Nghiên cứu, xác định thành phần dinh dưỡng của một số loài tảo phân lập từ vùng rừng ngập mặn Vườn Quốc gia Xuân Thủy, tỉnh Nam Định
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 20/2017
103
NGHIÊN CỨU, XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG CỦA MỘT
SỐ LOÀI TẢO PHÂN LẬP TỪ VÙNG RỪNG NGẬP MẶN VƯỜN
QUỐC GIA XUÂN THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
Lê Xuân Tuấn, Trần Thị Minh Hằng
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Tóm tắt: Bài báo xác định thành phần dinh dưỡng của 5 loài tảo Amphiprora alata,
Chaetoceros muelleri, Nannochloropsis oculata, Navicula tuscula, Chlorella vulgarisđược
phân lập từ vùng rừng ngập mặn Vườn quốc gia Xuân Thủy. Các loài tảo này thường được
sử dụng làm thức ăn cho tôm, cá và các loài hai mảnh vỏ nhằm tạo điều kiện cho ấu trùng
phát triển cung cấp nguồn dinh dưỡng cho cá thể bố mẹ và ít gây ảnh hưởng đến ô nhiễm
môi trường. Kết quả nghiên cứu đã xác định được 24 loại acid béo trong 5 loài tảo nghiên
cứu, trong đó tỉ lệ acid béo chưa no chiếm 71.7%. Có 17 loại acid béo ở loài Navicula
tuscula và tỉ lệ acid béo chưa no chiếm 29.6%. Loài Amphiprora alata có hàm lượng
protein là 8.1g/100g trọng lượng khô và Chlorella vulgaris có hàm lượng protein là
4.44g/100g trọng lượng khô. Loài tảo Nannochloropsis oculata có hàm lượng
carbohydrate là 11.8g/100g trọng lượng khô và Navicula tuscula có hàm lượng này là
5.47g/100g trọng lượng khô.
Từ khóa: Vi tảo, vùng rừng ngập mặn, Amphiprora alata, Chaetoceros muelleri,
Nannochloropsis oculata, Navicula tuscul, Chlorella vulgaris.
Nhận bài ngày 10.11.2017; gửi phản biện, chỉnh sửa và duyệt đăng ngày 10.12.2017
Liên hệ tác giả: Tạ Thị Thủy; Email: [email protected]
1. MỞ ĐẦU
Rừng ngập mặn thuộc Vườn quốc gia Xuân Thuỷ có tầm quan trọng to lớn nhờ các chức
năng và dịch vụ, là khu bảo tồn mẫu chuẩn điển hình của hệ sinh thái đất ngập nước ven biển
đồng bằng sông Hồng. Tháng 1 năm 1989, vùng rừng ngập mặn thuộc Vườn quốc gia Xuân
Thuỷ được UNESCO chính thức công nhận là điểm RAMSAR thứ 50 của thế giới và là khu
RAMSAR đầu tiên của Đông Nam Á. Sự kiện này mở ra những hướng nghiên cứu, phát
triển mới đối với Vườn quốc gia Xuân Thuỷ, thu hút sự hợp tác của các chuyên gia trong và
ngoài nước.
104
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
Trong hệ sinh thái rừng ngập mặn, các vi sinh vật mà đặc biệt là vi tảo có vai trò quan
trọng vì chúng là mắt xích không thể thiếu trong quá trình chuyển hoá vật chất và năng
lượng. Tảo có tốc độ sinh trưởng nhanh, tạo ra sinh khối lớn, là thức ăn chính của các loài
động vật phù du và là thức ăn không thể thay thế cho ấu trùng của các loài tôm, cua, cá, các
loài động vật thân mềm ăn lọc, các loài cá bột và một số loài cá trưởng thành. Hàm lượng
dinh dưỡng của các loài vi tảo rất cao, ngoài protein, lipid, carbohydrate, vitamin, vi tảo còn
cung cấp cho động vật các hợp chất silic, canxicacbonat và pectin, các chất này có vai trò
trong cấu trúc bộ xương của động vật. Tảo còn được dùng làm thức ăn cho chính bản thân
con người như: rau câu, rau diếp biển, rong mứt...
Amphiprora alata, Chaetoceros muelleri, Chlorella vulgaris, Nannochloropsis oculata,
Navicula tuscula là các loài vi tảo đang được ứng dụng rộng rãi như: làm thức ăn cho tôm
và các loài động vật 2 mảnh vỏ (Akihiko Shirota (1996); Trương Ngọc An, 1993; Lê Viễn
Chí, 1996;A. Ben-Amotz và cs,1987), góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường trong đầm
nuôi (Lê Xuân Tuấn và cs, 2005, 2008)… Sự kết hợp 5 loài vi tảo này trong thức ăn nuôi
thuỷ sản vừa tạo điều kiện cho ấu trùng phát triển vừa cung cấp nguồn dinh dưỡng cho các
cá thể bố mẹ.
Nghiên cứu nhằm mục đích nuôi trồng tảo đạt sinh khối lớn với hàm lượng dinh dưỡng
cao làm thức ăn trong sản xuất thuỷ sản, và xách định thành phần dinh dưỡng (acid béo,
protein, carbohydrate…) của các loài vi tảo là rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Nuôi cấy và phân lập tảo
Mẫu tảo được thu vào 2 đợt. Đợt 1 vào tháng 3/2015 và đợt 2 vào tháng 3/2016 từ vùng
rừng ngập mặn Vườn quốc gia Xuân Thủy. Tảo được làm giàu và phân lập bằng phương
pháp tách, thuần khiết trên đĩa thạch. Những mẫu tách đã thuần khiết sẽ được giữ lại phục
vụ các nghiên cứu tiếp theo. Quá trình phân lập được tiến hành theo phương pháp của Makoto
Shirai và cs, 1989 có cải tiến. Các mẫu tảo sau khi làm giàu được xác định sơ bộ dưới kính
hiển vi quang học qua quan sát hình thái sau đó tiến hành phân lập và nuôi cấy (5-7 ngày) ở
nhiệt độ phòng với cường độ sáng là 10000 - 20000 lux theo quang chu kì là 10h chiếu sáng
và 14h tối. Tảo sử dụng trong quá trình nghiên cứu được thực hiện tại Phòng Công nghệ
Tảo, Viện Vi sinh vật và Công nghệ Sinh học và Khoa Sinh học, trường Đại học Sư phạm
Hà Nội.
2.2. Làm giàu mẫu
Hút 1000 μl mẫu nước cho vào ống Eppendorf, ly tâm ở tốc độ 7000 vòng/phút trong
10 phút và rửa 2 lần với dung dịch muối sinh lý 0.05% nhằm mục đích giữ vững đặc tính
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 20/2017
105
sinh lý của vi tảo. Sau đó hút 100μl dịch huyền phù tảo cho vào nuôi cấy trong lọ penicillin
dung tích 20 ml chứa môi trường F/2. Nuôi giữ ở nhiệt độ phòng với ánh sáng đèn neon với
cường độ sáng là 10000-20000 lux theo quang chu kì là 10h chiếu sáng và 14h tối. Sau thời
gian 5 - 7 ngày nuôi cấy, quan sát khả năng sinh trưởng của mẫu vi tảo đã được làm giàu
bằng kính hiển vi quang học ở độ phóng đại 400-1000 lần.
2.3. Nhân nuôi sinh khối các loài tảo nghiên cứu
Nhân nuôi và thu sinh khối vi tảo ở môi trường tối ưu đã xác định với độ mặn phù hợp
để phân tích thành phần dinh dưỡng. Đối với bình nuôi sinh khối có dung tích lớn 4 lít và 8
lít được chiếu sáng ánh sáng đèn neon với cường độ sáng là 10000-20000 lux và sục khí liên
tục 24/24, còn các bình dung tích nhỏ hơn được chiếu sáng theo quang chu kì là 10h chiếu
sáng và 14h tối và không có sục khí.
2.4. Xác định thành phần acid béo của các loài vi tảo nghiên cứu
Mật độ tế bào được xách định 2 ngày/lần và sinh khối vi tảo được thu vào giai đoạn đầu
của pha cân bằng sau đó được xử lý theo quy trình chiết tảo: Mẫu nuôi sinh khối tảo được li
tâm (10000 vòng/phút, 15 phút, 2oC) tạo sinh khối tươi, sau đó thêm dịch chiết
(metanol/chlorofooc (1:1) v/v) và cô quay chân không tạo căn chiết. Cặn chiết vi tảo được
hòa tan bằng metanol: acid sulfuric (95:5, v/v) và đun ở 80oC trong 4h để este hóa các acid
béo. Sau đó cho thêm 2ml nước. Các acid béo sau khi được metyl este hóa được chiết 2 lần
với 2ml n-hexan. Hỗn hợp metyl este của các acid béo được phân tích trên máy sắc ký khí
(GC, gas chromatography, Finnigan Trace GC, cột BPX70 (50M) tại phòng Sinh học biển,
Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên. Các acid béo được xác định bằng cách so sánh về
thời gian lưu (retention time) với dung dịch chất chuẩn và được định lượng bằng cách so
sánh các peak với chuẩn.
2.5. Xác định thành phần protein của các loài tảo nghiên cứu
Mẫu tảo khô được thủy phân bằng 1N NaOH trong 1 giờ. Sau đó, dịch thuỷ phân được
pha loãng 5 lần và ly tâm ở 4000v/phút trong 15 phút. Dung dịch mẫu được đem phân tích
theo phương pháp Bradford với bovine serum albumin (BSA) làm chất chuẩn và đo ở bước
sóng 595nm. Dung dịch Coomassie brillient blue (CBB) được pha với thành phần: 0.01%
CBB G-250, 4.75% ethanol, 8.5% H3PO4. ( Ben-Amotz và cs, 1987; Nguyễn Văn Mùi, 2001).
2.6. Xác định thành phần carbohydrate của các loài tảo nghiên cứu
Theo phương pháp của Ben-Amotz và cs (1987) mẫu khô được thủy phân trong dung
dịch 2.5N HCl trong 1 giờ. Sau đó mẫu được pha loãng 20 lần và ly tâm ở 8000 v/phút trong
106
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
15 phút. Dung dịch mẫu được phân tích theo phương pháp phenol – acid sulfuric sử dụng
5% phenol, 96% H2SO4 với glucose làm chất chuẩn và đo ở bước sóng 490nm.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN
3.1. Thành phần acid béo của Amphiprora alata
Acid béo là các chuỗi nguyên tử cacbon thẳng và dài, chứa khoảng 12 - 22 nguyên tử
(C12 - C22). Chúng có một đầu hoà tan trong nước và một đầu hoà tan trong dầu. Dọc theo
chuỗi cacbon là các nguyên tử hydro. Những chuỗi này là thành phần quan trọng trong màng
tế bào của mọi sinh vật sống. Acid béo gồm 2 loại là acid béo no và acid béo không no
(Nguyễn Thị Hiền, Vũ Thy Thư, 2005).
Acid béo là thành phần quan trọng không thể thiếu của mọi sinh vật (đặc biệt là các acid
béo không no). Vì vậy, nghiên cứu thành phần acid béo là việc làm cần thiết để xác định giá
trị dinh dưỡng của vi tảo cung cấp thức ăn cho nuôi thuỷ sản.
Trong các bảng phân tích thành phần acid béo, kí hiệu (--) nghĩa là các acid béo không
có mặt trong thành phần (lượng quá nhỏ không nhận biết được) hoặc là những acid béo chưa
biết định danh.
Kết quả phân tích thành phần acid béo của loài vi tảo Amphiprora alata được tổng kết
qua Bảng 3.1.
Bảng 3.1. Thành phần acid béo của tảo Amphiprora alata
Tỷ lệ phần trăm
(% tổng số acid béo)
STT Acid béo
Danh pháp
Tên thường gọi
1
2
C 12:0
C 14:0
Dodecanoic acid
Tetradecanoic acid
Pentadecanoic acid
Pentadecenoic acid
Hexadecanoic acid
9-hexadecenoic acid
7-hexadecenoic acid
Heptadecanoic acid
Heptadecenoic acid
Octadecanoic acid
Lauric
Myristic
0,63
13,26
1,10
3
C 15:0
Convolvulinolic
Hormelic
Palmitic
4
C 15:1n-5
C 16:0
0,34
5
14,31
13,15
4,47
6
C 16:1n-7
C 16:1n-9
C 17:0
Palmitoleic
Ambrettolic
Margric
7
8
5,01
9
C 17:1n-7
C 18:0
--
0,82
10
Stearic
4,15
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 20/2017
107
11
12
13
C 18:1n-7
C 19:0
11-octadecenoic acid
Nonadecanoic acid
Asclepic
Isoarachidic
--
4,65
0,92
0,58
0,59
2,21
1,45
C 18:5n-3
Octadecapentaenoic acid
Octadecatetraenoic acid
Eicosanoic acid
14 C 18: 4n-3
--
15
16
C 20:0
Arachidic
Gondoic
C 20:1n-9
11-eicosaenoic acid
5,8,11,14-eicosatetraenoic
acid
Arachidonic acid
(AA)
17
18
19
C 20:4n-6
C 20:5n-3
C 22:5n-6
7,97
9,12
3,65
5,25
5,8,11,14,17-
Eicosapentaenoic
acid (EPA)
eicosapentaenoic acid
Docosatetraenoic
acid (DPA)
Docosatetraenoic acid
4,7,10,13,16,19-
docosahexaenoic
Docosahexaenoic
acid (DHA)
20
21
C 22:6n-3
C 24:0
Tetracosanoic acid
Lignoceric
2,83
Tổng các acid béo no (9)
44,43
52,21
15,61
11,62
Tổng các acid béo không no (12)
Tổng các acid béo nhóm omega 3 (ω3)
Tổng các acid béo nhóm omega 6 (ω6)
Số liệu ở Bảng 3.1 cho thấy thành phần acid béo của Amphiprora alata rất đa dạng, gồm
các acid béo từ 12C đến 24C. Trong số này, có 9 loại acid béo no chiếm tỉ lệ 44.43% và 12
loại acid béo không no chiếm tỉ lệ 52.21%. Hàm lượng các acid béo chưa no đa nối đôi ước
tính chiếm gần 30%. Đây là những acid béo đóng vai trò quan trọng trong việc hình
thànhmàng tế bào, có giá trị lớn trong sản xuất dược phẩm và những thực phẩm có lợi cho
sức khoẻ con người. Đặc biệt, A.alata còn chứa các acid béo chưa no có giá trị như: C 22:6n-
3(DHA) chiếm tỉ lệ 5.25% có vai trò lớn đối với sự phát triển của não bộ, võng mạc mắt và
tái tạo mô; C 20:5n-3 (EPA) chiếm tỉ lệ 9.12% có vai trò quan trọng trong việc tổng hợp
progastagladin, C 20:4n-6(AA) chiếm tỉ lệ 7.96% - là acid béo cần thiết cho việc hồi phục
và phát triển của mô cơ xương. Điều này cho thấy chất lượng dinh dưỡng cao của loài A.alata
và tiềm năng ứng dụng trong sản xuất thức ăn phục vụ nuôi thuỷ sản và thực phẩm chức
năng cho con người.
108
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
3.2. Thành phần acid béo của loài Chaetoceros muelleri
Số liệu phân tích thành phần acid béo của Chaetoceros muelleri được trình bày ở
Bảng 3.2.
Bảng 3.2. Thành phần acid béo của loài vi tảo Chaetoceros muelleri
Tỷ lệ % tổng số
STT
Acid béo
Danh pháp
Tên thường gọi
acid béo
1
2
C 14:0
C 14:1n-5
C 15:0
Tetradecanoic acid
Tetrade cenoic acid
Pentadecanoic acid
Pentadecenoic acid
Hexadecanoic acid
9-hexadecenoic acid
7-hexadecenoic acid
Heptadecanoic acid
Octadecanoic acid
Myristic
Myristoleic
Convolvulinolic
Hormelic
Palmitic
1,91
18,09
0,74
3
4
C 15:1n-5
C 16:0
0,096
5,53
5
6
C 16:1n-7
C 16:1n-9
C 17:0
Palmitoleic
Ambrettolic
Margric
15,23
2,20
7
8
9,52
9
C 18:0
Stearic
1,46
10
11
C 18:1n-7
C 18:2n-6-t
11-octadecenoic acid
9,12-octadecadienoic acid
Asclepic
3,74
Linoleic
2,70
γ - Linolenic acid
(GLA)
12
C 18:3n-6
6,9,12-octadecatrienoic acid
1,12
13
14
15
16
C 18:4n-3
C 20:0
Octadecatetraenoic acid
Eicosanoic acid
--
0,22
1,05
0,26
0,10
Arachidic
Paullinic
Gondoic
C 20:1n-7
C 20:1n-9
13-eicosaenoic acid
11-eicosaenoic acid
5,8,11,14-eicosatetraenoic
acid
17
C 20:4n-6
Arachidonic acid (AA)
7,84
5,8,11,14,17-
Eicosapentaenoic acid
(EPA)
18
19
C 20:5n-3
C 24:0
24,76
Eicosapentaenoic acid
Tetracosanoic acid
Lignoceric
0,12
20,33
76,35
24,98
10,54
Tổng các acid béo no (7)
Tổng các acid béo không no (12)
Tổng các acid béo nhóm omega 3 (ω3)
Tổng các acid béo nhóm omega 6 (ω6)
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 20/2017
109
Số liệu ở Bảng 3.2 cho thấy thành phần acid béo của loài Chaetoceros muelleri tương
đối đa dạng, gồm các acid béo từ 12C – 24C. Trong đó, có 7 loại acid béo no chiếm 20.33%
và 12 loại acid béo chưa no chiếm 76.35%. Acid béo no chiếm tỉ lệ cao nhất là C17:0 (chiếm
tỉ lệ 9.52%), acid béo chưa no chiếm tỉ lệ cao nhất là C20:5n-3 (EPA) (chiếm tỉ lệ 24.76%).
Hàm lượng các acid béo chưa no đa nối đôi chiếm 36.64 %, trong số này không có các acid
béo như DHA và DPA nhưng C.muelleri lại rất giàu EPAvà acid béo chưa no AA chiếm tỉ
lệ khá cao là 7.84%. Dựa trên kết quả phân tích thành phần acid béo của C.muelleri, chúng
tôi thấy rằng: nếu kết hợp C.muelleri với các loại vi tảo khác sẽ đem lại nguồn thức ăn giàu
dinh dưỡng cho nuôi thuỷ sản với các đối tượng như động vật 2 mảnh vỏ, giáp xác (Le Thi
Phuong Hoa và cs, 2010A và 2010B).
3.3. Thành phần acid béo của loài vi tảo Chlorella vulgaris
Kết quả phân tích thành phần acid béo của loài vi tảo Chlorella vulgaris được thể hiện
trong Bảng 3.3.
Bảng 3.3. Thành phần acid béo của tảo Chlorella vulgaris
Tỷ lệ % TS acid
STT
Acid béo
C 14:0
Danh pháp
Tên thường gọi
Myristic
béo
1,53
27,43
5,15
1,2
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Tetradecanoic acid
Hexadecanoic acid
9-hexadecenoic acid
7-hexadecenoic acid
Heptadecanoic acid
Heptadecenoic acid
Octadecanoic acid
9-octadecenoic acid
C 16:0
Palmitic
Palmitoleic
Ambrettolic
Margric
C 16:1n-7
C 16:1n-9
C 17:0
2,69
6,15
2,91
20,06
8,42
C 17:1n-7
C 18:0
--
Stearic
C 18:1n-9
Oleic
C 18:2n-6-t 9,12-Octadecadienoic acid
Linoleic acid(LA)
Anpha-Linoleic
acid(LNA)
10 C 18:3n-3
11 C 20:0
9,12,15-octadecatrienoic acid
Eicosanoic acid
17,46
Arachidic
4,98
39,55
59,24
17,46
8,42
Tổng các acid béo no (5)
Tổng các acid béo không no (6)
Tổng các acid béo nhóm omega 3 (ω3)
Tổng các acid béo nhóm omega 6 (ω6)
110
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
Qua số liệu ở Bảng 3.3, chúng tôi nhận thấy thành phần acid béo của loài vi tảo lục
Chlorella vulgaris không đa dạng như các loài vi tảo đã phân tích (bảng 3.1 và 3.2).
LoàiC.vulgarisphân tích, xác định có 11 loại acid béo trong đó có 5 loại acid béo no chiếm
39.55% và 6 loại acid không no chiếm 59.24%. Vi tảo lục C.vulgaris không có AA, EPA,
DHA, DPA nhưng nhóm acid béo chưa nối đôi chỉ gồm 2 loại C18:2n-6-t (LA) và C18:3n-
3 đã chiếm tới 25.88%. Đây là 2 acid béo cần thiết đối với sự sinh trưởng, phát triển của sinh
vật mà người và đa số các động vật không tự tổng hợp được nên cần phải được bổ sung trong
chế độ dinh dưỡng hàng ngày. Những acid béo này có vai trò quan trọng với sự phát triển
của não bộ và hàm lượng LA còn là tiêu chuẩn để đánh giá giá trị sinh học của chất béo. Bên
cạnh đó, giá trị dinh dưỡng của vi tảo cũng chịu ảnh hưởng nhiều của yếu tố môi trường và
thời gian nuôi cấy. Vì vậy, nếu xác định được thời điểm nuôi cấy để thành phần acid béo của
tảo C.vulgaris đạt hàm lượng cao thì sự kết hợp giữa tảo C.vulgaris với các loại tảo silic
khác sẽ tạo ra nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng cho nuôi thuỷ sản.
3.4. Thành phần acid béo của loài vi tảo Nannochloropsis oculata
Tỷ lệ acid béo của loài tảo Nannochloropsis oculata là khá phong phú.
Bảng 3.4. Thành phần acid béo của loài vi tảo Nannochloropsis oculata
Tỷ lệ % TS acid
STT
Acid béo
Danh pháp
Tên thường gọi
béo
1
2
3
4
5
6
7
8
9
C 12:0
C 14:0
Dodecanoic acid
Tetradecanoic acid
Hexadecanoic acid
9-hexadecenoic acid
--
Lauric
0,2
3,6
Myristic
C 16:0
Palmitic
21,3
14,4
1,2
C 16:1n-7
C 16:2n
C 16:3n-6
Palmitoleic
--
hexadecatrienoic acid
--
--
0,2
C 16:3n-3 7,10,13-hexadecatrienoic acid
3,7
C 18:0
Octadecanoic acid
Cis 9 oleic acid
Stearic
--
0,3
C 18:1n
7,6
Linoleic
acid(LA)
10
11
C 18:2n-6
C 18:3n-6
9,12-Octadecadienoic Acid
6,9,12-Octadecatrienoic Acid
7,6
0,3
gamma -
Linolenic Acid
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 20/2017
111
Anpha-Linoleic
Acid(LNA)
12
C 18:3n-3
9,12,15-octadecatrienoic acid
5,8
14
15
16
C 20:0
C 20:1n
Eicosanoic acid
11-eicosenoic acid
Arachidic
0,1
0,2
0,1
--
--
C 20:2n-9
8,11-cis-eicosadienoic acid
Eicosadienoic
Acid
17
18
19
C 20:2n-6
C 20:3n-9
C 20:3n-6
11,14-ecosadienoic Acid
5,8,11-eicosatrienoic Acid
8,11,14-eicosatrienoic Acid
0,1
0,1
0,2
Mead Acid
Dihomo-g -
Linolenic Acid
5,8,11,14-Eicosatetraenoic
Acid
Arachidonic
Acid (AA)
20
23
C 20:4n-6
C 20:5n-3
3,0
5,8,11,14,17-Eicosapentaenoic
Acid
Timnodonic
Acid (EPA)
26,7
24
25
C 22:0
C 22:1
--
Behenic acid
--
0,1
0,1
13-docosenoic acid
7,10-13-16-Ocosatetraenoic
Acid
27
C 22:4n-6
C 22:6n-3
Adrenic Acid
0,3
0,1
4,7,10,13,16,19-
Docosahexaenoic Acid
Docosahexaenoi
c Acid (DHA)
30
31
Acid khác
2,8
25,6
71,7
36,3
8,7
Tổng các acid béo no (6)
Tổng các acid béo không no (18)
Tổng các acid béo nhóm omega 3 (ω3)
Tổng các acid béo nhóm omega 6 (ω6)
Số liệu ở Bảng 3.4 cho thấy tỉ lệ acid béo trong vi tảo Nannochloropsis oculata khá đa
dạng. N.oculata chứa hơn 30 loại acid béo khác nhau, trong đó acid béo no có 6 acid chiếm
25.6%, còn lại là các acid béo không no chiếm đến 71.7%. Trong đó, EPA (C20:5n-3) chiếm
tỷ lệ cao nhất, tới 26.7% tổng số acid thu được. Đây là đặc trưng của chi Nannochloropsis.
Kế đến là acid palmitic (16:0) và acid palmitoleic (16:1n-7) chiếm tỷ lệ lần lượt là 21.3% và
14.4% tổng số acid. Đặc biệt, tỷ lệ acid linoleic (LA) và acid α-linoleic cũng chiếm tỷ lệ khá
cao, lần lượt là 7.6% và 5.8% tổng số acid thu được. Acid linoleic (LA) và acid α-linoleic là
112
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
tiền chất của các acid dòngω-3 và ω-6 như acid arachidonic (20:4 ω-6) và EPA (20:5 ω-6);
DHA (22:6 ω-3) có vai trò tổng hợp nên một loạt chất có hoạt tính sinh học cao như các loại
protaglandin, leukotriene, thromboxane.
Có thể thấy tổng các acid nhóm (n-3) chiếm tới 36.3% thành phần acid. Đây là nhóm
acid béo không no rất có ý nghĩa trong việc nâng cao khả năng hoạt động của tế bào não.
Bên cạnh đó, tổng các acid nhóm (n-6), là nhóm acid béo quan trọng đối với sự phát triển
của trẻ nhỏ chiếm tới 8.7%.
Như vậy, loài vi tảo Nannochloropsis oculata có thành phần acid béo rất đa dạng và
những acid béo có vai trò quan trọng chiếm tỉ lệ rất cao, điều này mở ra nhiều ứng dụng
trong đời sống và nuôi trồng thuỷ sản của loài này.
3.5. Thành phần acid béo của loài vi tảo Navicula tuscula
Kết quả phân tích thành phần acid béo của loài vi tảo Navicula tuscual được tổng hợp
qua Bảng 3.5.
Bảng 3.5. Thành phần acid béo của loài vi tảo Navicula tuscula
Tỷ lệ % TS acid
STT
Acid béo
Danh pháp
Tên thường gọi
béo
1
2
C 4:0
Butyric acid
--
--
1,17
0,33
9,69
0,80
0,70
52,56
13,67
1,20
1,49
3,77
8,62
1,27
C 10:0
Decanoic acid
3
C 14:0
Tetradecanoic acid
Tetrade cenoic acid
Pentadecenoic acid
Hexadecanoic acid
9-hexadecenoic acid
Heptadecanoic acid
Heptadecenoic acid
Octadecanoic acid
11-octadecenoic acid
9,12-Octadecadienoic acid
Myristic
Myristoleic
Hormelic
Palmitic
4
C 14:1n-5
C 15:1n-5
C 16:0
5
6
7
C 16:1n-7
C 17:0
Palmitoleic
Margric
8
9
C 17:1n-7
C 18:0
--
10
11
12
Stearic
C 18:1n-7
C 18:2n-6
Asclepic
Linoleic acid(LA)
6,9,12-Octadecatrienoic
Acid
gamma -linolenic
acid
13
C 18:3n-6
0,35
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 20/2017
113
14
15
16
17
C 18:5n-3
C 20:4n-6
C 22:0
Octadecapentaenoic acid
--
1,56
0,76
1,04
0,34
5,8,11,14-eicosatetraenoic
acid
Arachidonic acid
(AA)
--
Behenic acid
Adrenic acid
7,10-13-16-Ocosatetraenoic
acid
C 22:4n-6
Tổng các acid béo no (7)
69,76
29,56
1,56
Tổng các acid béo không no (10)
Tổng các acid béo nhóm omega 3 (ω3)
Tổng các acid béo nhóm omega 6 (ω6)
4,29
Loài tảo Navicula tuscula có 7 acid béo no chiếm tỉ lệ 69.761% và có 10 acid béo không
no chiếm 29.597%, hàm lượng acid béo chưa no thấp nhất trong các loài vi tảo nghiên cứu
(Bảng 3.5). Acid béo chiếm tỉ lệ nhiều nhất là acid béo no C16:0 (52.557%). Bên cạnh đó,
tỉ lệ acid béo nhóm ω3 và ω6 của loài này cũng rất thấp nhưng thành phần acid béo thuộc
nhóm ω6 rất đa dạng (C 20:4n-6, C 22:4n-6, C 18:2n-6, C 18:3n-6). Tuy nhiên, N.tuscula là
vi tảo có kích thước lớn, phù hợp làm thức ăn cho các cá thể bố mẹ trong nuôi thuỷ sản. Điều
này cho thấy nếu kết hợp N.tuscula với các loài khác để bổ sung dinh dưỡng cho các đối
tượng nuôi thuỷ sản gồm cả ấu trùng và cá thể bố mẹ là rất phù hợp.
3.6. Thành phần acid béo của 5 loài tảo Amphiprora alata, Chaetoceros muelleri,
Chlorella vulgaris, Nannochloropsis oculata, Navicula tuscula
Từ số liệu ở Bảng 3.1 và Bảng 3.5, chúng tôi nhận thấy thành phần acid béo của 5 loài
vi tảo nghiên cứu khá đa dạng. Bên cạnh những điểm tương đồng, chúng tôi cũng nhận thấy
sự khác biệt về thành phần acid béo ở các yếu tố như: tỉ lệ các acid béo no và không no, tỉ lệ
các acid béo thuộc nhóm ω3 và ω6, tỉ lệ DHA và EPA. Sự khác nhau về các yếu tố này giữa
5 loài vi tảo A.alata, N.oculata, C.muelleri, N.tuscula, C.vulgaris được thể hiện ở Hình 3.1.
Hình 3.1 cho thấy hầu hết các loài vi tảo đều có tỉ lệ acid béo chưa no rất cao, chỉ ở loài
Navicula tuscula có tỉ lệ acid béo chưa no cao hơn tỉ lệ acid béo no. Điều này cho thấy các
loài vi tảo có chất lượng dinh dưỡng tốt. Bên cạnh đó, tỉ lệ các acid béo thuộc nhóm ω3 cao
nhất ở loài Nannochloropsis oculata sau đó tới Chaetoceros muelleri, Chlorella vulgaris,
Amphiprora alata và thấp nhất ở loài Navicula tuscula. Tỉ lệ các acid béo thuộc nhóm ω6
cao nhất ở loài Amphiprora alata sau đó tới Chaetoceros muelleri, Nannochloropsis oculata,
Chlorella vulgaris và thấp nhất ở loài Navicula tuscula. Tỉ lệ acid béo DHA cao nhất ở loài
Amphiprora alata (5.25%) và thấp nhất ở loài Nannochloropsis oculata (0.1%), các loài còn
114
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
lại không có acid béo này. Tỉ lệ acid béo EPA cao nhất ở loài Nannochloropsis oculata
(26.7%) sau đó tới loài Chaetoceros muelleri và thấp nhất ở loài Amphiprora alata, các loài
còn lại không có acid béo này.
90
Acid béo no
80
70
60
50
40
30
20
10
0
Acid béo chưa no
ω3
ω6
DHA
EPA
u
a
a
o
l
l
c
l
g
n
a
l
l
s
e
u
u
t
u
a
u
v
r
c
o
m
o
a
l
a
r
l
l
s
u
p
s
i
i
e
o
r
c
i
r
s
h
v
o
p
p
e
l
o
r
a
c
h
m
o
N
t
C
o
l
A
e
h
a
c
h
C
n
a
N
Hình 3.1. Thành phần acid béo của 5 loài vi tảo nghiên cứu
Nhìn chung, giá trị dinh dưỡng về acid béo của tảo silic cao hơn tảo lục và tuỳ từng loại
vi tảo mà thành phần acid béo giàu về tỉ lệ acid béo này nhưng lại nghèo về tỉ lệ acid béo
kia. N.oculata là một loại tảo mắtcó thành phần acid béo rất đa dạng và là nguồn thức ăn tốt
cho thuỷ sản. A.alata là tảo silic có đầy đủ các loại acid béo cần thiết, nhưng N.tuscula lại
có thành phần acid béo tương đối nghèo nàn hơn và không có cả DHA, EPA. C.muelleri
không có DHA nhưng tỉ lệ EPA rất cao. Vì vậy, nếu chúng ta kết hợp khéo léo các loài vi
tảo này trong thức ăn vào những giai đoạn phát triển khác nhau của đối tượng nuôi thuỷ sản
như: tu hài, ngao, các động vật giáp xác và 2 mảnh vỏ khác…, thì sản phẩm thu hoạch sẽ đạt
năng suất, chất lượng cao.
3.7. Hàm lượng protein của 5 loài tảo Amphiprora alata, Chaetoceros muelleri,
Nannochloropsis oculata, Navicula tuscula, Chlorella vulgaris
Hàm lượng protein là một trong những yếu tố cần thiết để đánh giá giá trị dinh dưỡng
của vi tảo. Kết quả phân tích hàm lượng protein của các loài tảo nghiên cứu, hàm lượng
protein được tính với tỉ lệ so với 100g trọng lượng khô được thể hiện ở Hình 3.2.
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 20/2017
115
Hình 3.2. Hàm lượng protein (g protein/100g trọng lượng khô) của tảo
Hàm lượng protein cao nhất ở loài Amphiprora alata, sau đó tới Chaetoceros muelleri,
Nannochloropsis oculata, Navicula tuscula và thấp nhất ở loài Chlorella vulgaris (Hình 3.2).
Kết quả cũng cho thấyloài tảo có thành phần acid béo cao thì hàm lượng protein cũng rất cao
nên giàu giá trị dinh dưỡng.Các loài vi tảo nghiên cứu có hàm lượng protein không khác biệt
nhau quá nhiều, hàm lượng protein của các loài vi tảo dao động từ 5.08%- 8.01%. Protein là
hợp chất hữu cơ đóng vai trò quan trọng trong mọi hoạt động sống của sinh vật như: tham
gia xúc tác, vận chuyển, điều hoà, bảo vệ, dự trữ…, nên việc bổ sung protein trong thức ăn
là rất cần thiết. Ngoài ra, để tạo thức ăn có đầy đủ các acid amin phục vụ nuôi thuỷ sản,
chúng ta nên sử dụng thức ăn hỗn hợp trong đó có các loài vi tảo giàu dinh dưỡng như trên.
3.8. Hàm lượng carbohydrate của các loài tảo nghiên cứu
Carbohydrate (đường, tinh bột và chất xơ) còn có tên gọi khác là glucid. Carbohydrate
đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp năng lượng cho cơ thể sinh vật. Kết quả
phân tích carbohydrate được tổng hợp ở Hình 3.3.
Loài Nannochloropsis oculata có hàm lượng carbohydrate cao nhất sau đó tới loài
Chaetoceros muelleri, Chlorella vulgaris, Amphiprora alata và thấp nhất ở loài Navicula
tuscula, sự chênh lệch về hàm lượng carbohydrate của các loài vi tảo cao hơn so với sự chênh
lệch về hàm lượng protein (hàm lượng carbohydrate ở N.oculata gấp đôi so với hàm lượng
carbohydrate của N.tuscula). Kết hợp với các kết quả về thành phần protein và acid béo,
chúng tôi nhận thấy loài vi tảo giàu dinh dưỡng nhất là Nannochloropsis oculata, tuy nhiên
không thể chỉ sử dụng 1 loài này để bổ sung vào nguồn thức ăn của đối tượng nuôi thuỷ sản
mà cần phối hợp các loài khác để có nguồn dinh dưỡng tối ưu nhất.
116
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
Hình 3.3. Hàm lượng carbohydrate (g carbohydrate/100g trọng lượng khô) của tảo
Kết quả phân tích cho thấy thành phần acid béo, protein và carbohydrate khá đa dạng
và đặc trưng riêng cho từng loài. Việc kết hợp các loài tảo này sẽ tạo nguồn thức ăn tương
đối đầy đủ thành phần dinh dưỡng với tỉ lệ cao các acid béo chưa no đa nối đôi (DHA, EPA)
đồng thời cung cấp lượng protein và carbohydrate dồi dào cho các chuyển hóa quan trọng
của sinh vật. Cùng với sự đa dạng về kích thước, nếu biết phối hợp hiệu quả 5 loài vi tảo này
sẽ tạo nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng trong nuôi trồng thuỷ sản ở vùng ven biển.
4. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Trong 5 loài tảo nghiên cứu đều rất giàu dinh dưỡng, trong đó Nannochloropsis oculata
có thành phần acid béo đa dạng nhất (có 24 loại acid béo và tỉ lệ acid béo chưa no chiếm
71.7%), hàm lượng acid béo thấp nhất là Navicula tuscula (17 loại acid béo và tỉ lệ acid béo
chưa no chiếm 29.6%). Amphiprora alata giàu hàm lượng protein nhất (8.1g/100g trọng
lượng khô) và Chlorella vulgaris có hàm lượng protein thấp nhất (4.44g/100g trọng lượng
khô). Nannochloropsis oculata giàu carbohydrate nhất (11.8g/100g trọng lượng khô) và
Navicula tuscula có hàm lượng này thấp nhất (5.47g/100g trọng lượng khô).
Từ các kết quả nghiên cứu có được, chúng tôi có khuyến nghị cần có các thử nghiệm
thực tế sử dụng bổ sung thành phần vi tảo với các công thức khác nhau vào khẩu phần ăn
của thuỷ sản nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và tận dụng tối đa nguồn dinh dưỡng quý
gia từ tảo phân lập từ vùng ven biển có rừng ngập mặn.
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 20/2017
117
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ben-Amotz, R.Fishier and A.Schneller (1987), Marine Biology, pp. 95-31-36.
2. Akihiko Shirota (1996), The plankton of South Vietnam fresh and marine plankton, Oversea
technical cooperation Agency Japan.
3. Trương Ngọc An (1993), Phân loại tảo silic phù du biển Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật,
Hà Nội.
4. Lê Viễn Chí (1996), Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, công nghệ nuôi tảo silic Skeletonema
costatum(greville) cleve làm thức ăn cho ấu trùng tôm biển, Luận án PTS Sinh học, Hải Phòng.
5. Le Thi Phuong Hoa, Nguyen Thi Hoai Ha, Dang Ngoc Quang, Nguyen Hoang Tri (2010), “Fatty
acid profiles of mangrove microalge and their potential use as food”, Tạp chí khoa học và Công
nghệ, Tập 48, số 2A.
6. Le Thi Phuong Hoa, Nguyen Thi Hoai Ha, Pham Thi Bich Dao, Nguyen Ngoc Tuyen (2010),
“Biological properties and biomass culture of Chaertoceros muelleri from Giao Thuy mangrove
for use in aquaculture”, pp.609-614, (2010B).
7. Nguyễn Văn Mùi (2001), Thực hành hóa sinh học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 89.
8. Lê Xuân Tuấn, Mai Sỹ Tuấn (2005), “Nghiên cứu chất lượng và thành phần Phyplankton trong
rừng ngập mặn trồng tại xã Giao Lạc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định”, Kỷ yếu Hội nghị khoa
học về môi trường và phát triển bền vững, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, tr.450-461.
9. Le Xuan Tuan, Mai Sy Tuan, Le Thi Phuong and Nguyen Thi Thu Hoa, (2008). “Study on the
ability of Platymonas sp. And Nanochloropsis oculata micro-algae to reduce shrimp pond water
pollution in Giao Thuy District, Nam Dinh Province”. Journal of Science of HNUE, Vol.53, No
7, pp.83-89.
IDENTIFICATION OF NUTRITIONAL COMPOSITION OF SOME
ISOLATED MICROALGAE AT MANGROVES FOREST IN XUAN
THUY NATIONAL PARK, NAM DINH PROVINCE
Abstract: This paper attempts to identify nutrient composition of 5 microalgae species:
Amphiprora alata, Chaetoceros muelleri, Nannochloropsis oculata, Navicula tuscula,
Chlorella vulgaris. These species are extracted from mangrove area in Xuan Thuy National
Park. They are food sources for fishes, shrimps and bivalves and have little impacts to
environment. The research has identified 24 fatty acids in 5 phytoplankton species. 71.7%
of them are unsaturated. Navicula tusculahas 17 fatty acid with 29.6% unsaturated one.
Amphiprora alata's protein content is 8.1g per 100g of dry weight. Chlorella vulgarishas
protein content of 4.44g per 100g dry weight. Carbohydrate content of Nannochloropsis
oculatais 11.8g per 100g dry weight and that of Navicula tuscula is 5.47g per 100g dry weight.
Keywords: Microalgae, mangrove, Amphiprora alata, Chaetoceros muelleri,
Nannochloropsis oculata, Navicula tuscula, Chlorella vulgaris.
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu, xác định thành phần dinh dưỡng của một số loài tảo phân lập từ vùng rừng ngập mặn Vườn Quốc gia Xuân Thủy, tỉnh Nam Định", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nghien_cuu_xac_dinh_thanh_phan_dinh_duong_cua_mot_so_loai_ta.pdf

