Tổng quan về nghiên cứu và sử dụng gỗ tràm rừng trồng
TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG GỖ TRÀM RỪNG TRỒNG
Nguyễn Quang Trung
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
TÓM TẮT
Cây tràm (Melaleuca sp) là loài cây trồng rừng chủ lực trên vùng đất phèn vùng Đồng bằng
sông Cửu Long (ĐBSCL). Tiềm năng nguồn nguyên liệu gỗ tràm ở vùng ĐBSCL rất lớn: trữ lượng
gỗ tràm ở độ tuổi từ 1-5 năm, ước tính đạt xấp xỉ 13 triệu m3; trên tổng diện tích 132 262 ha rừng
trồng sản xuất. Do mục đích sử dụng làm cừ tràm là chủ yếu nên mật độ trồng rừng khá cao, chu kì
kinh doanh rừng trồng sản xuất hiện nay quá ngắn (6 năm/chu kì) vì thế gỗ tràm có các thông số
hình học không đạt yêu cầu làm nguyên liệu sản xuất gỗ xẻ.
Các nghiên cứu về gỗ tràm cho thấy các đặc điểm về cấu tạo và tính chất vật lí, cơ học của gỗ
tràm tương đương các loại gỗ keo và bạch đàn. Gỗ tràm có khối lượng thể tích ở độ ẩm 12% là 610
kg/m3. Độ bền uốn tĩnh của gỗ 100,8 MPa; độ bền nén dọc 465 MPa; độ pH của gỗ 6,0-6,5. Cường
độ bám dính với keo PVAc đạt 6,7 MPa. Ván dăm từ hỗn hợp gỗ tràm và gỗ keo lai có các tính chất
vật lí và cơ học đạt được cao hơn so với yêu cầu của ván dăm không chịu tải làm việc trong điều
kiện ẩm (theoTCVN-P3). Gỗ tràm có thể sử dụng làm nguyên liệu sản xuất bột giấy, sản xuất ván
sợi và sản xuất than chất lượng cao cho xuất khẩu. Để nâng cao giá trị rừng tràm, sản phẩm gỗ tràm
cần được sử dụng cho sản xuất gỗ xẻ. Muốn vậy phải áp dụng các biện pháp lâm sinh, cải thiện
giống nhằm nâng cao chất lượng gỗ tròn cũng như lựa chọn các công nghệ chế biến cho phù hợp,
mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Từ khóa: Sử dụng gỗ tràm, Tính chất gỗ tràm
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây tràm lấy gỗ (Melaleuca sp) được biết đến với tên gọi “tràm cừ” bởi gỗ tràm cho đến nay
chủ yếu vẫn được sử dụng làm cừ (cọc gỗ để gia cố nền móng, kè chắn các bờ đất ven sông, hồ
v.v.). Cũng bởi thị trường tiêu thụ gỗ tràm không rộng lại không đa dạng nên các biến động về cân
đối cung cầu cừ tràm đã ảnh hưởng trực tiếp tới giá thu mua gỗ tràm và gây biến động cho đầu tư
phát triển rừng tràm. Giai đoạn 2000 đến 2005 diện tích rừng tràm tăng nhanh trên toàn vùng Đồng
bằng sông Cửu Long. Đến 2006 giá thu mua cừ giảm mạnh, nhu cầu tiêu thụ cừ không tăng trong
khi sản lượng khai thác tràm của các hộ dân rất khó kiểm soát dẫn tới “cung” lớn hơn “cầu” càng
làm giảm giá thu mua gỗ tràm. Nhiều hộ dân để đảm bảo cuộc sống trước mắt đã phá bỏ rừng tràm
chuyển sang canh tác nông nghiệp. Diện tích rừng tràm vì thế ngày càng giảm.
Để góp phần duy trì và phát triển rừng tràm vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã có một số
công trình nghiên cứu về gỗ tràm và công nghệ gia công, chế biến nhằm đa dạng hóa các sản phẩm
công nghiệp từ gỗ tràm, từ đó nâng cao giá trị kinh tế cho cây tràm.
Bài viết này giới thiệu tổng quan kết quả nghiên cứu về gỗ tràm và sử dụng gỗ tràm nhằm
cung cấp thông tin khoa học mang tính định hướng cho sản xuất trong đầu tư phát triển bền vững
rừng tràm, chế biến gỗ tràm vùng ĐBSCL và những nghiên cứu tiếp theo về sử dụng gỗ tràm làm
nguyên liệu cho công nghiệp chế biến..
CÂY TRÀM VÀ TIỀM NĂNG NGUỒN NGUYÊN LIỆU GỖ TRÀM VÙNG ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG
Các loài tràm Melaleuca cajuputi, Melaleuca leucadendra, Melaleuca viridiflora thuộc họ sim
(Myrtaceae); trong đó loài M. cajuputi là loài bản địa, hai loài còn lại có xuất xứ từ Úc, được trồng
khảo nghiệm vào các năm 1994, 1995 tại xã Thủy Tây, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An. Cây tràm
được gọi là loài cây đa sinh thái vì tràm có thể tồn tại trên nhiều vùng sinh thái khác nhau: vùng có
khí hậu lạnh về mùa Đông đến vùng nhiệt độ bình quân trong năm cao và ổn định, vùng đồi cao khô
hạn đến vùng sình lầy, ngập nước theo mùa... Vì có khả năng thích nghi cao trên vùng đất phèn nên
cây tràm được chọn là một trong các loài cây trồng rừng chủ lực ở vùng đồng bằng song Cửu
Long..
Rừng tràm vùng ĐBSCL tập trung chủ yếu ở 6 tỉnh: Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, An
Giang, Kiên Giang và Cà Mau. Tổng diện tích rừng tính đến 2006 khoảng 176295 ha, trong đó rừng
sản xuất chiếm 75%, rừng phòng hộ chiếm 15%, rừng đặc dụng chiếm 10%. Phân theo chủ sở hữu,
các hộ dân quản lí khoảng 82000 ha chiếm 47% (chủ yếu là rừng trồng), diện tích còn lại do các cơ
quan Nhà nước quản lí: các vườn quốc gia, các lâm trường, nay là các công ty lâm nghiệp.
Bảng 1. Tổng hợp diện tích rừng tràm thuộc 6 tỉnh vùng ĐBSCL (năm 2006)
Theo loại rừng (ha)
Theo chức năng rừng (ha)
Tổng diện
tích
Rừng
phòng
hộ
Rừng
đặc
dụng
TT
Tỉnh
Rừng tự
Rừng
trồng
Rừng
sản xuất
(ha)
nhiên
1
2
3
4
5
6
Long An
64 293
10 809
8 019
800
63 493
10 809
8 019
4 822
24 421
29 760
60 881
6 602
5 776
4 822
24 421
29 760
1 292
1 120
2 137
-
20 871
1561
26 982
2 120
3087
101
Đồng Tháp
Tiền Giang
An Giang
Kiên Giang
Cà Mau
-
-
-
4 822
-
49 519
38 832
176 295
6892
2 040
9 732
7 653
7 521
20 473
Tổng
166 558 132 262
(Nguồn: Trần Thanh Cao, 2010)
Bảng 2. Diện tích rừng tràm phân theo độ tuổi
TT
Địa phương
Diện tích rừng tràm theo độ tuổi (ha)
I
II
III
7 627
1 280
1 407
120
2 283
6 665
19 382
IV
V
Tổng
60 881
6 602
5 776
4 822
24 421
29 760
132 262
1
2
3
4
5
6
Long An
Đồng Tháp
Tiền Giang
An Giang
Kiên Giang
Cà Mau
1 574
417
132
1 050
2 513
1 154
6 840
2 833
1 530
1 622
387
10 784
1 320
18 467
19 347
1 757
1 118
1 524
2 135
4 701
30 528
29 500
1 618
1 497
1 749
6 706
15 920
56 990
Tổng
(Nguồn Phân viện Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ, 2010 - Cây tràm Melaleuca)
Kết quả điều tra trữ lượng cấy đứng ở một số cấp tuổi của rừng tràm sản xuất ở 6 tỉnh vùng
ĐBSCL như sau:
Bảng 3. Trữ lượng gỗ rừng tràm sản xuất theo cấp tuổi
Trữ lượng gỗ rừng sản xuất theo cấp tuổi (m3)
TT Địa phương
II
III
IV
V
Tổng (m3)
5 524 176
454 616
1
2
3
4
Long An
60.550
32 701
34 667
11 066
515 658 1 779 127
3 168 841
173 803
160 805
317 784
Đồng Tháp
Tiền Giang
An Giang
86 540
95 127
9 105
161 527
102 810
195 722
393 409
533 667
5
6
Kiên Giang
Cà Mau
Tổng
315 039
38 623
173 081
505 295
274 154
603 653
1 218 446
2 892 583
7 932 263 12 927 253
1981 221
4 040 154
493 147 1 384 806 3 117 037
(Nguồn: Phân viện Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ, 2010)
Bảng 4. Ước tính sản lượng gỗ rừng tràm sản xuất của 6 tỉnh ĐBSCL
Sản lượng ước tính (1000 cây)
TT Địa phương
Củi
Cừ 3
Cừ 4
Cừ 5
94 803
5 200
4 811
5 621
21 551
51 162
183 147
Cừ cột
8 221
Tổng
219 323
12029
11 130
13 003
49 857
118 360
423 702
1
2
3
4
5
6
Long An
Đồng Tháp
Tiền Giang
An Giang
Kiên Giang
Cà Mau
33 807
1 854
1 718
2 004
7 685
18 244
65 311
41 516
2 277
2 107
2 461
9 438
22 405
80 204
40 976
22 47
2 079
2 429
9 315
22 113
79 159
451
417
487
1889
4436
15 881
Tổng
(Nguồn Phân viện Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ, 2006)
Diện tích rừng tràm tăng nhanh từ năm 2000 đến 2005. Thời điểm này giá cừ tràm cao, đã là
động lực khuyến khích các hộ dân đầu tư trồng tràm; đồng thời các chương trình hỗ trợ trồng rừng
trong nước và quốc tế đã góp phần tăng nhanh diện tích rừng tràm trên toàn vùng ĐBSCL. Từ năm
2006 đến 2010 diện tích rừng tràm có xu hướng ngày càng bị thu hẹp do giá thu mua cừ tràm giảm
mạnh. Thực tế cho thấy giá trị kinh tế của gỗ tràm là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến thu hút đầu tư
trồng rừng tràm ở vùng ĐBSCL. Vì thế để duy trì và phát triển diện tích rừng tràm, không thể
không nghiên cứu mở rộng khả năng sử dụng gỗ tràm nhằm tăng nhu cầu tiêu thụ và nâng cao giá
trị sử dụng gỗ tràm và đảm bảo thu nhập ngày càng tăng cho người trồng rừng.
MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA NƯỚC NGOÀI VỀ GỖ TRÀM VÀ SỬ DỤNG GỖ
TRÀM
Cho đến nay các nghiên cứu về gỗ tràm và sử dụng gỗ tràm chưa được quan tâm nhiều, có
thể do tiềm năng nguyên liệu gỗ tràm cho sản xuất công nghiệp còn nhiều hạn chế như: sản lượng
khai thác hàng năm, chất lượng nguyên liệu gỗ thấp hơn so với các loài cây khác như keo, thông,
bạch đàn. Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu đã đạt được về gỗ tràm và sử dụng gỗ tràm đã phần nào
rất hữu ích cho việc định hướng sử dụng nguồn nguyên liệu tiềm năng này.
Một số kết quả nghiên cứu về gỗ tràm tại Úc:
Các chuyên gia CSIRO-FFP và Trung tâm Công nghệ gỗ, Ủy ban sản phẩm rừng thuộc tiểu
bang miền Tây nước Úc đã có các nghiên cứu đánh giá khả năng tăng trưởng và sử dụng của 12 loài
cây bản địa, trong đó có một số loài tràm nhằm xem xét đánh giá khả năng sử dụng gỗ tràm.
Bảng 5. So sánh tính chất vật lí của gỗ tràm và một số loài khác ở Úc
Tỉ lệ
Khối lượng
Thể tích Thể tích
Độ ẩm
trung
bình (%)
Khối lượng
thể tích
Loài cây
thành khí thể tích gỗ
của gỗ xẻ
(%)
khúc gỗ
ván
tươi
(kg/m3)
1001
1119
1168
1067
1054
(m3)
(m3)
(kg/m3)
Acacia aff. Redolens
Eucalyptus occidentalis
Eucalyptus ornate
Melaleuca preissiana
Melaleuca rhaphiophylla
0,055
0,068
0,056
0,093
0,076
0,041
0,042
0,035
0,066
0,044
74,5
62,4
63,3
70,4
30
45
33
121
140
768
771
878
489
440
57,7
(Nguồn G.R.Siemon and P.Piper, 2004)
So sánh kết quả của bảng 5 cho thấy:
- Tỉ lệ thành khí của gỗ tràm thấp hơn so với gỗ bạch đàn và gỗ keo. Tuy nhiên trong báo cáo
này chưa đề cập đến chiều dài các khúc gỗ, vì gỗ tràm thường không thẳng như các khúc gỗ bạch
đàn, keo vì thế người ta thường cắt ngắn để nâng cao tỉ lệ thành khí.
- Gỗ tràm thuộc loại gỗ nhẹ, gỗ tươi chứa nhiều nước.
Bảng 6. So sánh độ co ngót của gỗ (wood shrinkage)
Co ngót theo chiều
Co ngót theo chiều Co ngót dọc
Loài
tiếp tuyến (%)
xuyên tâm (%)
thớ (%)
0,08
0,28
0,06
1,4
Acacia aff. Redolens
Eucalyptus occidentalis
Eucalyptus ornate
Melaleuca preissiana
Melaleuca rhaphiophylla
2,2
9,1
6,6
23,2
15,0
1,3
4,5
3,7
11,2
6,7
0,26
(Nguồn G.R.Siemon and P.Piper, 2004)
Độ co rút của gỗ theo các chiều nêu trong bảng 6 cho thấy độ co rút của gỗ tràm khá cao, đặc
biệt là co rút theo các chiều xuyên tâm và tiếp tuyến. Điều đó cũng có nghĩa việc chế biến gỗ xẻ từ
gỗ tràm sẽ khó khăn hơn so với các loại gỗ keo và bạch đàn.
Một số kết quả nghiên cứu của Nhật Bản:
Junji Masumura Khoa Nông nghiệp đại học Kuyshu Nhật Bản khi nghiên cứu về tính chất vật
lí và khả năng sử dụng gỗ tràm M. cajuputi được trồng ở vùng Naratiwat Thái Lan như sau:
- Cây tăng trưởng nhanh (đạt đường kính gốc 16 cm ở 11 năm tuổi), khối lượng thể tích của
gỗ tràm là 750 kg/cm3, cao hơn nhiều so với thể tích gỗ tràm của Úc và Việt Nam, và tương đương
các loài gỗ dầu, gỗ tếch.
- Độ co rút của gỗ theo các chiều xuyên tâm và tiếp tuyến cao hơn so với các loài khác điều
này cho thấy khả năng chế biến gỗ xẻ sẽ khó khăn hơn so với các loài gỗ nhiệt đới khác.
- Để đạt được hiệu quả chế biến và chất lượng sản phẩm, nguyên liệu gỗ cho sản xuất gỗ xẻ
phải có đường kính trên 20 cm và gỗ làm ván bóc phải có đường kính trên 30 cm. Các nhà quản lí
và lâm sinh cần quan tâm nâng cao chất lượng sản phẩm gỗ rừng tràm.
Trong khuôn khổ một dự án khác do JICA tài trợ, Masatoshi Sato cũng đã công bố kết quả
nghiên cứu sử dụng gỗ tràm Melaleuca cajuputi ở Naratiwat Thái Lan để sản xuất ván dăm - xi
măng với tỉ lệ gỗ- xi măng là 1:2 theo trọng lượng; kích thước ván thương mại là 1,22 x 2,44m. Kết
quả điều tra độ bền uốn của ván tương đương với ván dăm xi măng làm từ các loại gỗ bạch đàn (ván
được làm trên dây truyền thiết bị của nhà máy sản xuất ván dăm gỗ-xi măng VIVA industry CO.
LTD Thái Lan).
MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA VIỆT NAM VỀ SỬ DỤNG GỖ TRÀM
Kết quả nghiên cứu đặc điểm nguyên liệu gỗ tràm:
Nghiên cứu về cấu tạo gỗ
Cấu tạo thô đại: Gỗ tràm có vòng năm rõ ràng; giác lõi phân biệt; gỗ có màu xám nhạt; lõi
màu hồng xám; mặt gỗ mịn; mạch đơn phân tán, sắp xếp thành hàng lệch theo hình dấu “>”. Số
lượng mạch 7/mm2. Gỗ tràm thuộc nhóm gỗ có số lượng mạch trung bình; tia gỗ nhỏ, khó thấy bằng
kính lúp X10. Thớ gỗ thẳng, không có vân thớ đặc biệt.
Cấu tạo hiển vi: Mô mềm dọc, phân tán, số lượng ít. Đường kính trung bình lỗ mạch là 135
µm, thuộc nhóm gỗ có lỗ mạch nhỏ; trong ống mạch có chứa chất màu hồng. Lỗ thông ngang giữa
các mạch hình khe nhỏ. Nhỏ hơn lỗ thông ngang giữa mạch và tia. Tia gỗ nhỏ, dị hình gồm 1 hàng
tế bào, thường thì ở 2 đầu có tế bào dài. Tia cao trung bình 177 µm; rộng 14 µm. Thuộc nhóm gỗ có
tia nhỏ và hẹp; số lượng tia trung bình 14/mm, thuộc nhóm gỗ có số lượng tia nhiều.
Sợi gỗ dạng quản bào, dài trung bình 1062 µm; thuộc nhóm gỗ có sợi dài trung bình; đường
kính sợi trung bình 22,4 µm; đường kính khoang sợi trung bình10,8 µm, thuộc nhóm gỗ có sợi hẹp
và mỏng.
Nghiên cứu về một số tính chất vật lí, cơ học và tính chất công nghệ của gỗ tràm
Để đánh giá khả năng sử dụng gỗ tràm làm nguyên liệu cho chế biến công nghiệp, một trong
các cách dễ nhận biết nhất là so sánh các đặc điểm công nghệ của nguyên liệu gỗ tràm với một số
loại gỗ rừng trồng khác đang được sử dụng phổ biến hiện nay.
Bảng 7. So sánh một số tính chất vật lí và cơ học của gỗ tràm với một số loài gỗ khác
Tính chất
Tràm Keo lá tràm Keo lai Keo tai tượng
Hệ số co rút thể tích (%)
12,6
610
100,8
46,5
0,41
560
99
0,39
538
99
0,46
586
97
Khối lượng thể tích (kg/m3)
Giới hạn bền khi uốn tĩnh tiếp tuyến (MPa)
Giới hạn bền khi nén dọc (MPa)
45
41
42
(Nguồn: Tiêu chuẩn ngành 04TCN-2002, Gỗ Việt Nam - Tên gọi và đặc tính cơ lí)
Bảng 8. So sánh cường độ bám dính với keo PVAc của gỗ tràm với các loại gỗ khác
Tràm
10 tuổi
6,77
Bạch đàn
8 tuổi
Bạch đàn
6 tuổi
Keo lai
9 tuổi
7,15
Keo lá tràm
10 tuổi
6,84
Loài cây
Độ bám dính (MPa)
7,44
6,70
Kết quả kiểm tra tính chất cơ học cho thấy gỗ tràm tương đương với một số loại gỗ khác như
keo và bạch đàn. Nếu chỉ xét trên yêu cầu độ bền cơ học, bỏ qua các đặc điểm hình học (đường kính
gỗ bé, không thẳng v.v..) gỗ tràm có thể sử dụng làm nguyên liệu đóng đồ mộc như các loại gỗ keo
và bạch đàn, tuy nhiên hệ số co rút thể tích của gỗ tràm cao hơn các loại gỗ khác, điều này cảnh báo
mức độ khó khăn trong quá trình xẻ-sấy, chế biến gỗ tràm.
Bảng 9. So sánh thành phần hóa học và khả năng sản xuất bột giấy của gỗ tràm và loài khác
Tràm
M. cajuputy
46,8
Bạch đàn lai
U24
Bạch đàn
U6
Keo lai
BV16
50,9
25,8
2,0
1,09
2,0
49,3
6,2
Thành phần
Xenlulo (%)
Lignhin (%)
Các chất nhựa (%)
Chiều dài sợi
Trị số Kapa
50,1
24,5
1.2
0,86
1,20
46,7
5,6
45,4
25,8
1,86
0,95
1,86
41,4
6,7
24,8
1,15
1,06
1,15
42,2
6,4
Hiệu suất bột giấy (%)
Độ bền xé (Nm2/g)
(Nguồn Nguyễn Việt Cường, Nguyễn Xuân Quát, 2005)
Với thành phần hóa học và cấu tạo sợi như trên, gỗ tràm hoàn toàn đáp ứng các yêu cầu
nguyên liệu sản xuất bột giấy. So với các loại nguyên liệu đang được dùng phổ biến hiện nay như
gỗ keo, gỗ bạch đàn thì năng suất bột giấy từ nguyên liệu gỗ tràm có thấp hơn, nhưng độ tẩy trắng
lại cao hơn.
Các nghiên cứu về sử dụng gỗ tràm
Đánh giá khả năng sử dụng gỗ tràm cho sản xuất ván dăm, ván ghép thanh
Bùi Duy Ngọc (2008) đã nghiên cứu sử dụng gỗ tràm sản xuất ván dăm, ván ghép thanh. Các
kết quả kiểm tra tính chất vật lí và cơ học của sản phẩm ván dăm từ gỗ tràm nêu trong bảng 10.
Bảng 10. So sánh một số thông số công nghệ của ván dăm làm từ gỗ tràm và các loại gỗ khác
Tính chất công nghệ
Tràm
Bạch đàn Bạch đàn Keo lai
Keo lá tràm
8 tuổi
7,68
15,45
0,68
36,36
14,54
16,75
6 tuổi
7,68
15,28
0,67
38,01
14,01
17,04
9 tuổi
7,99
13,74
0,66
39,92
14,17
16,83
10 tuổi
7,73
15,42
0,65
35,66
14,22
16,71
Độ ẩm ván (%)
9,87
16,51
0,70
Chiều dày (cm)
Khối lượng thể tích (g/cm3)
Độ hút nước, (%)
35,61
10,41
11,91
Độ dãn nở dày (%)
Độ bền uốn tĩnh, (MPa)
Độ bền kéo vuông góc mặt
ván (MPa/cm2)
0,41
0,32
0,31
0,35
0,34
(Nguồn: Bùi Duy Ngọc, 2008)
Số liệu tại bảng trên cho thấy không có sự khác biệt lớn về tính chất công nghệ của ván dăm
gỗ tràm so với sản phẩm ván dăm từ các loại nguyên liệu thông thường khác như gỗ keo và bạch
đàn.
Để nâng cao độ bền uốn tĩnh của ván dăm từ gỗ tràm, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
đã thực hiện các thí nghiệm tạo ván dăm hỗn hợp gỗ tràm và gỗ keo lai cho kết quả như sau: Nếu
pha trộn dăm gỗ tràm với dăm gỗ keo lai theo tỷ lệ pha trộn: 60/40 % thì ván dăm tạo ra có các chỉ
số độ bền uốn tĩnh đạt 14,13 MPa và độ bền kéo vuông góc mặt ván đạt 0,47 MPa. Các thông số
này cao hơn so với yêu cầu của ván dăm không chịu tải, sử dụng ở điều kiện ẩm theo TCVN - P3.
Bảng 11. Đánh giá tổng hợp gỗ tràm theo yêu cầu nguyên liệu sản xuất ván dăm
TT
1
Thông số kĩ thuật
Thông số hình học:
Đơn vị
Yêu cầu kĩ thuật
Đối chiếu với gỗ tràm
Đường kính
Chiều dài
Độ cong
cm
cm
%
6- 14
100
<15
Đạt
Đạt
Đạt
Độ thon
Độ tròn
Khối lượng thể tích
Tỉ lệ vỏ, lõi, giác:
Tỉ lệ vỏ
%
Không quy định
Không quy định
0,4 -0,6
%
2
3
g/cm3
Đạt
%
%
%
<10
Gỗ tràm có lớp vỏ dày,
thân gỗ cong, khó bóc
bằng máy
Tỉ lệ giác
Tỉ lệ lõi
Không quy định
Không quy định
4
5
Đặc điểm của ván:
Tỉ suất dăm công nghệ
Độ pH của gỗ
Tính chất cơ học của ván:
Dãn nở dầy
%
>70%
6-6,5
Đạt
Không đạt
%
Mpa
Mpa
<15
15-16
0,3
Đạt
Đạt
Đạt
Độ bền uốn tĩnh
Độ bền kéo vuông góc
Kết nghiên cứu về khả năng sử dụng gỗ tràm làm nguyên liệu sản xuất ván ghép thanh cho
biết trở ngại lớn nhất là đường kính khúc gỗ quá bé, co rút của gỗ tràm cao hơn so với các loại gỗ
khác, điều này sẽ dẫn đến tỉ lệ thành khí, tỉ lệ sử dụng của gỗ xẻ từ gỗ tràm thấp. hiệu quả kinh tế
thấp. Chính vì thế để gỗ tràm trở thành nguyên liệu sản xuất gỗ xẻ, ván ghép thanh cho sản xuất đồ
mộc cần tiếp tục nghiên cứu nâng cao chất lượng nguyên liệu và công nghệ mới nhằm sử dụng hiệu
quả hơn các loại gỗ tràm có đường kính nhỏ.
ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU, SỬ DỤNG GỖ TRÀM
Để mức tiêu thụ gỗ tràm cao và ổn định, gỗ tràm cần được nghiên cứu sử dụng như một loại
nguyên liệu cho chế biến công nghiệp.
Nghiên cứu các giải pháp về lâm sinh, giống nhằm nâng cao chất lượng gỗ đáp ứng yêu cầu
nguyên liệu gỗ cho chế biến công nghiệp.
Nghiên cứu chế biến sử dụng gỗ tràm sản xuất ván dăm, ván sợi, tan gỗ chất lượng cao.
Nghiên cứu sử dụng gỗ tràm sản xuất gỗ ghép khối, ván ghép thanh đáp ứng nhu cầu nguyên
liệu gỗ xẻ cho xây dựng và sản xuất đồ mộc vùng ĐBSCL.
KẾT LUẬN
Rừng tràm giữ vai trò quan trọng trong hệ sinh thái ngập nước vùng ĐBSCL. Duy trì và phát
triển rừng tràm có ý nghĩa lớn trong việc bảo tồn hệ sinh thái đặc biệt và bảo vệ môi trường trong
vùng. Để nâng cao giá trị kinh tế cho cây tràm, tạo động lực để duy trì và phát triển rừng tràm, các
kết quả nghiên cứu bước đầu đầu đã khẳng định gỗ tràm có tiềm năng sử dụng làm nguyên liệu cho
chế biến ở quy mô công nghiệp. Sử dụng gỗ tràm làm nguyên liệu tạo dăm gỗ cung cấp cho sản
xuất ván dăm, ván MDF, viên nhiên liệu sẽ tạo ra thị trường tiêu thụ gỗ tràm ở mức cao, ổn định
nguồn tiêu thụ.
Để đạt mục tiêu sử dụng tổng hợp gỗ tràm, đa dạng hóa các sản phẩm từ gỗ tràm và nâng cao
giá trị sử dụng, giá thu mua gỗ tràm cần tiếp tục hướng nghiên cứu sử dụng gỗ tràm làm ván ghép
khối tạo ra nguyên liệu cho sản xuất đồ mộc. Gỗ tràm có các tính chất vật lí và cơ học phù hợp với
các điều kiện nguyên liệu gỗ làm đồ mộc. Để đáp ứng yêu cầu gỗ nguyên liệu phục vụ công nghiệp
chế biến, cần nghiên cứu và áp dụng các biện pháp lâm sinh và thâm canh thích hợp nhằm nâng cao
chất lượng nguyên liệu gỗ tràm.
Hình 1: Giá sách làm từ gỗ tràm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Văn Bản (2002). Kết quả nghiên cứu một số tính chất gỗ của Melaleuca cajuputi, Melaleuca
leucadendra, Melaleuca viridiflora và định hướng sử dụng gỗ của chúng. Báo cáo hội thảo tổng kết
dự án Phát triển kĩ thuật trồng rừng trên đất phèn vùng đồng bằng sông Cửu Long.
2. Trần Thanh Cao (2006). Nghiên cứu thực trạng phát triển rừng tràm ở đồng bằng sông Cửu Long,
giải pháp khắc phục.
3. Nguyễn Việt Cường, Phạm Đức Tuấn, Nguyễn Xuân Quát (2008). Cây tràm Việt Nam từ nghiên
cứu đến sản xuất – Sinh thái – công dụng - chọn giống - lai tạo giống và k thuật gây trồng. Nhà
xuất bản Nông nghiệp.
4. Bùi Duy Ngọc (2009). Nghiên cứu sử dụng tổng hợp có hiệu quả gỗ tràm. Báo cáo khoa học đề
tài. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.
5. Nguyễn Trọng Nhân; Yoichi Nagatsuka Báo cáo hiện trạng cung ứng và sử dụng gỗ tràm. Viện
Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội.
6. Nguyễn Quang Trung (2009). Tiềm năng nguyên liệu gỗ tràm ở Kiên Giang và định hướng sử
dụng
7. Nguyễn Quang Trung (2006). Phân tích một số đặc tính chủ yếu của gỗ tràm Melaleuca cajuputi
và định hướng sử dụng trong sản xuất ván dăm và ván ghép thanh.
8. G.R.Siemon and P.Piper (2004). Wood properties and possible soilid products from selected
western Australiantimbers. Part 2.
9. Junji Matsumura (1999). Report on “ Possibility of development for uses of Melaleuca cajuputy
wood” at the seminar on Afforestation technology development on acidsulphate soil in the Mekongh
Delta. Forest Science Institute of Vietnam.
10. Masatoshi Sato (2005). Development of Melaleuca wood utilization technology. The case of
wood cement board and block. Workshop on Melaleuca wood utilization development – Ho Chi
Minh City.
OVERVIEW OF MELALEUCA TIMBER STUDY AND UTILIZATION
Nguyen Quang Trung
Forest Science Institute of Vietnam
SUMMARY
Melaleuca is the main tree species selected for planting on the acidic sulphurous soils of the
Mekong Delta where more than 132,260 ha of Melaleuca plantations have been established with a
standing volume of approximately 13 million cubic metres. This resource has the potential to
replace wood and timber sourced from native forests or from importation.
The wood properties of Melaleuca wood are similar to Acacia and Eucalyptus, introduced tree
species grown elsewhere in Vietnam. For example, wood density (12% moisture content) 610
kg/m3, MOR 100.8 MPa, longitudinal compression strength 465 MPa, pH 6.0 to 6.5 and shearing
strength (with PVAc glue) 6.7 MPa.
Melaleuca has a wide range of uses; its timber can be used for pulp and paper, fibre and particle
board, export quality charcoal and potentially sawn timber. At this time the bulk of the harvested
Melaleuca logs supplied to the market are small diameter and are generally curved, so do not meet
the standards for sawn timber. However, when combined with Acacia hybrid wood chips, the
resulting particleboard has the physical and mechanical properties that meet the standards defined
by TCVN-P3.
With increasing pressure on native forests and the need to protect the Delta from the effects of
climate change, Melaleuca provides an opportunity to supply wood products and also protect the
landscape. In addition to the wood studies reported here, ongoing tree breeding and tree
improvement studies will deliver new and superior genetically improved Melaleuca varieties
adapted to the Delta. These new varieties, together with adaptive silvicultural techniques, should
result in improved log quality, increasing the range of products obtainable from Melaleuca
including sawn timber.
Key words: Melaleuca timber utilization; Melaleuca properties.
Người thẩm định: TS. Nguyễn Thị Bích Ngọc
Bạn đang xem tài liệu "Tổng quan về nghiên cứu và sử dụng gỗ tràm rừng trồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tong_quan_ve_nghien_cuu_va_su_dung_go_tram_rung_trong.pdf

