nhận là ngành thúc đẩy kinh tế quan  
trọng và đáng để đầu tư. Do đó, việc có  
chính sách đầu tư phù hợp để phát triển lâm  
nghiệp hoặc kế hoạch đầu tư bền vững cho  
NRAP là rất cần thiết.  
Đầu ra của ngành lâm nghiệp theo yếu  
tố cầu cuối cùng là cao nhất đối với ngành  
Tài liệu tham khảo:  
1. Butler, Rhett A. (2005), Nigeria has worst deforestation rate, FAO revises figures;  
2. Baumol, William J. & Gomory, Ralph E., 1994, „On Efficiency and Comparative  
Advantage in Trade Equilibria Under Scale Economies‟, Working Papers 94-13, C.V. Starr  
Center for Applied Economics, New York University;  
3. Bui Trinh, Pham Le Hoa (2017), „Comparing the Economic Structure and Carbon Dioxide  
Emission between China and Vietnam‟, International Journal of Economics and Financial  
Research Vol. 3, No. 3, pp: 31-38;  
11  
  
4. Bui Trinh and Bui Quoc (2017), „Some Problems on the Sectoral Structure, GDP Growth  
and Sustainability of Vietnam‟, Journal of Reviews on Global Economics, 2017, 6, 143-153;  
5. Eleonora Sofilda, Agussalim, Muhammad Zilal Hamzah (2016),„Input output analysis to  
determine sustainable development planning in Indonesia‟, OIDA International Journal of  
Sustainable Development, ISSN 1923-6654 (print) ISSN 1923-6662 (online);  
6. Fujio John. M. Tanaka (2011), Applications of Leontief‟s Input-Output Analysis in Our  
Economy;  
7. FAO (2014), The State of Food and Agriculture Innovation in family farming, Food and  
Agriculture Organization of the United Nations Rome;  
8. Ha, N.H.P. and Trinh, B. (2018), „Vietnam Economic Structure Change Based on  
Vietnam Input-Output Tables 2012 and 2016‟, Theoretical Economics Letters, 8, 699-708;  
9. Keynes, J. M. (1931), „[mr. Keynes' Theory of Money]: A Rejoinder‟, The Economic  
Journal 41.163, 412-423;  
10. Leontief, W. (1941), The Structure of American Economy: 1919-1939, Oxford  
University Press;  
11. Ministry of Agriculture and Rural Development (2019), Summary report on  
implementation of the Agriculture and Rural Development Plan in 2018 and implementation of  
the Plan for 2019;  
12. Miller, R., & Blair, P. (1985), Input-Output Analysis: Foundations and Extensions (pp.  
236-260);  
13. Ministry of National Resource and Environment (2014), „The Initial Biennial Updated  
Report of Viet Nnam to the United Nations Framework Convention on Climate change‟, Viet  
Nam Publishing hHouse of Natural Resources, Environment and Cartography;  
14. Miyazawa, K. (1976), Input-Output Analysis and the Structure of Income Distribution,  
Lecture Notes in Economics and Mathematical Systems, Berlin: Springer-Verlag;  
15. Trinh. B. Hoa P. L, Giang. C. B (2008), „Import multiplier in input-output analysis‟,  
Deponcen WP series No. 23;  
16. Trinh. B, K. Kobayashi (2011), „The impact of energy and air emissions in a changing  
economic structure: Input-output approach‟, VNU Journal of Science, Economics and Business  
27, No. 5E 20-24;  
17. T. T.Thanh Tu, Bui Trinh, N. T Nhung, N. P Thao, (2016), „Finding economic structure  
and capital structure for a “Greener” economy‟, IJER Serial Publications. 13 (7). 3153-3167;  
18. T.H. Nguyen, T. Bui (2018), „Economic Structure and Greenhouse Gas Emission of  
Vietnam‟, MAGNT Research Report, Vol.5(2). PP. 358-364;  
19. Rohana bt Kamaruddin (2008), „An Input-output Analysis of Sources of Growth and  
Key Sectors im Malaysia‟, Modern applied science, Vol 2, N.3;  
20. WenhuiChen, DanyunXu, JunchangLiu (2015), „The forest resources input-output  
model: An application in China‟, Elsevier, Vol. 51, Page 87-97.  
12  
pdf 9 trang yennguyen 17960 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mối quan hệ giữa nhóm ngành lâm nghiệp với nền kinh tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmoi_quan_he_giua_nhom_nganh_lam_nghiep_voi_nen_kinh_te.pdf