Hoạt tính kháng oxy hóa của cao chiết ethanol thân rễ Ngải tím (Kaempferia parviflora Wall. Ex Baker), Ngải trắng (Curcuma aromatica Salisb.), Gừng gió (Zingiber zerumbet Sm.)
Khoa học Y - Dược
Hoạt tính kháng oxy hóa của cao chiết ethanol
thân rễ Ngải tím (Kaempferia parviflora Wall. Ex Baker),
Ngải trắng (Curcuma aromatica Salisb.), Gừng gió (Zingiber zerumbet Sm.)
Nguyễn Trọng Tuân*, Phạm Thị Sánh
Khoa Khoa học tự nhiên, Trường Đại học Cần Thơ
Ngày nhận bài 25/11/2019; ngày chuyển phản biện 28/11/2019; ngày nhận phản biện 26/12/2019; ngày chấp nhận đăng 31/12/2019
Tóm tắt:
Stress oxy hóa là một trong những nguyên nhân gây bệnh tật cho con người, chủ yếu là do tình trạng mất cân bằng
của các chất oxy hóa với các chất kháng oxy hóa bảo vệ trong cơ thể. Do đó để nâng cao sức khỏe, hiện nay, các
sản phẩm nguồn gốc tự nhiên chứa các chất kháng oxy hóa thường được sử dụng. Các cây thuộc họ Gừng đã được
biết chứa nhiều hợp chất kháng oxy hóa tự nhiên. Vì vậy, nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá hoạt tính kháng
oxy hóa của các cao chiết ethanol thân rễ Ngải tím (Kaempferia parviflora Wall. Ex Baker), Ngải trắng (Curcuma
aromatic Salisb.) và Gừng gió (Zingiber zerumbet Sm.) bằng cách sử dụng các phương pháp thử nghiệm khác nhau
như phương pháp DPPH, ABTS•+ và năng lực khử (Reducing power). Ngoài ra, hàm lượng polyphenol tổng và
flavonoid tổng trong các dịch trích cũng được xác định. Kết quả cho thấy, các cao chiết đều chứa hàm lượng lớn các
hợp chất polyphenol tổng và flavonoid tổng. Ngải trắng và Gừng gió thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa tốt hơn so với
Ngải tím trong các phương pháp thử nghiệm. Nghiên cứu cho thấy tiềm năng lớn trong việc ứng dụng các loài thực
vật tự nhiên này vào lĩnh vực thực phẩm và dược phẩm.
Từ khóa: Gừng gió, kháng oxy hóa, Ngải tím, Ngải trắng.
Chỉ số phân loại: 3.4
nghiên cứu. Chính vì thế, trong nghiên cứu này, chúng tôi
tập trung nghiên cứu hoạt tính kháng oxy hóa của 3 loài
thực vật được mô tả ở trên. Các loài thực vật này được thu
hái trên địa bàn Núi Cấm vùng Bảy Núi, thuộc huyện Tịnh
Biên, tỉnh An Giang.
Đặt vấn đề
Ngải tím (Kaempferia parviflora Wall. Ex Baker), Ngải
trắng (Curcuma aromatic Salisb.) và Gừng gió (Zingiber
zerumbet Sm.) mọc hoang hoặc được trồng ở khắp cả nước,
từ Bắc vào Nam, đặc biệt là các vùng đồi núi [1]. Ngải trắng
và Gừng gió đã được mô tả trong danh lục các loài thực vật
Việt Nam [2, 3], riêng Ngải tím mới được phát hiện ở các
tỉnh Đăk Lăk, Gia Lai (K-Bang) và Thanh Hóa [4]. Đây là
các cây thuộc họ Gừng, một họ có nhiều ứng dụng trong y
học cổ truyền [1, 2]. Một số nghiên cứu trong và ngoài nước
cho thấy đây là các loài thực vật có tiềm năng rất lớn trong
lĩnh vực y dược. Ngải tím có chứa 5,7-dimethoxyflavone
có khả năng ức chế mạnh emzyme PDE5 và PDE6 điều trị
rối loạn cương dương trên chuột [5] cũng như là chất tăng
cường sức khỏe tiềm năng cho người cao tuổi do làm giảm
stress oxy hóa [6]. Cao chiết ethanol Ngải trắng thể hiện
Đối tượng và phương pháp
Nguyên liệu
Mẫu nguyên liệu tươi (1 kg) mỗi loại được thu hái tại Núi
CấmvùngBảyNúi,huyệnTịnhBiên,tỉnhAnGiang.Cácmẫu
được thu hái tại các tọa độ 10°29’43’’N; 104°58’51,13’’E ở
độ cao 600 m (Ngải tím); 10°29’60’’N; 104°58’40’’ E ở độ
cao 400 m (Ngải trắng) và 10°30’24,98’’N; 104°58’39,55’’E
ở độ cao 400 m (Gừng gió). Mẫu được xác nhận bởi Phùng
Thị Hằng với số lưu mẫu Ngải tím Pl102017-AG(NC)0013,
Ngải trắng Pl112017-AG(NC)0007 và Gừng gió Pl072016-
hoạt tính kháng viêm do có chứa lượng lớn acid arachidonic AG(NC, NT)0017. Các mẫu này được thu hái, định danh
[7], dầu của Ngải trắng có hoạt tính bảo vệ gan khi ức chế dựa trên đặc điểm hình thái và so sánh với tài liệu chuyên
sự phát triển khối u của gan đến 51-52% [8]. Gừng gió ngành. Mẫu được lưu trữ tại Phòng thí nghiệm Sinh học thực
có khả năng giảm sự tăng trọng lượng cơ thể, lượng mỡ vật, Bộ môn Sư phạm sinh học, Khoa Sư phạm, Trường Đại
nội tạng và nồng độ lipid huyết tương [9]. Tuy nhiên hoạt học Cần Thơ. Nguyên liệu sau khi thu hái về được rửa sạch,
tính kháng oxy hóa của các loài thực vật trên còn ít tài liệu loại bỏ tạp bẩn, cắt nhỏ, sấy ở 50°C và xay thành bột.
* Tác giả liên hệ: [email protected]
62(5) 5.2020
26
Khoa học Y - Dược
Xác định độ ẩm bột nguyên liệu
Antioxidant activity of ethanolic
rhizomes extracts of Kaempferia
parviflora Wall. Ex Baker,
Độ ẩm bột nguyên liệu được xác định theo Dược điển
Việt Nam V, theo phương pháp sấy [10].
Điều chế cao chiết
Bột khô thân rễ Ngải tím, Ngải trắng và Gừng gió được
chiết với dung môi ethanol 96° bằng phương pháp ngâm
trong 24 giờ (3 lần). Tất cả dịch chiết được gom lại và lọc
để loại bỏ cặn, bụi. Dịch chiết sau khi lọc đem cô quay đuổi
dung môi ở nhiệt độ 40-45°C thu được cao chiết ethanol
thân rễ Ngải tím, Ngải trắng và Gừng gió. Cao chiết được
đem cân và tính hiệu suất chiết cao, sau đó cao được bảo
quản trong tủ lạnh ở nhiệt độ 4°C cho đến khi thí nghiệm.
Hiệu suất chiết cao được tính theo công thức:
Curcuma aromatica Salisb.,
and Zingiber zerumbet Sm.
Trong Tuan Nguyen*, Thi Sanh Pham
College of Natural Sciences, Can Tho University
Received 25 November 2019; accepted 31 December 2019
Abstract:
Oxidative stress is one of the causes of humans diseases,
mainly due to an imbalance of oxidative compounds
with protective antioxidants in the body. Therefore, for
improvinghealth,nowadays,naturalproductscontaining
antioxidants are often used. Plants belonging to the
Zingiberaceae family have been known to contain lots
of natural antioxidants. Therefore, this research aims to
evaluate the antioxidant activities of ethanolic rhizomes
extracts of Kaempferia parviflora Wall. Ex Baker,
Curcuma aromatic Salisb., and Zingiber zerumbet Sm. by
using some different bioassay methods such as DPPH,
ABTS•+, and reducing power. In addition, the content
of total polyphenol and total flavonoid in the extracts
were also investigated. The results showed that all of the
extracts contained high amount of total polyphenol and
total flavonoid components. Curcuma aromatic Salisb.
and Zingiber zerumbet Sm. species provided the stronger
antioxidant activity than Kaempferia parviflora Wall.
Ex Baker species in all the tested methods. In brief, this
research reveals a great potential for application of these
medicinal plants in food and pharmaceutical fields.
Khảo sát hoạt tính kháng oxy hóa của các cao chiết
Khảo sát hiệu quả loại bỏ gốc tự do DPPH: khả năng loại
bỏ gốc tự do DPPH của các cao chiết được thực hiện theo
Sharma [11]. Hỗn hợp phản ứng gồm 40 µl DPPH (1000 µg/
ml) và 960 µl các cao chiết có nồng độ khác nhau. Cao chiết
Ngải tím có nồng độ 80-560 µg/ml, cao chiết Ngải trắng có
nồng độ 30-210 µg/ml và cao chiết Gừng gió có nồng độ 20-
140 µg/ml. Hỗn hợp được ủ trong tối ở nhiệt độ 30ºC trong
thời gian 30 phút, đo độ hấp thụ quang phổ ở bước sóng 517
nm. Đối chứng dương sử dụng là vitamin C. Kết quả hoạt
tính kháng oxy hóa của các cao chiết được biểu diễn bằng
giá trị EC50 (Effective Concentration of 50%) được tính dựa
trên phương trình hồi quy tuyến tính cũng như hàm lượng
chất kháng oxy hóa tương đương vitamin C (µg/ml) của
dịch chiết khảo sát. Hiệu suất làm sạch gốc tự do được tính
theo công thức:
Keywords: antioxidant, Curcuma aromatic Salisb.,
Kaempferia parviflora Wall. Ex Baker, Zingiber zerumbet
Sm.
Trong đó: AC là giá trị hấp thu của DPPH; AS là giá trị
hấp thu của mẫu thử.
Classification number: 3.4
Khảo sát hiệu quả loại bỏ gốc tự do ABTS•+: hoạt động
loại bỏ gốc tự do ABTS•+ thực hiện theo Nenadis [12].
Chuẩn bị dung dịch ABTS•+ bằng cách trộn 2 ml dung dịch
ABTS 7 mM và 2 ml dung dịch K2S2O8 2,45 mM, ủ trong tối
16 giờ, sau đó pha loãng bằng ethanol (khoảng 30 lần), điều
chỉnh độ hấp thu ở bước sóng 734 nm đạt 0,7±0,05. Tiến
hành cho 990 µl ABTS•+ vào 10 µl các cao chiết ở các nồng
độ khác nhau. Cao chiết Ngải tím có nồng độ 7,5-52,5 µg/
ml, cao Ngải trắng có nồng độ 3-21 µg/ml và cao Gừng gió
có nồng độ 5-35 µg/ml. Hỗn hợp phản ứng được ủ trong 6
phút, sau đó đo độ hấp thụ quang phổ ở bước sóng 734 nm.
Đối chứng dương được sử dụng là trolox. Kết quả hoạt tính
27
62(5) 5.2020
Khoa học Y - Dược
kháng oxy hóa của các cao chiết được biểu diễn bằng giá trị
EC50 được tính dựa trên phương trình hồi quy tuyến tính và
hàm lượng chất kháng oxy hóa tương đương trolox (µg/ml)
của dịch chiết khảo sát. Hiệu suất làm sạch gốc tự do được
tính theo công thức:
Hoạt tính kháng oxy hóa
Hiệu quả loại bỏ gốc tự do DPPH: hàm lượng chất
kháng oxy hóa tương đương vitamin C (μg/ml) cũng như
giá trị EC50 của các cao chiết được tính toán và trình bày ở
bảng 2 và bảng 3.
Bảng 2. Phần trăm ức chế và hàm lượng chất kháng oxy hóa
tương đương vitamin C (μg/ml) của các cao chiết.
Trong đó: AC là giá trị hấp thu của ABTS•+; AS là giá trị
hấp thu của mẫu thử.
Hàm lượng chất kháng
oxy hóa tương đương
vitamin C (μg/ml)
Nồng độ
(μg/ml)
Hiệu suất làm sạch
gốc tự do (%)
Cao chiết
Khảo sát năng lực khử (Reducing Power - RP): RP được
thực hiện theo phương pháp Ferreira [13]. Hỗn hợp phản
ứng gồm 0,5 ml các cao ở nồng độ khác nhau từ 100-700
μg/ml, 0,5 ml đệm phosphate (0,2 M, pH=6,6) và 0,5 ml
K3Fe(CN)6 1%. Sau đó hỗn hợp phản ứng được ủ ở 50ºC
trong 20 phút, thêm 0,5 ml CCl3COOH 10% rồi ly tâm 3000
vòng/phút trong 10 phút. Nhẹ nhàng rút 0,5 ml dịch phía
trên cho vào 0,5 ml nước và 0,1 ml FeCl3 0,1%, lắc đều. Đo
độ hấp thụ quang phổ của hỗn hợp phản ứng ở bước sóng
700 nm. Chất đối chứng dương sử dụng là trolox. Hiệu quả
kháng oxy hóa của các cao chiết ở các nồng độ khác nhau
được so sánh với chất chuẩn bằng cách sử dụng nồng độ mà
tại đó chất chuẩn hay cao chiết (µg/ml) có giá trị OD=0,5
(OD0,5) cũng như hàm lượng chất kháng oxy hóa tương
đương trolox (μg/ml) của các dịch chiết.
80
12,106±0,146
20,357±0,199
26,091±0,241
32,749±0,199
40,076±0,253
46,862±0,417
53,743±0,096
19,720±0,096
32,940±0,526
43,135±0,581
56,610±0,345
66,868±0,146
77,636±0,345
89,965±0,287
18,860±0,096
29,086±0,191
41,319±0,253
50,175±0,146
64,097±0,292
74,004±0,191
82,319±0,096
0,973±0,010
1,541±0,014
1,935±0,017
2,394±0,014
2,898±0,017
3,365±0,029
3,839±0,007
1,497±0,007
2,407±0,036
3,109±0,040
4,037±0,024
4,743±0,010
5,484±0,024
6,333±0,020
1,438±0,007
2,142±0,013
2,984±0,017
3,593±0,010
4,552±0,020
5,234±0,013
5,806±0,007
160
240
320
400
480
560
30
Ngải tím
60
90
Ngải trắng
120
150
180
210
20
Định lượng polyphenol tổng và flavonoid tổng trong
cao chiết
40
Hàm lượng polyphenol tổng trong các cao chiết được
xác định bằng thuốc thử Folin-Ciocalteu theo mô tả của
Rebaya [14]. Hàm lượng flavonoid tổng được xác định theo
phương pháp so màu AlCl3 của Bag [15].
60
Gừng gió
80
100
120
140
Kết quả
Kết quả ở bảng 2 cho thấy, hàm lượng chất kháng oxy
hóa tương đương vitamin C (μg/ml) của các cao chiết cũng
tăng lên khi nồng độ cao chiết tăng lên. Cụ thể là ở cao
chiết Ngải tím hàm lượng chất kháng oxy hóa tương đương
vitamin C (μg/ml) tăng từ 0,973±0,010 lên 3,839±0,007
μg/ml với hiệu quả làm sạch gốc tự do DPPH tăng từ
12,106±0,146% lên 53,743±0,096% ở nồng độ cao chiết từ
80-560 μg/ml. Cao chiết Ngải trắng tăng từ 1,497±0,007 lên
6,333±0,020 μg/ml với hiệu suất tăng từ 19,720±0,096%
lên 89,965±0,287% ở nồng độ từ 30-210 μg/ml và cao
chiết Gừng gió với hiệu quả làm sạch gốc tự do từ tăng từ
18,860±0,096% lên 82,319±0,096% cùng hàm lượng tương
đương tăng từ 1,438±0,007 lên 5,806±0,007 μg/ml khi nồng
độ tăng từ 20-140 μg/ml.
Độ ẩm bột nguyên liệu và hiệu suất chiết cao
Độ ẩm của bột nguyên liệu Ngải tím, Ngải trắng và Gừng
gió đã được xác định và có giá trị lần lượt là 4,736±0,180%,
4,749±0,132% và 4,888±0,120%. Các giá trị này cho thấy
phù hợp theo quy định của Dược điển Việt Nam V [10] (độ
ẩm bột nguyên liệu <9%).
Hiệu suất chiết cao đạt từ 9,6 đến 10,21%, và các cao có
tính chất được trình bày ở bảng 1.
Bảng 1. Hiệu suất, trạng thái và màu sắc của các cao chiết.
Hiệu suất
chiết cao (%)
Cao chiết
Trạng thái
Màu sắc
Ngải tím
Ngải trắng
Gừng gió
10,06
Sánh đặc
Sánh đặc
Sánh đặc
Tím đen
Xanh đen
Nâu đen
10,21
Kết quả tính toán giá trị EC50 ở bảng 3 cho thấy, cao Ngải
tím (EC50=503,722 μg/ml), cao Ngải trắng (EC50=108,984
9,6
62(5) 5.2020
28
Khoa học Y - Dược
μg/ml) và cao Gừng gió (EC50=78,729 μg/ml) là khá tốt, đặc
Kết quả ở bảng 4 cho thấy, hàm lượng chất kháng oxy
biệt là gừng gió (EC50 <100 μg/ml) đều cao hơn vitamin C hóa tương đương trolox (μg/ml) của các cao chiết cũng tăng
lên khi nồng độ cao chiết tăng lên. Cụ thể là ở cao chiết Ngải
tím, hàm lượng chất kháng oxy hóa tương đương trolox (μg/
ml) tăng từ 2,321±0,057 lên 11,529±0,044 μg/ml khi nồng
độ cao chiết tăng từ 7,5-45 μg/ml, cao chiết Ngải trắng tăng
từ 1,933±0,016 lên 10,402±0,027 μg/ml khi tăng nồng độ từ
3-21 μg/ml và cao chiết Gừng gió tăng từ 2,446±0,042 lên
11,345±0,089 μg/ml khi nồng độ tăng từ 5-35 μg/ml.
(EC50=3,581 μg/ml) lần lượt là 140,649; 30,430 và 21,983
lần. Như vậy, hiệu quả loại bỏ gốc tự do DPPH của các
cao chiết được xếp theo thứ tự là cao Gừng gió>cao Ngải
trắng>cao Ngải tím. Nhìn chung, trong 3 loài thực vật trên
thì Gừng gió và Ngải trắng có hoạt động loại bỏ gốc tự do
DPPH tốt vì giá trị EC50 thấp.
Bảng 3. Hiệu quả làm sạch gốc tự do DPPH của vitamin C và các
cao chiết.
Hiệu quả làm sạch gốc tự do ABTS•+ của các cao chiết
và chất chuẩn được trình bày thông qua giá trị EC50 suy ra
từ phương trình hồi quy tuyến tính tương ứng, kết quả được
trình bày ở bảng 5.
Bảng 5. Hiệu quả làm sạch gốc tự do ABTS•+ của trolox và các
cao chiết.
Phương trình hồi quy tuyến tính
Vitamin C y=14,5253x-2,0211
Ngải tím y=0,0916x+3,3397
Ngải trắng y=0,4106x+5,2511
Gừng gió y=0,5749x+4,7388
Giá trị EC50 (µg/ml)
3,581
503,722
108,984
78,729
Phương trình hồi quy tuyến tính
y=5,6014x-0,0687
Giá trị EC50 (µg/ml)
8,939
Khảo sát hiệu quả loại bỏ gốc tự do ABTS•+: hàm lượng
chất kháng oxy hóa tương đương trolox (μg/ml) của các cao
chiết được tính toán và trình bày ở bảng 4.
Trolox
Ngải tím
Ngải trắng
Gừng gió
y=1,3599x+1,2638
35,838
y=2,727x+2,3224
17,484
y=1,7086x+3,2279
27,375
Bảng 4. Hiệu suất làm sạch và hàm lượng chất kháng oxy hóa
tương đương trolox (μg/ml) của các cao chiết.
Kết quả giá trị EC50 ở bảng 5 cho thấy, cao Ngải tím
(EC50=35,838 μg/ml), cao Ngải trắng (EC50=17,484 μg/
ml) và cao Gừng gió (EC50=27,375 μg/ml) đều thể hiện khả
năng kháng oxy hóa rất tốt. Tuy nhiên, so với chất chuẩn
trolox thì yếu hơn (EC50 =8,939 μg/ml) lần lượt là 4,009;
1,956 và 3,063 lần.
Hàm lượng chất
Hiệu suất làm sạch kháng oxy hóa
Cao chiết
Nồng độ (μg/ml)
gốc tự do (%)
tương đương
trolox (μg/ml)
7,5
15,0
22,5
30,0
37,5
42,5
45
12,934±0,321
22,822±0,185
30,786±0,334
42,117±0,160
51,523±0,515
57,402±0,334
64,511±0,245
10,758±0,089
19,826±0,089
28,279±0,177
35,861±0,320
44,057±0,154
50,666±0,154
58,197±0,154
12,632±0,236
22,325±0,496
29,887±0,445
37,654±0,408
44,805±0,178
53,241±0,408
63,477±0,496
2,321±0,057
4,086±0,033
5,508±0,060
7,531±0,029
9,210±0,092
10,260±0,060
11,529±0,044
1,933±0,016
3,552±0,016
5,061±-,032
6,414±0,057
7,878±0,027
9,057±0,027
10,402±0,027
2,446±0,042
3,998±0,089
5,348±0,080
6,734±0,073
8,011±0,032
9,517±0,073
11,345±0,089
Từ kết quả trên cho thấy, hiệu quả loại bỏ gốc tự do
ABTS•+ của các cao chiết được xếp theo thứ tự là cao Ngải
trắng>cao Gừng gió>cao Ngải tím. Nhìn chung, cả 3 loài
thực vật trên có hoạt động loại bỏ gốc tự do ABTS•+ rất tốt,
giá trị EC50 thấp (<100 μg/ml).
Ngải tím
Năng lực khử: để đánh giá năng lực khử, giá trị OD0,5
được dùng để so sánh vì khi độ hấp thu càng cao, năng lực
khử càng mạnh. Giá trị OD0,5 cũng được suy ra từ phương
trình hồi quy tuyến tính của trolox và các cao chiết tương
ứng. Các kết quả nghiên cứu về năng lực khử của các cao
chiết được thể hiện ở bảng 6 và 7.
3
6
9
Ngải trắng 12
15
18
21
5
Bảng 6. Năng lực khử của trolox và các cao chiết.
Phương trình hồi quy tuyến tính
y=0,0124x+0,0812
Giá trị OD0,5
33,774
Trolox
Ngải tím
Ngải trắng
Gừng gió
y=0,0009x+0,0933
451,889
177
10
15
y=0,0020x+0,1460
y=0,0012x+0,0931
339,083
Gừng gió
20
25
30
35
Kết quả bảng 6 cho thấy năng lực khử của các cao chiết
Ngải tím (OD0,5=451,889), Ngải trắng (OD0,5=177) và
Gừng gió (OD0,5=339,083) đều thấp hơn chất chuẩn trolox
(OD0,5=33,774) lần lượt 13,38, 5,241 và 10,04 lần.
29
62(5) 5.2020
Khoa học Y - Dược
Ngoài giá trị OD0,5 thì hàm lượng tương đương chất
chuẩn trolox μg/ml (TEC) của các cao chiết cũng được tính
toán và thể hiện ở bảng 7.
Bàn luận
So sánh kết quả ở bảng 2 đến bảng 8 khi nghiên cứu
về Ngải tím của chúng tôi với các nghiên cứu khác cho
thấy, hàm lượng polyphenol và flavonoid tổng của cao
chiết ethanol rễ Ngải tím đều cao hơn trong nghiên cứu này
(100,15±8,34 mg GAE/g và 104,36±0,43 mg QE/g) [16].
Hoạt động làm sạch gốc tự do DPPH của Ngải tím trong
nghiên cứu của chúng tôi cũng yếu hơn rất nhiều so với
nghiên cứu của Wungsintaweekul, et al. (EC50=61,5 μg/ml)
[17]. Tương tự trong một nghiên cứu khác của Butkhup, et
al. với nồng độ cao chiết là 500 μg/ml thì hiệu suất ức chế
lên đến 60,64% [18].
Bảng 7. Hàm lượng chất kháng oxy hóa tương đương trolox (μg/
ml) của các cao chiết.
Nồng độ
100
Ngải tím
Ngải trắng
Gừng gió
9,823±0,352
16,435±0,081
23,613±0,161
30,763±0,246
37,349±0,203
45,656±0,168
50,253±0,259
25,710±0,213
39,769±0,123
57,538±0,186
69,097±0,161
83,828±0,123
101,194±0,161
122,914±0,186
12,968±0,161
19,661±0,213
26,435±0,081
36,409±0,246
44,634±0,186
58,613±0,161
67,591±0,186
200
300
400
500
600
700
Đối với Ngải trắng, qua kết quả nghiên cứu cho thấy
hoạt tính kháng oxy hóa của cao chiết Ngải trắng cũng có
sự khác biệt. Theo nghiên cứu của Lee, et al. trên cao chiết
ethanol thân rễ Ngải trắng của Nhật Bản cho thấy, cao chiết
chỉ làm sạch 27,2% gốc tự do DPPH khi ở nồng độ 100
μg/ml và tăng lên 80,2% khi nồng độ cao chiết là 1 mg/ml
và EC50 là 0,27±0,01 mg/ml; ở năng lực khử, khi cao chiết
ở nồng độ 1 mg/ml thì độ hấp thu chỉ đạt 0,4 và OD0,5 lên
đến 2,38±0,04 mg/ml, trong khi đó nghiên cứu của chúng
tôi giá trị EC50 ở phương pháp DPPH là 108,984 μg/ml và ở
năng lực khử với giá trị OD0,5 là 177 μg/ml. Các kết quả này
cho thấy rằng, hoạt tính kháng oxy hóa của Ngải trắng theo
nghiên cứu của Lee yếu hơn nghiên cứu này rất nhiều [19].
Trong khi đó, hoạt động làm sạch gốc tự do DPPH của cao
chiết methanol trong nghiên cứu của Al-Reza, et al. lại cho
kết quả tốt hơn so với nghiên cứu của chúng tôi khi giá trị
EC50 đạt 16,58 μg/ml [20].
Kết quả về hàm lượng chất kháng oxy hóa ở bảng 7 cho
thấy, hàm lượng chất kháng oxy hóa tương đương trolox
(μg/ml) của các cao chiết cũng tăng lên khi nồng độ cao
chiết tăng lên từ 100-700 μg/ml. Cụ thể là ở cao chiết Ngải
tím, hàm lượng chất kháng oxy hóa tương đương trolox (μg/
ml) tăng từ 9,823±0,352 lên 50,253±0,259, cao chiết Ngải
trắng tăng từ 25,710±0,213 lên 122,914±0,186 và cao chiết
Gừng gió tăng từ 12,968±0,161 lên 67,591±0,186. Từ kết
quả trên cho thấy, năng lực khử của các cao chiết được xếp
theo thứ tự là cao Ngải trắng>cao Gừng gió>cao Ngải tím,
với cao Ngải trắng có giá trị OD0,5 thấp hơn 200 μg/ml.
Định lượng polyphenol tổng và flavonoid tổng
Hàm lượng polyphenol tổng và flavonoid tổng trong
các cao chiết được xác định tương đương hàm lượng
acid gallic và quercetin với phương trình đường chuẩn
y=0,0881x+0,0831 (R²=0,9993) và y=0,0067x-0,0026
(R²=0,9970). Kết quả được trình bày ở bảng 8.
Đối với Gừng gió, hàm lượng polyphenol tổng và
flavonoid (104,075±0,857 mg GAE/g và 74,229±0,215 mg
QE/g) trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn trong nghiên
cứu của Nag, et al. (33,64±3,22 mg GAE/g và 26,79±0,68
mg QE/g) và hoạt tính kháng oxy hóa cũng mạnh hơn
rất nhiều so với EC50 trong phương pháp DPPH của Nag
đạt 417,14 μg/ml [21]. Trong nghiên cứu của Bhavesh, et
al., hàm lượng polyphenol và flavonoid tổng lại cao hơn
(331,93±1,23 mg GEA/g và 198±2,65 mg QE/g), tuy nhiên
hoạt tính làm sạch gốc tự do DPPH và ABTS•+ thì yếu hơn
so với nghiên cứu của chúng tôi với giá trị EC50 lần lượt là
117,65±1,45 μg/ml và 78,72±1,12 μg/ml [22].
Bảng 8. Kết quả định lượng polyphenol tổng và flavonoid tổng
của các cao chiết.
Hàm lượng polyphenol tổng
TPC (mg GAE/g cao chiết)
Hàm lượng flavonoid tổng
TFC (mg QE/g cao chiết)
Cao chiết
Ngải tím
Ngải trắng
Gừng gió
61,585±0,365
133,246±0,409
104,075±0,857
45,124±0,570
81,443±0,570
74,229±0,215
Kết quả ở bảng 8 cho thấy, hàm lượng polyphenol và
flavonoid chứa trong Ngải trắng là cao nhất với giá trị lần lượt
là 133,246±0,409 mg GAE/g và 81,443±0,570 mg QE/g, kế
đến là Gừng gió với giá trị tương ứng 104,075±0,857 mg
GAE/g và 74,229±0,215 mg GE/g, cuối cùng là Ngải tím
với 61,585±0,365 mg GAE/g và 45,124±0,570 mg GE/g.
Kết quả này cũng phù hợp với hoạt tính kháng oxy hóa của
cao chiết Ngải trắng và Gừng gió luôn tốt hơn so với cao
Ngải tím.
Tất cả sự khác nhau của nghiên cứu trên có thể là do
sự khác biệt về vị trí địa lý, thổ nhưỡng và giống thực vật
nghiên cứu. Ngoài ra, còn có thể là do khác nhau về dung
môi chiết xuất, methanol là dung môi có thể chiết xuất nhiều
thành phần có hoạt tính sinh học hơn dung môi ethanol, tuy
nhiên methanol là dung môi có tính độc hơn ethanol.
62(5) 5.2020
30
Khoa học Y - Dược
of Curcuma aromatica oil on proliferation of hepatoma in mice”, World
Journal of Gastroenterology, 6(2), pp.216-219.
Kết luận
Nghiên cứu khả năng kháng oxy hóa của cao chiết ethanol
[9] C.J. Chang, T.F. Tzeng, S.S. Liou, Y.S. Chang, I.M. Liu (2012),
“Regulation of lipid disorders by ethanol extracts from Zingiber zerumbet
in high-fat diet-induced rats”, Food Chemistry, 132(1), pp.460-467.
thân rễ Ngải tím, Ngải trắng và Gừng gió cho thấy được tiềm
năng kháng oxy hóa của các loài thực vật này. Bằng cách
sử dụng các phương pháp thử nghiệm hoạt tính sinh học
khác nhau cho nghiên cứu như phương pháp DPPH, ABTS•+
và năng lực khử (Reducing Power), kết quả cho thấy rằng
Ngải trắng và Gừng gió thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa
rất tốt khi các giá trị EC50 thấp. Kết quả này cũng phù hợp
với việc định lượng được hai thành phần chính quan trọng
có tác dụng kháng oxy hóa mạnh thường xuất hiện trong
nhiều loài thực vật là hợp chất polyphenol và flavonoid với
kết quả hàm lượng khá cao là 133,246±0,409 mg GAE/g và
81,443±0,570 mg QE/g cho Ngải trắng; 104,075±0,857 mg
GAE/g và 74,229±0,215 mg GE/g cho Gừng gió. Kết quả
nghiên cứu thể hiện rõ hoạt tính kháng oxy hóa của các loài
thực vật này và là một trong số các loài thực vật có tiềm
năng ứng dụng vào việc phòng và trị bệnh trên người.
[10] Bộ Y tế (2017), Dược điển Việt Nam V, Nhà xuất bản Y học.
[11] O.P. Sharma, T.K. Bhat (2009), “DPPH antioxydant assay
revisited”, Food Chemistry, 113(4), pp.1202-1205.
[12] N. Nenadis, L.F. Wang, M. Tsimidou, H.Y. Zhang (2004),
“Estimation of scavenging activity of phenolic compounds using the
ABTS•+ assay”, Journal of Agricultural and Food Chemistry, 52(15),
pp.4669-4674.
[13] I.C.F.R. Ferreira, P. Baptista, M. Vilas-Boas, L. Barros (2007),
“Free-radical scavenging capacity and reducing power of wild edible
mushrooms from northeast Portugal: Individual cap and stipe activity”,
Food Chemistry, 100(4), pp.1511-1516.
[14] A. Rebaya, S.I. Belghith, B. Baghdikian, V.M. Leddet, F.
Mabrouki, E. Olivier, J.K. Cherif, M.T. Ayadi (2015), “Total phenolic,
total flavonoid, tannin content, and antioxydant capacity of Halimium
halimifolium (Cistaceae)”, Journal of Applied Pharmaceutical Science,
5(1), pp.52-57.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Chung, Bùi Xuân Chương, Nguyễn
Thượng Dong, Đỗ Trung Đàm, Phạm Văn Hiền, Vũ Ngọc Lộ, Phạm Duy
Mai, Phạm Kim Mẫn, Đoàn Thị Như, Nguyễn Tập, Trần Toàn (2004),
Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học và
Kỹ thuật.
[15] G.C. Bag, P.G. Devi, T. Bhaigyabati (2015), “Assessment of total
flavonoid content and antioxydant activity of methanolic rhizome extract
of three hedychium species of manipur Valley”, International Journal of
Pharmaceutical Sciences Review and Research, 30(1), pp.154-159.
[16] W. Kusirisin, S. Srichairatanakool, P. Lerttrakarnnon, N. Lailerd,
M. Suttajit, C. Jaikang, C. Chaiyasut (2009), “Antioxydative activity,
polyphenolic content and anti-glycation effect of some Thai medicinal
plants traditionally used in diabetic patients”, Medicinal Chemistry, 5(2),
pp.139-147.
[2] Phạm Hoàng Hộ (1999), Cây cỏ Việt Nam, tập 1-3, Nhà xuất bản
Trẻ.
[3] Đỗ Tất Lợi (2004), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nhà
xuất bản Y học.
[17] J. Wungsintaweekul, W. Sitthithaworn, W. Putalun, H.W.
Pfeifhoffer, A. Brantner (2010), “Antimicrobial, antioxydant activities and
chemical composition of selected Thai spices”, Sonklanakarin Journal of
Science and Technology, 32(6), pp.589-598.
[4] Bùi Kim Anh, Đoàn Duy Tiên, Phạm Gia Điền, Hồ Đắc Hùng,
Phạm Quang Dương, Bá Thị Dương, Nguyễn Thị Ngoan, Vũ Đình Hoàng
(2018), “Một số hợp chất phân lập từ thân rễ Ngải đen (Kaempferia
parviflora Wall. ex. Baker), họ Gừng (Zingiberaceae)”, Tạp chí Dược học,
58(1), tr.29-31.
[18] L. Butkhup, S. Samappito (2011), “In vitro free radical
scavenging and antimicrobial activity of some selected Thai medicinal
plants”, Research Journal of Medicinal Plant, 5(3), pp.254-265.
[5] P. Temkitthawon, T.R. Hinds, J.A. Beavo, J. Viyoch, K.
Suwanborirux, W. Ponggamornkul, P. Sawasdee, K. Ingkaninan (2011),
“Kaempferia parviflora, a plant used in traditional medicine to enhance
sexual performance contains large amounts of low affinity PDE5
inhibitors”, Journal of Ethnopharmacology, 137, pp.1437-1441.
[19] Y.L. Lee, C.C. Weng, J.L. Mau (2007), “Antioxydant properties
of ethanolic and hot water extracts from the rhizome of Curcuma
aromatica”, Journal of Food Biochemistry, 31(6), pp.757-771.
[6] J. Wattanathorn, S. Muchimapura, T. Tong-Un, N. Saenghong, W.
Thukhum-Mee, B. Sripanidkulchai (2012), Positive modulation effect of
8-week consumption of Kaempferia parviflora on health-related physical
fitness and oxydative status in healthy elderly volunteers, Evidence-Based
Complementary and Alternative Medicine.
[20] S.M.Al-Reza,A. Rahman, M.A. Sattar, M.O. Rahman, H.M. Fida
(2010), “Essential oil composition and antioxydant activities of Curcuma
aromatica Salisb”, Food and Chemical Toxycology, 48(6), pp.1757-1760.
[21] A. Nag, M. Bandyopadhyay, A. Mukherjee (2013), “Antioxydant
activities and cytotoxycity of Zingiber zerumbet (L.) Smith rhizome”, J.
Pharmacogn. Phytochem., 2(3), pp.102-108.
[7] A. Kumar, R. Chomwal, P. Kumar, R. Sawal (2009), “Anti
inflammatory and wound healing activity of Curcuma aromatica Salisb.
extract and its formulation”, Journal of Chemical and Pharmaceutical
Research, 1(1), pp.304-310.
[22] V.D. Bhavesh, Y. Nayak, B.S. Jayashree (2013), “In vitro
antioxydant and antiglycation activity of Zingiber zerumbet (wild zinger)
rhizome extract”, International Journal of Research in Pharmaceutical
Sciences, 4(4), pp.482-489.
[8] W.Y. Wu, Q. Xu, L.C. Shi, W.B. Zhang (2000), “Inhibitory effects
31
62(5) 5.2020
Bạn đang xem tài liệu "Hoạt tính kháng oxy hóa của cao chiết ethanol thân rễ Ngải tím (Kaempferia parviflora Wall. Ex Baker), Ngải trắng (Curcuma aromatica Salisb.), Gừng gió (Zingiber zerumbet Sm.)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hoat_tinh_khang_oxy_hoa_cua_cao_chiet_ethanol_than_re_ngai_t.pdf

