Hoạt tính kháng oxy hóa của cao chiết ethanol thân rễ Ngải tím (Kaempferia parviflora Wall. Ex Baker), Ngải trắng (Curcuma aromatica Salisb.), Gừng gió (Zingiber zerumbet Sm.)

Khoa học Y - Dược  
Hoạt tính kháng oxy hóa của cao chiết ethanol  
thân rễ Ngải tím (Kaempferia parviflora Wall. Ex Baker),  
Ngải trắng (Curcuma aromatica Salisb.), Gừng gió (Zingiber zerumbet Sm.)  
Nguyễn Trọng Tuân*, Phạm Thị Sánh  
Khoa Khoa học tự nhiên, Trường Đại học Cần Thơ  
Ngày nhận bài 25/11/2019; ngày chuyển phản biện 28/11/2019; ngày nhận phản biện 26/12/2019; ngày chấp nhận đăng 31/12/2019  
Tóm tắt:  
Stress oxy hóa là một trong những nguyên nhân gây bệnh tật cho con người, chủ yếu là do tình trạng mất cân bằng  
của các chất oxy hóa với các chất kháng oxy hóa bảo vệ trong cơ thể. Do đó để nâng cao sức khỏe, hiện nay, các  
sản phẩm nguồn gốc tự nhiên chứa các chất kháng oxy hóa thường được sử dụng. Các cây thuộc họ Gừng đã được  
biết chứa nhiều hợp chất kháng oxy hóa tự nhiên. Vì vậy, nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá hoạt tính kháng  
oxy hóa của các cao chiết ethanol thân rễ Ngải tím (Kaempferia parviflora Wall. Ex Baker), Ngải trắng (Curcuma  
aromatic Salisb.) và Gừng gió (Zingiber zerumbet Sm.) bằng cách sử dụng các phương pháp thử nghiệm khác nhau  
như phương pháp DPPH, ABTS•+ và năng lực khử (Reducing power). Ngoài ra, hàm lượng polyphenol tổng và  
flavonoid tổng trong các dịch trích cũng được xác định. Kết quả cho thấy, các cao chiết đều chứa hàm lượng lớn các  
hợp chất polyphenol tổng và flavonoid tổng. Ngải trắng và Gừng gió thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa tốt hơn so với  
Ngải tím trong các phương pháp thử nghiệm. Nghiên cứu cho thấy tiềm năng lớn trong việc ứng dụng các loài thực  
vật tự nhiên này vào lĩnh vực thực phẩm và dược phẩm.  
Từ khóa: Gừng gió, kháng oxy hóa, Ngải tím, Ngải trắng.  
Chỉ số phân loại: 3.4  
nghiên cứu. Chính vì thế, trong nghiên cứu này, chúng tôi  
tập trung nghiên cứu hoạt tính kháng oxy hóa của 3 loài  
thực vật được mô tả ở trên. Các loài thực vật này được thu  
hái trên địa bàn Núi Cấm vùng Bảy Núi, thuộc huyện Tịnh  
Biên, tỉnh An Giang.  
Đặt vấn đề  
Ngải tím (Kaempferia parviflora Wall. Ex Baker), Ngải  
trắng (Curcuma aromatic Salisb.) và Gừng gió (Zingiber  
zerumbet Sm.) mọc hoang hoặc được trồng ở khắp cả nước,  
từ Bắc vào Nam, đặc biệt là các vùng đồi núi [1]. Ngải trắng  
và Gừng gió đã được mô tả trong danh lục các loài thực vật  
Việt Nam [2, 3], riêng Ngải tím mới được phát hiện ở các  
tỉnh Đăk Lăk, Gia Lai (K-Bang) và Thanh Hóa [4]. Đây là  
các cây thuộc họ Gừng, một họ có nhiều ứng dụng trong y  
học cổ truyền [1, 2]. Một số nghiên cứu trong và ngoài nước  
cho thấy đây là các loài thực vật có tiềm năng rất lớn trong  
lĩnh vực y dược. Ngải tím có chứa 5,7-dimethoxyflavone  
có khả năng ức chế mạnh emzyme PDE5 và PDE6 điều trị  
rối loạn cương dương trên chuột [5] cũng như là chất tăng  
cường sức khỏe tiềm năng cho người cao tuổi do làm giảm  
stress oxy hóa [6]. Cao chiết ethanol Ngải trắng thể hiện  
Đối tượng và phương pháp  
Nguyên liệu  
Mẫu nguyên liệu tươi (1 kg) mỗi loại được thu hái tại Núi  
CấmvùngBảyNúi,huyệnTịnhBiên,tỉnhAnGiang.Cácmẫu  
được thu hái tại các tọa độ 10°29’43’’N; 104°58’51,13’’E ở  
độ cao 600 m (Ngải tím); 10°29’60’’N; 104°58’40’’ E ở độ  
cao 400 m (Ngải trắng) và 10°30’24,98’’N; 104°58’39,55’’E  
ở độ cao 400 m (Gừng gió). Mẫu được xác nhận bởi Phùng  
Thị Hằng với số lưu mẫu Ngải tím Pl102017-AG(NC)0013,  
Ngải trắng Pl112017-AG(NC)0007 và Gừng gió Pl072016-  
hoạt tính kháng viêm do có chứa lượng lớn acid arachidonic AG(NC, NT)0017. Các mẫu này được thu hái, định danh  
[7], dầu của Ngải trắng có hoạt tính bảo vệ gan khi ức chế dựa trên đặc điểm hình thái và so sánh với tài liệu chuyên  
sự phát triển khối u của gan đến 51-52% [8]. Gừng gió ngành. Mẫu được lưu trữ tại Phòng thí nghiệm Sinh học thực  
có khả năng giảm sự tăng trọng lượng cơ thể, lượng mỡ vật, Bộ môn Sư phạm sinh học, Khoa Sư phạm, Trường Đại  
nội tạng và nồng độ lipid huyết tương [9]. Tuy nhiên hoạt học Cần Thơ. Nguyên liệu sau khi thu hái về được rửa sạch,  
tính kháng oxy hóa của các loài thực vật trên còn ít tài liệu loại bỏ tạp bẩn, cắt nhỏ, sấy ở 50°C và xay thành bột.  
* Tác giả liên hệ: [email protected]  
62(5) 5.2020  
26  
Khoa học Y - Dược  
Xác định độ ẩm bột nguyên liệu  
Antioxidant activity of ethanolic  
rhizomes extracts of Kaempferia  
parviflora Wall. Ex Baker,  
Độ ẩm bột nguyên liệu được xác định theo Dược điển  
Việt Nam V, theo phương pháp sấy [10].  
Điều chế cao chiết  
Bột khô thân rễ Ngải tím, Ngải trắng và Gừng gió được  
chiết với dung môi ethanol 96° bằng phương pháp ngâm  
trong 24 giờ (3 lần). Tất cả dịch chiết được gom lại và lọc  
để loại bỏ cặn, bụi. Dịch chiết sau khi lọc đem cô quay đuổi  
dung môi ở nhiệt độ 40-45°C thu được cao chiết ethanol  
thân rễ Ngải tím, Ngải trắng và Gừng gió. Cao chiết được  
đem cân và tính hiệu suất chiết cao, sau đó cao được bảo  
quản trong tủ lạnh ở nhiệt độ 4°C cho đến khi thí nghiệm.  
Hiệu suất chiết cao được tính theo công thức:  
Curcuma aromatica Salisb.,  
and Zingiber zerumbet Sm.  
Trong Tuan Nguyen*, Thi Sanh Pham  
College of Natural Sciences, Can Tho University  
Received 25 November 2019; accepted 31 December 2019  
Abstract:  
Oxidative stress is one of the causes of humans diseases,  
mainly due to an imbalance of oxidative compounds  
with protective antioxidants in the body. Therefore, for  
improvinghealth,nowadays,naturalproductscontaining  
antioxidants are often used. Plants belonging to the  
Zingiberaceae family have been known to contain lots  
of natural antioxidants. Therefore, this research aims to  
evaluate the antioxidant activities of ethanolic rhizomes  
extracts of Kaempferia parviflora Wall. Ex Baker,  
Curcuma aromatic Salisb., and Zingiber zerumbet Sm. by  
using some different bioassay methods such as DPPH,  
ABTS•+, and reducing power. In addition, the content  
of total polyphenol and total flavonoid in the extracts  
were also investigated. The results showed that all of the  
extracts contained high amount of total polyphenol and  
total flavonoid components. Curcuma aromatic Salisb.  
and Zingiber zerumbet Sm. species provided the stronger  
antioxidant activity than Kaempferia parviflora Wall.  
Ex Baker species in all the tested methods. In brief, this  
research reveals a great potential for application of these  
medicinal plants in food and pharmaceutical fields.  
                     
     
       
                   
Khảo sát hoạt tính kháng oxy hóa của các cao chiết  
Khảo sát hiệu quả loại bỏ gốc tự do DPPH: khả năng loại  
bỏ gốc tự do DPPH của các cao chiết được thực hiện theo  
Sharma [11]. Hỗn hợp phản ứng gồm 40 µl DPPH (1000 µg/  
ml) và 960 µl các cao chiết có nồng độ khác nhau. Cao chiết  
Ngải tím có nồng độ 80-560 µg/ml, cao chiết Ngải trắng có  
nồng độ 30-210 µg/ml và cao chiết Gừng gió có nồng độ 20-  
140 µg/ml. Hỗn hợp được ủ trong tối ở nhiệt độ 30ºC trong  
thời gian 30 phút, đo độ hấp thụ quang phổ ở bước sóng 517  
nm. Đối chứng dương sử dụng là vitamin C. Kết quả hoạt  
tính kháng oxy hóa của các cao chiết được biểu diễn bằng  
giá trị EC50 (Effective Concentration of 50%) được tính dựa  
trên phương trình hồi quy tuyến tính cũng như hàm lượng  
chất kháng oxy hóa tương đương vitamin C (µg/ml) của  
dịch chiết khảo sát. Hiệu suất làm sạch gốc tự do được tính  
theo công thức:  
     
 
 
           
       
 
 
Keywords: antioxidant, Curcuma aromatic Salisb.,  
Kaempferia parviflora Wall. Ex Baker, Zingiber zerumbet  
Sm.  
Trong đó: AC là giá trị hấp thu của DPPH; AS là giá trị  
hấp thu của mẫu thử.  
Classification number: 3.4  
Khảo sát hiệu quả loại bỏ gốc tự do ABTS•+: hoạt động  
loại bỏ gốc tự do ABTS•+ thực hiện theo Nenadis [12].  
Chuẩn bị dung dịch ABTS•+ bằng cách trộn 2 ml dung dịch  
ABTS 7 mM và 2 ml dung dịch K2S2O8 2,45 mM, ủ trong tối  
16 giờ, sau đó pha loãng bằng ethanol (khoảng 30 lần), điều  
chỉnh độ hấp thu ở bước sóng 734 nm đạt 0,7±0,05. Tiến  
hành cho 990 µl ABTS•+ vào 10 µl các cao chiết ở các nồng  
độ khác nhau. Cao chiết Ngải tím có nồng độ 7,5-52,5 µg/  
ml, cao Ngải trắng có nồng độ 3-21 µg/ml và cao Gừng gió  
có nồng độ 5-35 µg/ml. Hỗn hợp phản ứng được ủ trong 6  
phút, sau đó đo độ hấp thụ quang phổ ở bước sóng 734 nm.  
Đối chứng dương được sử dụng là trolox. Kết quả hoạt tính  
27  
62(5) 5.2020  
Khoa học Y - Dược  
kháng oxy hóa của các cao chiết được biểu diễn bằng giá trị  
EC50 được tính dựa trên phương trình hồi quy tuyến tính và  
hàm lượng chất kháng oxy hóa tương đương trolox (µg/ml)  
của dịch chiết khảo sát. Hiệu suất làm sạch gốc tự do được  
tính theo công thức:  
Hoạt tính kháng oxy hóa  
Hiệu quả loại bỏ gốc tự do DPPH: hàm lượng chất  
kháng oxy hóa tương đương vitamin C (μg/ml) cũng như  
giá trị EC50 của các cao chiết được tính toán và trình bày ở  
bảng 2 và bảng 3.  
     
 
 
Bảng 2. Phần trăm ức chế và hàm lượng chất kháng oxy hóa  
tương đương vitamin C (μg/ml) của các cao chiết.  
           
       
 
 
Trong đó: AC là giá trị hấp thu của ABTS•+; AS là giá trị  
hấp thu của mẫu thử.  
Hàm lượng chất kháng  
oxy hóa tương đương  
vitamin C (μg/ml)  
Nồng độ  
(μg/ml)  
Hiệu suất làm sạch  
gốc tự do (%)  
Cao chiết  
Khảo sát năng lực khử (Reducing Power - RP): RP được  
thực hiện theo phương pháp Ferreira [13]. Hỗn hợp phản  
ứng gồm 0,5 ml các cao ở nồng độ khác nhau từ 100-700  
μg/ml, 0,5 ml đệm phosphate (0,2 M, pH=6,6) và 0,5 ml  
K3Fe(CN)6 1%. Sau đó hỗn hợp phản ứng được ủ ở 50ºC  
trong 20 phút, thêm 0,5 ml CCl3COOH 10% rồi ly tâm 3000  
vòng/phút trong 10 phút. Nhẹ nhàng rút 0,5 ml dịch phía  
trên cho vào 0,5 ml nước và 0,1 ml FeCl3 0,1%, lắc đều. Đo  
độ hấp thụ quang phổ của hỗn hợp phản ứng ở bước sóng  
700 nm. Chất đối chứng dương sử dụng là trolox. Hiệu quả  
kháng oxy hóa của các cao chiết ở các nồng độ khác nhau  
được so sánh với chất chuẩn bằng cách sử dụng nồng độ mà  
tại đó chất chuẩn hay cao chiết (µg/ml) có giá trị OD=0,5  
(OD0,5) cũng như hàm lượng chất kháng oxy hóa tương  
đương trolox (μg/ml) của các dịch chiết.  
80  
12,106±0,146  
20,357±0,199  
26,091±0,241  
32,749±0,199  
40,076±0,253  
46,862±0,417  
53,743±0,096  
19,720±0,096  
32,940±0,526  
43,135±0,581  
56,610±0,345  
66,868±0,146  
77,636±0,345  
89,965±0,287  
18,860±0,096  
29,086±0,191  
41,319±0,253  
50,175±0,146  
64,097±0,292  
74,004±0,191  
82,319±0,096  
0,973±0,010  
1,541±0,014  
1,935±0,017  
2,394±0,014  
2,898±0,017  
3,365±0,029  
3,839±0,007  
1,497±0,007  
2,407±0,036  
3,109±0,040  
4,037±0,024  
4,743±0,010  
5,484±0,024  
6,333±0,020  
1,438±0,007  
2,142±0,013  
2,984±0,017  
3,593±0,010  
4,552±0,020  
5,234±0,013  
5,806±0,007  
160  
240  
320  
400  
480  
560  
30  
Ngải tím  
60  
90  
Ngải trắng  
120  
150  
180  
210  
20  
Định lượng polyphenol tổng và flavonoid tổng trong  
cao chiết  
40  
Hàm lượng polyphenol tổng trong các cao chiết được  
xác định bằng thuốc thử Folin-Ciocalteu theo mô tả của  
Rebaya [14]. Hàm lượng flavonoid tổng được xác định theo  
phương pháp so màu AlCl3 của Bag [15].  
60  
Gừng gió  
80  
100  
120  
140  
Kết quả  
Kết quả ở bảng 2 cho thấy, hàm lượng chất kháng oxy  
hóa tương đương vitamin C (μg/ml) của các cao chiết cũng  
tăng lên khi nồng độ cao chiết tăng lên. Cụ thể là ở cao  
chiết Ngải tím hàm lượng chất kháng oxy hóa tương đương  
vitamin C (μg/ml) tăng từ 0,973±0,010 lên 3,839±0,007  
μg/ml với hiệu quả làm sạch gốc tự do DPPH tăng từ  
12,106±0,146% lên 53,743±0,096% ở nồng độ cao chiết từ  
80-560 μg/ml. Cao chiết Ngải trắng tăng từ 1,497±0,007 lên  
6,333±0,020 μg/ml với hiệu suất tăng từ 19,720±0,096%  
lên 89,965±0,287% ở nồng độ từ 30-210 μg/ml và cao  
chiết Gừng gió với hiệu quả làm sạch gốc tự do từ tăng từ  
18,860±0,096% lên 82,319±0,096% cùng hàm lượng tương  
đương tăng từ 1,438±0,007 lên 5,806±0,007 μg/ml khi nồng  
độ tăng từ 20-140 μg/ml.  
Độ ẩm bột nguyên liệu và hiệu suất chiết cao  
Độ ẩm của bột nguyên liệu Ngải tím, Ngải trắng và Gừng  
gió đã được xác định và có giá trị lần lượt là 4,736±0,180%,  
4,749±0,132% và 4,888±0,120%. Các giá trị này cho thấy  
phù hợp theo quy định của Dược điển Việt Nam V [10] (độ  
ẩm bột nguyên liệu <9%).  
Hiệu suất chiết cao đạt từ 9,6 đến 10,21%, và các cao có  
tính chất được trình bày ở bảng 1.  
Bảng 1. Hiệu suất, trạng thái và màu sắc của các cao chiết.  
Hiệu suất  
chiết cao (%)  
Cao chiết  
Trạng thái  
Màu sắc  
Ngải tím  
Ngải trắng  
Gừng gió  
10,06  
Sánh đặc  
Sánh đặc  
Sánh đặc  
Tím đen  
Xanh đen  
Nâu đen  
10,21  
Kết quả tính toán giá trị EC50 ở bảng 3 cho thấy, cao Ngải  
tím (EC50=503,722 μg/ml), cao Ngải trắng (EC50=108,984  
9,6  
62(5) 5.2020  
28  
Khoa học Y - Dược  
μg/ml) và cao Gừng gió (EC50=78,729 μg/ml) là khá tốt, đặc  
Kết quả ở bảng 4 cho thấy, hàm lượng chất kháng oxy  
biệt là gừng gió (EC50 <100 μg/ml) đều cao hơn vitamin C hóa tương đương trolox (μg/ml) của các cao chiết cũng tăng  
lên khi nồng độ cao chiết tăng lên. Cụ thể là ở cao chiết Ngải  
tím, hàm lượng chất kháng oxy hóa tương đương trolox (μg/  
ml) tăng từ 2,321±0,057 lên 11,529±0,044 μg/ml khi nồng  
độ cao chiết tăng từ 7,5-45 μg/ml, cao chiết Ngải trắng tăng  
từ 1,933±0,016 lên 10,402±0,027 μg/ml khi tăng nồng độ từ  
3-21 μg/ml và cao chiết Gừng gió tăng từ 2,446±0,042 lên  
11,345±0,089 μg/ml khi nồng độ tăng từ 5-35 μg/ml.  
(EC50=3,581 μg/ml) lần lượt là 140,649; 30,430 và 21,983  
lần. Như vậy, hiệu quả loại bỏ gốc tự do DPPH của các  
cao chiết được xếp theo thứ tự là cao Gừng gió>cao Ngải  
trắng>cao Ngải tím. Nhìn chung, trong 3 loài thực vật trên  
thì Gừng gió và Ngải trắng có hoạt động loại bỏ gốc tự do  
DPPH tốt vì giá trị EC50 thấp.  
Bảng 3. Hiệu quả làm sạch gốc tự do DPPH của vitamin C và các  
cao chiết.  
Hiệu quả làm sạch gốc tự do ABTS•+ của các cao chiết  
và chất chuẩn được trình bày thông qua giá trị EC50 suy ra  
từ phương trình hồi quy tuyến tính tương ứng, kết quả được  
trình bày ở bảng 5.  
Bảng 5. Hiệu quả làm sạch gốc tự do ABTS•+ của trolox và các  
cao chiết.  
Phương trình hồi quy tuyến tính  
Vitamin C y=14,5253x-2,0211  
Ngải tím y=0,0916x+3,3397  
Ngải trắng y=0,4106x+5,2511  
Gừng gió y=0,5749x+4,7388  
Giá trị EC50 (µg/ml)  
3,581  
503,722  
108,984  
78,729  
Phương trình hồi quy tuyến tính  
y=5,6014x-0,0687  
Giá trị EC50 (µg/ml)  
8,939  
Khảo sát hiệu quả loại bỏ gốc tự do ABTS•+: hàm lượng  
chất kháng oxy hóa tương đương trolox (μg/ml) của các cao  
chiết được tính toán và trình bày ở bảng 4.  
Trolox  
Ngải tím  
Ngải trắng  
Gừng gió  
y=1,3599x+1,2638  
35,838  
y=2,727x+2,3224  
17,484  
y=1,7086x+3,2279  
27,375  
Bảng 4. Hiệu suất làm sạch và hàm lượng chất kháng oxy hóa  
tương đương trolox (μg/ml) của các cao chiết.  
Kết quả giá trị EC50 ở bảng 5 cho thấy, cao Ngải tím  
(EC50=35,838 μg/ml), cao Ngải trắng (EC50=17,484 μg/  
ml) và cao Gừng gió (EC50=27,375 μg/ml) đều thể hiện khả  
năng kháng oxy hóa rất tốt. Tuy nhiên, so với chất chuẩn  
trolox thì yếu hơn (EC50 =8,939 μg/ml) lần lượt là 4,009;  
1,956 và 3,063 lần.  
Hàm lượng chất  
Hiệu suất làm sạch kháng oxy hóa  
Cao chiết  
Nồng độ (μg/ml)  
gốc tự do (%)  
tương đương  
trolox (μg/ml)  
7,5  
15,0  
22,5  
30,0  
37,5  
42,5  
45  
12,934±0,321  
22,822±0,185  
30,786±0,334  
42,117±0,160  
51,523±0,515  
57,402±0,334  
64,511±0,245  
10,758±0,089  
19,826±0,089  
28,279±0,177  
35,861±0,320  
44,057±0,154  
50,666±0,154  
58,197±0,154  
12,632±0,236  
22,325±0,496  
29,887±0,445  
37,654±0,408  
44,805±0,178  
53,241±0,408  
63,477±0,496  
2,321±0,057  
4,086±0,033  
5,508±0,060  
7,531±0,029  
9,210±0,092  
10,260±0,060  
11,529±0,044  
1,933±0,016  
3,552±0,016  
5,061±-,032  
6,414±0,057  
7,878±0,027  
9,057±0,027  
10,402±0,027  
2,446±0,042  
3,998±0,089  
5,348±0,080  
6,734±0,073  
8,011±0,032  
9,517±0,073  
11,345±0,089  
Từ kết quả trên cho thấy, hiệu quả loại bỏ gốc tự do  
ABTS•+ của các cao chiết được xếp theo thứ tự là cao Ngải  
trắng>cao Gừng gió>cao Ngải tím. Nhìn chung, cả 3 loài  
thực vật trên có hoạt động loại bỏ gốc tự do ABTS•+ rất tốt,  
giá trị EC50 thấp (<100 μg/ml).  
Ngải tím  
Năng lực khử: để đánh giá năng lực khử, giá trị OD0,5  
được dùng để so sánh vì khi độ hấp thu càng cao, năng lực  
khử càng mạnh. Giá trị OD0,5 cũng được suy ra từ phương  
trình hồi quy tuyến tính của trolox và các cao chiết tương  
ứng. Các kết quả nghiên cứu về năng lực khử của các cao  
chiết được thể hiện ở bảng 6 và 7.  
3
6
9
Ngải trắng 12  
15  
18  
21  
5
Bảng 6. Năng lực khử của trolox và các cao chiết.  
Phương trình hồi quy tuyến tính  
y=0,0124x+0,0812  
Giá trị OD0,5  
33,774  
Trolox  
Ngải tím  
Ngải trắng  
Gừng gió  
y=0,0009x+0,0933  
451,889  
177  
10  
15  
y=0,0020x+0,1460  
y=0,0012x+0,0931  
339,083  
Gừng gió  
20  
25  
30  
35  
Kết quả bảng 6 cho thấy năng lực khử của các cao chiết  
Ngải tím (OD0,5=451,889), Ngải trắng (OD0,5=177) và  
Gừng gió (OD0,5=339,083) đều thấp hơn chất chuẩn trolox  
(OD0,5=33,774) lần lượt 13,38, 5,241 và 10,04 lần.  
29  
62(5) 5.2020  
Khoa học Y - Dược  
Ngoài giá trị OD0,5 thì hàm lượng tương đương chất  
chuẩn trolox μg/ml (TEC) của các cao chiết cũng được tính  
toán và thể hiện ở bảng 7.  
Bàn luận  
So sánh kết quả ở bảng 2 đến bảng 8 khi nghiên cứu  
về Ngải tím của chúng tôi với các nghiên cứu khác cho  
thấy, hàm lượng polyphenol và flavonoid tổng của cao  
chiết ethanol rễ Ngải tím đều cao hơn trong nghiên cứu này  
(100,15±8,34 mg GAE/g và 104,36±0,43 mg QE/g) [16].  
Hoạt động làm sạch gốc tự do DPPH của Ngải tím trong  
nghiên cứu của chúng tôi cũng yếu hơn rất nhiều so với  
nghiên cứu của Wungsintaweekul, et al. (EC50=61,5 μg/ml)  
[17]. Tương tự trong một nghiên cứu khác của Butkhup, et  
al. với nồng độ cao chiết là 500 μg/ml thì hiệu suất ức chế  
lên đến 60,64% [18].  
Bảng 7. Hàm lượng chất kháng oxy hóa tương đương trolox (μg/  
ml) của các cao chiết.  
Nồng độ  
100  
Ngải tím  
Ngải trắng  
Gừng gió  
9,823±0,352  
16,435±0,081  
23,613±0,161  
30,763±0,246  
37,349±0,203  
45,656±0,168  
50,253±0,259  
25,710±0,213  
39,769±0,123  
57,538±0,186  
69,097±0,161  
83,828±0,123  
101,194±0,161  
122,914±0,186  
12,968±0,161  
19,661±0,213  
26,435±0,081  
36,409±0,246  
44,634±0,186  
58,613±0,161  
67,591±0,186  
200  
300  
400  
500  
600  
700  
Đối với Ngải trắng, qua kết quả nghiên cứu cho thấy  
hoạt tính kháng oxy hóa của cao chiết Ngải trắng cũng có  
sự khác biệt. Theo nghiên cứu của Lee, et al. trên cao chiết  
ethanol thân rễ Ngải trắng của Nhật Bản cho thấy, cao chiết  
chỉ làm sạch 27,2% gốc tự do DPPH khi ở nồng độ 100  
μg/ml và tăng lên 80,2% khi nồng độ cao chiết là 1 mg/ml  
và EC50 là 0,27±0,01 mg/ml; ở năng lực khử, khi cao chiết  
ở nồng độ 1 mg/ml thì độ hấp thu chỉ đạt 0,4 và OD0,5 lên  
đến 2,38±0,04 mg/ml, trong khi đó nghiên cứu của chúng  
tôi giá trị EC50 ở phương pháp DPPH là 108,984 μg/ml và ở  
năng lực khử với giá trị OD0,5 là 177 μg/ml. Các kết quả này  
cho thấy rằng, hoạt tính kháng oxy hóa của Ngải trắng theo  
nghiên cứu của Lee yếu hơn nghiên cứu này rất nhiều [19].  
Trong khi đó, hoạt động làm sạch gốc tự do DPPH của cao  
chiết methanol trong nghiên cứu của Al-Reza, et al. lại cho  
kết quả tốt hơn so với nghiên cứu của chúng tôi khi giá trị  
EC50 đạt 16,58 μg/ml [20].  
Kết quả về hàm lượng chất kháng oxy hóa ở bảng 7 cho  
thấy, hàm lượng chất kháng oxy hóa tương đương trolox  
(μg/ml) của các cao chiết cũng tăng lên khi nồng độ cao  
chiết tăng lên từ 100-700 μg/ml. Cụ thể là ở cao chiết Ngải  
tím, hàm lượng chất kháng oxy hóa tương đương trolox (μg/  
ml) tăng từ 9,823±0,352 lên 50,253±0,259, cao chiết Ngải  
trắng tăng từ 25,710±0,213 lên 122,914±0,186 và cao chiết  
Gừng gió tăng từ 12,968±0,161 lên 67,591±0,186. Từ kết  
quả trên cho thấy, năng lực khử của các cao chiết được xếp  
theo thứ tự là cao Ngải trắng>cao Gừng gió>cao Ngải tím,  
với cao Ngải trắng có giá trị OD0,5 thấp hơn 200 μg/ml.  
Định lượng polyphenol tổng và flavonoid tổng  
Hàm lượng polyphenol tổng và flavonoid tổng trong  
các cao chiết được xác định tương đương hàm lượng  
acid gallic và quercetin với phương trình đường chuẩn  
y=0,0881x+0,0831 (R²=0,9993) và y=0,0067x-0,0026  
(R²=0,9970). Kết quả được trình bày ở bảng 8.  
Đối với Gừng gió, hàm lượng polyphenol tổng và  
flavonoid (104,075±0,857 mg GAE/g và 74,229±0,215 mg  
QE/g) trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn trong nghiên  
cứu của Nag, et al. (33,64±3,22 mg GAE/g và 26,79±0,68  
mg QE/g) và hoạt tính kháng oxy hóa cũng mạnh hơn  
rất nhiều so với EC50 trong phương pháp DPPH của Nag  
đạt 417,14 μg/ml [21]. Trong nghiên cứu của Bhavesh, et  
al., hàm lượng polyphenol và flavonoid tổng lại cao hơn  
(331,93±1,23 mg GEA/g và 198±2,65 mg QE/g), tuy nhiên  
hoạt tính làm sạch gốc tự do DPPH và ABTS•+ thì yếu hơn  
so với nghiên cứu của chúng tôi với giá trị EC50 lần lượt là  
117,65±1,45 μg/ml và 78,72±1,12 μg/ml [22].  
Bảng 8. Kết quả định lượng polyphenol tổng và flavonoid tổng  
của các cao chiết.  
Hàm lượng polyphenol tổng  
TPC (mg GAE/g cao chiết)  
Hàm lượng flavonoid tổng  
TFC (mg QE/g cao chiết)  
Cao chiết  
Ngải tím  
Ngải trắng  
Gừng gió  
61,585±0,365  
133,246±0,409  
104,075±0,857  
45,124±0,570  
81,443±0,570  
74,229±0,215  
Kết quả ở bảng 8 cho thấy, hàm lượng polyphenol và  
flavonoid chứa trong Ngải trắng là cao nhất với giá trị lần lượt  
là 133,246±0,409 mg GAE/g và 81,443±0,570 mg QE/g, kế  
đến là Gừng gió với giá trị tương ứng 104,075±0,857 mg  
GAE/g và 74,229±0,215 mg GE/g, cuối cùng là Ngải tím  
với 61,585±0,365 mg GAE/g và 45,124±0,570 mg GE/g.  
Kết quả này cũng phù hợp với hoạt tính kháng oxy hóa của  
cao chiết Ngải trắng và Gừng gió luôn tốt hơn so với cao  
Ngải tím.  
Tất cả sự khác nhau của nghiên cứu trên có thể là do  
sự khác biệt về vị trí địa lý, thổ nhưỡng và giống thực vật  
nghiên cứu. Ngoài ra, còn có thể là do khác nhau về dung  
môi chiết xuất, methanol là dung môi có thể chiết xuất nhiều  
thành phần có hoạt tính sinh học hơn dung môi ethanol, tuy  
nhiên methanol là dung môi có tính độc hơn ethanol.  
62(5) 5.2020  
30  
Khoa học Y - Dược  
of Curcuma aromatica oil on proliferation of hepatoma in mice”, World  
Journal of Gastroenterology, 6(2), pp.216-219.  
Kết luận  
Nghiên cứu khả năng kháng oxy hóa của cao chiết ethanol  
[9] C.J. Chang, T.F. Tzeng, S.S. Liou, Y.S. Chang, I.M. Liu (2012),  
“Regulation of lipid disorders by ethanol extracts from Zingiber zerumbet  
in high-fat diet-induced rats”, Food Chemistry, 132(1), pp.460-467.  
thân rễ Ngải tím, Ngải trắng và Gừng gió cho thấy được tiềm  
năng kháng oxy hóa của các loài thực vật này. Bằng cách  
sử dụng các phương pháp thử nghiệm hoạt tính sinh học  
khác nhau cho nghiên cứu như phương pháp DPPH, ABTS•+  
và năng lực khử (Reducing Power), kết quả cho thấy rằng  
Ngải trắng và Gừng gió thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa  
rất tốt khi các giá trị EC50 thấp. Kết quả này cũng phù hợp  
với việc định lượng được hai thành phần chính quan trọng  
có tác dụng kháng oxy hóa mạnh thường xuất hiện trong  
nhiều loài thực vật là hợp chất polyphenol và flavonoid với  
kết quả hàm lượng khá cao là 133,246±0,409 mg GAE/g và  
81,443±0,570 mg QE/g cho Ngải trắng; 104,075±0,857 mg  
GAE/g và 74,229±0,215 mg GE/g cho Gừng gió. Kết quả  
nghiên cứu thể hiện rõ hoạt tính kháng oxy hóa của các loài  
thực vật này và là một trong số các loài thực vật có tiềm  
năng ứng dụng vào việc phòng và trị bệnh trên người.  
[10] Bộ Y tế (2017), Dược điển Việt Nam V, Nhà xuất bản Y học.  
[11] O.P. Sharma, T.K. Bhat (2009), “DPPH antioxydant assay  
revisited”, Food Chemistry, 113(4), pp.1202-1205.  
[12] N. Nenadis, L.F. Wang, M. Tsimidou, H.Y. Zhang (2004),  
“Estimation of scavenging activity of phenolic compounds using the  
ABTS•+ assay”, Journal of Agricultural and Food Chemistry, 52(15),  
pp.4669-4674.  
[13] I.C.F.R. Ferreira, P. Baptista, M. Vilas-Boas, L. Barros (2007),  
“Free-radical scavenging capacity and reducing power of wild edible  
mushrooms from northeast Portugal: Individual cap and stipe activity”,  
Food Chemistry, 100(4), pp.1511-1516.  
[14] A. Rebaya, S.I. Belghith, B. Baghdikian, V.M. Leddet, F.  
Mabrouki, E. Olivier, J.K. Cherif, M.T. Ayadi (2015), “Total phenolic,  
total flavonoid, tannin content, and antioxydant capacity of Halimium  
halimifolium (Cistaceae)”, Journal of Applied Pharmaceutical Science,  
5(1), pp.52-57.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Chung, Bùi Xuân Chương, Nguyễn  
Thượng Dong, Đỗ Trung Đàm, Phạm Văn Hiền, Vũ Ngọc Lộ, Phạm Duy  
Mai, Phạm Kim Mẫn, Đoàn Thị Như, Nguyễn Tập, Trần Toàn (2004),  
Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học và  
Kỹ thuật.  
[15] G.C. Bag, P.G. Devi, T. Bhaigyabati (2015), “Assessment of total  
flavonoid content and antioxydant activity of methanolic rhizome extract  
of three hedychium species of manipur Valley”, International Journal of  
Pharmaceutical Sciences Review and Research, 30(1), pp.154-159.  
[16] W. Kusirisin, S. Srichairatanakool, P. Lerttrakarnnon, N. Lailerd,  
M. Suttajit, C. Jaikang, C. Chaiyasut (2009), “Antioxydative activity,  
polyphenolic content and anti-glycation effect of some Thai medicinal  
plants traditionally used in diabetic patients”, Medicinal Chemistry, 5(2),  
pp.139-147.  
[2] Phạm Hoàng Hộ (1999), Cây cỏ Việt Nam, tập 1-3, Nhà xuất bản  
Trẻ.  
[3] Đỗ Tất Lợi (2004), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nhà  
xuất bản Y học.  
[17] J. Wungsintaweekul, W. Sitthithaworn, W. Putalun, H.W.  
Pfeifhoffer, A. Brantner (2010), “Antimicrobial, antioxydant activities and  
chemical composition of selected Thai spices”, Sonklanakarin Journal of  
Science and Technology, 32(6), pp.589-598.  
[4] Bùi Kim Anh, Đoàn Duy Tiên, Phạm Gia Điền, Hồ Đắc Hùng,  
Phạm Quang Dương, Bá Thị Dương, Nguyễn Thị Ngoan, Vũ Đình Hoàng  
(2018), “Một số hợp chất phân lập từ thân rễ Ngải đen (Kaempferia  
parviflora Wall. ex. Baker), họ Gừng (Zingiberaceae)”, Tạp chí Dược học,  
58(1), tr.29-31.  
[18] L. Butkhup, S. Samappito (2011), “In vitro free radical  
scavenging and antimicrobial activity of some selected Thai medicinal  
plants”, Research Journal of Medicinal Plant, 5(3), pp.254-265.  
[5] P. Temkitthawon, T.R. Hinds, J.A. Beavo, J. Viyoch, K.  
Suwanborirux, W. Ponggamornkul, P. Sawasdee, K. Ingkaninan (2011),  
“Kaempferia parviflora, a plant used in traditional medicine to enhance  
sexual performance contains large amounts of low affinity PDE5  
inhibitors”, Journal of Ethnopharmacology, 137, pp.1437-1441.  
[19] Y.L. Lee, C.C. Weng, J.L. Mau (2007), “Antioxydant properties  
of ethanolic and hot water extracts from the rhizome of Curcuma  
aromatica”, Journal of Food Biochemistry, 31(6), pp.757-771.  
[6] J. Wattanathorn, S. Muchimapura, T. Tong-Un, N. Saenghong, W.  
Thukhum-Mee, B. Sripanidkulchai (2012), Positive modulation effect of  
8-week consumption of Kaempferia parviflora on health-related physical  
fitness and oxydative status in healthy elderly volunteers, Evidence-Based  
Complementary and Alternative Medicine.  
[20] S.M.Al-Reza,A. Rahman, M.A. Sattar, M.O. Rahman, H.M. Fida  
(2010), “Essential oil composition and antioxydant activities of Curcuma  
aromatica Salisb”, Food and Chemical Toxycology, 48(6), pp.1757-1760.  
[21] A. Nag, M. Bandyopadhyay, A. Mukherjee (2013), “Antioxydant  
activities and cytotoxycity of Zingiber zerumbet (L.) Smith rhizome”, J.  
Pharmacogn. Phytochem., 2(3), pp.102-108.  
[7] A. Kumar, R. Chomwal, P. Kumar, R. Sawal (2009), “Anti  
inflammatory and wound healing activity of Curcuma aromatica Salisb.  
extract and its formulation”, Journal of Chemical and Pharmaceutical  
Research, 1(1), pp.304-310.  
[22] V.D. Bhavesh, Y. Nayak, B.S. Jayashree (2013), “In vitro  
antioxydant and antiglycation activity of Zingiber zerumbet (wild zinger)  
rhizome extract”, International Journal of Research in Pharmaceutical  
Sciences, 4(4), pp.482-489.  
[8] W.Y. Wu, Q. Xu, L.C. Shi, W.B. Zhang (2000), “Inhibitory effects  
31  
62(5) 5.2020  
pdf 6 trang yennguyen 9140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoạt tính kháng oxy hóa của cao chiết ethanol thân rễ Ngải tím (Kaempferia parviflora Wall. Ex Baker), Ngải trắng (Curcuma aromatica Salisb.), Gừng gió (Zingiber zerumbet Sm.)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoat_tinh_khang_oxy_hoa_cua_cao_chiet_ethanol_than_re_ngai_t.pdf