Một số đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài xoan đào (Pygeum arboreum Endl.) tại tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn

TIỂU BAN SINH THÁI HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG  
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH TỰ NHIÊN CỦA LOÀI XOAN ĐÀO  
(PYGEUM ARBOREUM ENDL.) TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ BẮC KẠN  
Nguyễn Công Hoan1, Trần Quốc Hƣng1,  
Nguyễn Thị Thoa1, Đặng Kim Vui2,  
1Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên  
2Đại học Thái Nguyên  
Ở Việt Nam độ che phủ của rừng tăng từ 35,8% năm 2002 lên 40,84% năm 2015, trong đó  
rừng tự nhiên là hơn 10,17 triệu ha, rừng trồng là hơn 3,86 triệu ha. Tuy nhiên, chất lượng của  
rừng đang suy giảm nghiêm trọng do mất đi nguồn gen của nhiều loài cây gỗ bản địa có giá trị.  
Nguyên nhân chính là do phương thức khai thác và tái sinh không đáp ứng được những lợi ích  
lâu dài trong quá trình quản lý tài nguyên rừng. Do vậy, việc phục hồi rừng tự nhiên bằng cây  
bản địa có giá trị kinh tế đã và đang được xem như là một giải pháp quan trọng của ngành lâm  
nghiệp trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai (Le Dinh Kha et al, 2003).  
Xoan đào (Pygeum arboreum Endl.) là cây gỗ lớn, gỗ thuộc nhóm VI là cây đa tác dụng  
(Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007), (Nguyễn Thị Nhung, 2009) tại khu vực nghiên cứu do ảnh  
hưởng của khai thác rừng nên số lượng loài cây này đã giảm đáng kể. Do vậy việc phục hồi loài  
Xoan đào (Pygeum arboreum) là cần thiết. Tuy nhiên, để sử dụng loài Xoan đào (Pygeum  
arboreum) làm cây mục đích trồng rừng và làm giầu rừng là một vấn đề lớn. Nhiều nơi đã đưa  
ra một số loài cây bản địa làm cây mục đích song gặp không ít khó khăn, đặc biệt là những  
thông tin về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài làm cơ sở đề xuất các giải pháp kỹ  
thuật lâm sinh nhằm mang lại hiệu quả cao trong việc tạo rừng (Bộ Khoa học và Công nghệ,  
2007), (Nguyễn Văn Thông, 2001), (Đỗ Đình Sâm, 2001). Vì vậy, nghiên cứu này là cần thiết  
nhằm phục hồi rừng bằng cây bản địa, đáp ứng được các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường  
tại khu vực nghiên cứu.  
I. NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
1. Nội dung nghiên cứu  
Nghiên cứu này tập trung vào các nội dung: (1) Cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ có Xoan đào  
phân bố; (2) Đặc điểm cấu trúc tầng thứ của rừng; (3) Đặc điểm tái sinh của lâm phần và Xoan  
đào tại khu vực nghiên cứu.  
2. Phƣơng pháp nghiên cứu  
2.1. Phương pháp thu thập số liệu  
Tại mỗi tỉnh điều tra 2 huyện, mỗi huyện điều tra tại 2 xã, mỗi xã lập 9 ô tiêu chuẩn (OTC)  
tạm thời, mỗi OTC có diện tích 1.000 m2 (25x40 m). Tổng số OTC là 72. Trong OTC, tiến hành  
điều tra tầng cây cao như sau: (1) Xác định tên loài cây; (2) Đo đường kính ngang ngực (D1,3)  
những cây có D ≥ 6 cm bằng cách đo chu vi sau đó quy đổi ra đường kính thân cây; (3) Đo  
chiều cao vút ngọn (Hvn) và chiều cao dưới cành (Hdc) bằng thước sào có chia vạch đến 20cm,  
sai số đo cao ±10 cm; (4) Đo đường kính hình chiếu tán (Dt) bằng thước dây theo hướng ĐT-  
NB, sau đó lấy giá trị bình quân với sai số là ±10 cm; (5) Phân cấp phẩm chất cây (tốt, trung  
bình, xấu).  
Trong các OTC, lập 5 ô dạng bản với diện tích 25m2 (5x5 m). Trong các ô dạng bản thu thập  
số liệu về tầng cây tái sinh như: (1) Xác định tên loài; (2) Xác định nguồn gốc (chồi, hạt); (3) Chất  
lượng cây tái sinh (tốt, trung bình, xấu); (4) Đo chiều cao cây tái sinh. Tổng số ô dạng bản là 360.  
1632  
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC VỀ SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT LẦN THỨ 7  
2.2. Phương pháp xử lý số liệu  
- Tổ thành tầng cây cao được tính theo công thức của Curtis, J. T (1959) như sau:  
        
IVi% =  
(1)  
 
Trong đó: Ni% là phần trăm số cá thể ở tầng cây cao của loài i so với tổng số cây trên ô tiêu  
chuẩn; Gi là phần trăm tiết diện ngang của loài i so với tổng tiết diện ngang trong ô tiêu chuẩn.  
n
- Mật độ được tính theo công thức:  
(2)  
N/ha  
0.000  
S
- Mô tả cấu trúc tầng thứ của rừng: Để mô tả cấu trúc tầng thứ của lâm phần nơi có Xoan đào  
phân bố, sử dụng phương pháp vẽ trắc đồ đứng của Richads và Davis (Thái Văn Trừng, 1978).  
ni  
N
- Tổ thành cây tái sinh được tính theo công thức:  
(3)  
Ki  
10  
Trong đó: Ki là hệ số tổ thành loài thứ i; ni là số lượng cá thể loài i; N là tổng số cá thể điều tra.  
n
N
- Chất lượng cây tái sinh được tính theo công thức:  
(4)  
N%  
100  
Trong đó: N% là tỷ lệ phần trăm cây tốt, trung bình, hoặc xấu; n là tổng số cây tốt, trung  
bình, hoặc xấu; N là tổng số cây tái sinh.  
II. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
1. Cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ có Xoan đào phân bố  
Kết quả nghiên cứu cấu trúc tầng cây gỗ trong các trạng thái rừng được trình bày trong bảng 1 và 2.  
Bảng 1  
Đặc điểm cấu trúc tổ thành tầng cây cao trạng thái IIa  
Loài/  
CT  
Vị trí  
Xã  
N/ha  
Công thức tổ thành  
Thái Nguyên  
9,49Xđ+8,08Ctg+6,98Hđ+6,75Kh+6,31Vđ  
+6,06Tr+5,38Db+49,07Lk.  
10,9Kh+9,96Cht+9,44Bb+7,73Xđ+7,65Hđ  
+7,1Lx+47,1Lk.  
15,2Th+8,52Kh+8,28Xnh+6,76Dg+6,01Db  
+5,53Xđ+49,8Lk.  
11,01Hđ+10,53Thb+7,09Thng+6,38Lx  
+6,18Db+5,08Xđ+53,7Lk.  
Hoàng Nông  
La Bằng  
330  
310  
298  
393  
7
6
6
6
Đại Từ  
Nghinh Tường  
Sảng Mộc  
Võ Nhai  
Bắc Kạn  
Chợ Đồn  
14,31Rg+11,33Kh+9,46Cht+9,15Bs  
+7,47Xđ+6,98Dg+41,26Lk.  
15,4Thng + 8,6Thm + 8,5Xnh + 6,9Bđ  
+5,1Xđ + 55 Lk.  
16,7Cht+11,8Xđ+8,7Kh+6,5Dg+6,2Tr  
+5,8B+44,2Lk.  
Bình Chung  
Yên Mỹ  
348  
285  
350  
284  
6
5
6
7
Đổng Xá  
Na Rì  
12,8Dg+12,7Bđ+9,3Kh+8,8Lx+6,2Vt  
+5,9Xđ+5,68T+48,6Lk.  
Quang Phong  
1633  
TIỂU BAN SINH THÁI HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG  
Chú thích: Xoan đào: Xđ; Côm tầng: Ctg; Hu đay: Hđ; Kháo: Kh; Trám: Tr; Dẻ bốp: Db: Chẹo tía;  
Cht; Bưởi bung; Bb; Lim xẹt: Lx; Xoan nhừ: Xnh; Dẻ gai; Dg; Thành ngạnh: Thng; Ràng ràng mít: Rg:  
Ba soi: Bs; Vối thuốc: Vt; Táu: T; Loài khác: LK.  
Tại Thái Nguyên, số loài cây gỗ dao động từ 24-32 loài, mật độ dao động từ 298-393  
cây/ha, trong đó có từ 6-7 loài có chỉ số IVI > 5% tham gia vào công thức tổ thành rừng chiếm  
từ 49,2 - 53,5% tổng chỉ số mức độ quan trọng IV% trong quần xã. Các loài tham gia vào công  
thức tổ thành tại khu vực nghiên cứu như Kháo (Machilus sp.), Xoan nhừ (Choerospondias  
axillaris), Dẻ gai (Castanopsis indica), Lim xẹt (Peltophorum var. tonkinense) và Xoan đào  
(Pygeum arboreum), trong đó Xoan đào có chỉ số IV dao động từ 5,08- 9,49%; tiếp đến là loài  
Kháo (Machilus sp.) có chỉ số IV từ 6,75-10,09%; Dẻ gai (Castanopsis indica) từ 5,38-6,18%  
và Lim xẹt (Peltophorum var. tonkinense) có IV từ 6,38-7,1%. Còn lại 18-25 loài khác có chỉ số  
IV< 5% và chiếm từ 47,1-53,7% tổng mức độ quan trọng trong quần xã thực vật rừng, trong đó  
có một số loài như Lá nến (Macaranga denticulata), Giền đỏ (Xylopia vielana), Sòi tía (Sapium  
discolor), Bưởi bung (Acronychia pedunculata) có số cá thể từ 1-5 cây.  
Tại Bắc Kạn, mật độ tầng cây gỗ dao động từ 284-350 cây/ha, số loài biến động từ 23-29, số  
loài có IV>5% tham gia vào công thức tổ thành rừng dao động từ 5-7 loài, trong đó Xoan đào  
(Pygeum arboreum) có chỉ số IV dao động từ 5,1-7,4%; tiếp theo là loài Kháo (Machilus sp.) có  
IV từ 8,7-11,3%; Bồ đề (Styrax tonkinensis) có chỉ số IV từ 6,9-12,7%; Dẻ gai (Castanopsis  
indica) có chỉ số IV dao động từ 6,5-12,8%. Còn lại 18-23 loài có chỉ số IV% chiếm từ 41,26-  
55% tổng mức độ quan trọng trong quần xã thực vật rừng, như Dẻ gai (Castanopsis indica),  
Chẹo (Engelhardtia roxburghiana), Vàng anh (Saraca dives), Máu chó lá nhỏ (Knema  
globularia) có số cá thể thấp nên không có mặt trong công thức tổ thành rừng.  
Dẫn liệu bảng 2 cho thấy, trong tầng cây cao của trạng thái IIb tại mỗi khu vực có sự khác biệt như  
sau.  
Tại Thái Nguyên, mật độ tầng cây gỗ dao động từ 313-393 cây/ha, số loài cây gỗ dao động  
từ 20-27 loài, trong đó có từ 6-7 loài có chỉ số IV>5% tham gia vào công thức tổ thành rừng  
chiếm trên 50% tổng chỉ số mức độ quan trọng, trong đó Máu chó lá nhỏ (Knema globularia) có  
chỉ số IV từ 7,1-15,5%; Ràng ràng mít (Ormosia balansae) có IV từ 5,8-12,3%; Trám trắng  
(Canarium album (Lour.) Raeusch.) có hệ số IV từ 8,3-9,5%; Xoan đào (Pygeum arboreum) có  
chỉ số IV từ 5,2-10,1% trong tổng chỉ số mức độ quan trong, bên cạnh những loài cây có tầm  
vóc lớn, đời sống dài trong công thức tổ thành còn xuất hiện một số loài cây mọc nhanh như:  
Chẹo (Engelhardtia roxburghiana), Thành ngạnh (Cratoxylum cochincinensis), Xoan nhừ  
(Choerospondias axillaris). Còn lại từ 22-25 loài có chỉ số IV<5% như: Đỏm lông (Bridelia  
monoica), Lòng mức trái to (Wrightia laevis), Cà lồ (Caryodaphnopsis tonkinensis), Bứa lá nhỏ  
(Garcinia oblongifolia), Dung (Symplocos laurina), Vàng anh (Saraca dives), Sụ lưỡi mác  
(Phoebe lanceolata) có từ 1 - 5 cá thể.  
Bảng 2  
Đặc điểm cấu trúc tổ thành tầng cây cao trạng thái IIb  
Loài/  
CT  
Vị trí  
Xã  
N/ha  
Công thức tổ thành  
Thái Nguyên  
15,5Mch+ 12,3Dg + 9,4Vga + 8,5Trt  
+ 7,4Rrm + 5,2Xđ + 41Lk.  
Hoàng Nông  
339  
329  
6
6
Đại Từ  
12,9Vga+ 11,6Dg + 10,1Rrm + 9,5Trt  
+ 6,7Xđ + 5,2Xnh + 44Lk.  
La Bằng  
1634  
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC VỀ SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT LẦN THỨ 7  
11,9Khn + 11,2Thn + 10,1Xđ + 8,3Trt  
Nghinh Tường  
313  
7
+7,6Mch+5,8Rrm + 5,2Dg + 40,2Lk.  
14,9Cht + 12,3Rrm + 9,8Xnh + 7,1Mch  
+ 6,2Rh + 5,9Xđ + 43,8Lk.  
Võ  
Nhai  
Sảng Mộc  
376  
6
Bắc Kạn  
Bình Chung  
Yên Mỹ  
304  
312  
367  
321  
5
6
6
7
13,3Dđ + 11,9Vga + 9,2 Kh + 7,1Trm +6,4Xđ +52 Lk.  
11,9Trm + 9,54Kh +7,5Dg + 6,4Xđ+5,95Dđ +5,21 Vr +  
53,5Lk.  
10,6Vga + 9,7Trm + 8,3Lx + 8,1Xđ +6,9Dg +56,4 Lk.  
11,5 Mch +6,8Trm + 6,3Vga + 6,11Xđ +5,6Dđ +5,4  
Mnđ + 5,1 Xnh + 53,2Lk.  
Chợ  
Đồn  
Đổng Xá  
Na Rì  
Quang Phong  
Chú thích: Máu chó: Mch; Dẻ gai: Dg; Vàng anh: Vga; Trám trắng: Trt; Ràng ràng mít: Rrm; Xoan  
đào: Xđ; Xoan nhừ: Xnh; Dẻ đỏ: Dđ; Lim xanh: Lx; Mắn đỉa: Mnđ; Chẹo tía: Cht; Vàng tâm: Vt; Loài  
khác: LK.  
Tại Bắc Kạn, số loài biến động từ 31-33 loài, số loài tham gia vào công thức tổ thành rừng  
từ 5-7 loài, chiếm từ 43,6-47,9% trong tổng chỉ số IV của rừng, trong đó Trám chim (Canarium  
tonkinense Engl.) có chỉ số IV từ 6,8-11,9%; Vàng anh (Saraca dives) có chỉ số IV dao động từ  
6,3-11,89%; Xoan đào (Pygeum arboreum) có chỉ số IV từ 6,11-8,1%; Dẻ đỏ (Castanopsis  
armata) có chỉ số IV từ 5,6-13,3%. Còn lại từ 24-26 loài có chỉ số IV chiếm từ 52,1-56,4% tổng  
mức độ quan trọng trong quần xã thực vật rừng như: Máu chó lá nhỏ (Knema globularia), Thị  
ba ngòi (Diospyros bangoiensis), Chòi mòi (Antidesma ghasembilla), Chay bắc bộ (Artocarpus  
tonkinensis), Mạy tèo (Streblus macrophyllus), Cánh kiến (Mallotus philippinensis),... có từ 2-6  
cá thể.  
2. Đặc điểm cấu trúc tầng thứ của rừng: Cấu trúc tầng thứ liên quan với sự biến đổi của hàng  
loạt các yếu tố của môi trường, phản ánh đặc tính sinh thái học, nhu cầu ánh sáng của các loài  
tham gia tổ thành. Kết quả được tổng hợp trong bảng 3.  
Dẫn liệu trong bảng 3 cho thấy, ở trạng thái IIa có cấu trúc 2 tầng, trong đó tầng trên có chiều  
cao ≤ 30m với sự góp mặt của các loài như: Côm tầng (Elaeocarpus griffithii), Kháo (Machilus  
sp.), Xoan nhừ (Choerospondias axillaris), Dẻ gai (Castanopsis indica) và Xoan đào (Pygeum  
arboreum),… Tầng dưới có mốt số loài cây như: Sau sau (Liquidambar formosana), Thanh thất  
(Ailanthus triphysa), Dâu da (Allospondias lakonensis), Xoan nhừ (Choerospondias axillaris).  
Bảng 3  
Chiều cao của lâm phần và Xoan đào tại khu vực nghiên cứu  
Toàn rừng  
Xoan đào  
Htb  
Trạng  
thái  
Khu vực  
Vị trí  
Xã  
Hmin  
(m)  
7,5  
8,7  
6,6  
7,3  
7,1  
8,3  
8,7  
7,6  
9,2  
7,7  
Htb Hmax Hmin  
Hmax  
(m)  
22,8  
21,2  
20,5  
19,4  
20,3  
21,1  
21,7  
22,8  
23,7  
23,2  
(m)  
11,8  
12,4  
11,9  
12,7  
11,2  
12,7  
11,9  
12,5  
14,8  
13,3  
(m)  
22,6  
20,9  
21,3  
23,9  
21,8  
20,5  
23,1  
22,3  
23,2  
24,4  
(m)  
9,7  
9,4  
7,5  
8,1  
9,3  
9,4  
8,5  
7,2  
8,6  
7,9  
(m)  
Hoàng Nông  
La Bằng  
Nghinh Tường  
Sảng Mộc  
Bình Chung  
Yên Mỹ  
13,4  
14,2  
12,7  
12,9  
14,5  
16,5  
13,9  
11,1  
14,9  
15,2  
Đại Từ  
Võ Nhai  
Chợ Đồn  
Na Rì  
Thái Nguyên  
IIa  
IIb  
Bắc Kạn  
Đổng Xá  
Quang Phong  
Hoàng Nông  
La Bằng  
Thái Nguyên  
Đại Từ  
1635  
TIỂU BAN SINH THÁI HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG  
Nghinh Tường  
7,1  
6,7  
9,6  
7,5  
8,1  
9,3  
15,4  
15,9  
15,7  
16,4  
15,3  
16,9  
27,8  
25,2  
30,2  
27,7  
28,1  
30,7  
6,8  
8,3  
8,7  
6,8  
8,9  
9,5  
13,6  
10,7  
15,5  
16,3  
13,6  
14,3  
25,4  
24,9  
25,8  
26,1  
23,8  
26,9  
Võ Nhai  
Chợ Đồn  
Na Rì  
Sảng Mộc  
Bình Chung  
Yên Mỹ  
Đổng Xá  
Quang Phong  
Bắc Kạn  
Ở trạng thái IIb, do thảm thực vật được phục hồi sau khai thác kiệt vì vậy cấu trúc tầng thứ  
của rừng chia làm 3 tầng, trong đó tầng trên cùng có H > 30 m là những loài cây gỗ thuộc thế hệ  
rừng cũ còn sót lại trong khi khai thác, ở tầng này tán rừng không giao nhau gồm một số loài  
cây như Kháo vàng (Machilus thunbergii), Dẻ xanh (Lithocarpus tubulosus), Vàng tâm  
(Manglietia fordiana), Dẻ gai (Castanopsis indica)…  
Tầng giữa có số cá thể nhiều nhất, tạo lập nên tầng rừng chính, tán giao nhau và bao gồm  
những loài cây gỗ có chiều cao từ ≤ 15 m, bao gồm: Xoan đào (Pygeum arboreum), Ràng ràng  
mít (Ormosia fordiana), Sảng đá (Sterculia thorelii), Nhọ nồi (Diospiros eriantha), Máu chó lá  
nhỏ (Knema globularia),... Tầng dưới cùng bao gồm một số loài cây bụi và cây tái sinh của  
những loài cây gỗ có chiều cao ≤ 8 m như Chò nâu (Dipterocarpus retusus), Chẹo tía  
(Engelhardtia spicata), Cà lồ (Caryodaphnopsis tonkinensis), Lim xẹt (Peltophorum var.  
tonkinense), Kháo (Machilus sp.).  
Như vậy, trong cấu trúc tầng thứ của rừng ngoài sự góp mặt của những loài cây gỗ nhỡ còn  
thấy có loài Xoan đào (Pygeum arboreum) cũng tham gia trong tầng tán chính của rừng. Trong  
tương lai, nếu rừng không bị tác động bởi các yếu tố khách quan và chủ quan, Xoan đào  
(Pygeum arboreum) sẽ trở thành loài cây gỗ lớn khi trưởng thành và tham gia vào tầng vượt tán  
của rừng.  
3. Đặc điểm tái sinh của lâm phần và Xoan đào tại khu vực nghiên cứu  
3.1. Cấu trúc tổ thành cây tái sinh  
Đặc điểm cấu trúc tổ thành tầng cây tái sinh của trạng thái rừng tại khu vực nghiên cứu được  
trình bày tại bảng 4-5.  
Bảng 4  
Cấu trúc tổ thành tầng cây tái sinh trạng thái IIa  
Loài/  
CT  
Vị trí  
Xã  
Công thức tổ thành  
Thái Nguyên  
Hoàng Nông  
La Bằng  
Nghinh Tường  
6
6
5
1,14Mtg+0,87Tht+0,8Kh + 0,73Vgt + 0,67Dg + 0,6Xđ + 5,18Lk.  
0,96Khv + 0,87Xđ + 0,78B + 0,61Lx + 0,52Hđ + 5,7Lk.  
1,23Kh + 1,12D + 0,89Vg + 0,78Xđ + 0,67Tr + 5,28Lk.  
1,97Tht + 1,78Thn + 1,09Kh + 0,95Cht + 0,79Tht + 0,59Xđ +  
0,51Mđ + 5,39Lk.  
Đại Từ  
Võ Nhai  
Sảng Mộc  
7
Bắc Kạn  
Bình Chung  
Yên Mỹ  
Đổng Xá  
6
7
6
2,1Xn+1,96Hđ+1,04Thng+0,68Dg + 0,62Lm + 0,53Xđ + 5,1Lk.  
1,13Mđ+1,13Mt + 0,9Xđ + 0,9B + 0,68Thng + 0,68Lx + 3,9Lk.  
1,51Sph+1,34Kh+1,07Ng+0,63Dg+0,55Cht + 0,52Xđ + 4,32Lk.  
1,23Hđ + 1,15Lm + 0,98BLn + 0,87Dx + 0,71Xđ + 0,68St +  
0,73Lk.  
Chợ Đồn  
Na Rì  
Quang Phong  
6
Chú thích: Mần tang: Mtg; Thanh thất: Tht; Kháo: Kh; Dẻ gai: Dg; Xoan đào: Xđ; Kháo vòng:  
Khv; Bưởi bung: B; Lim xẹt: Lx; Hu đay; Hđ; Dổi: D; Xoan nhừ: Xn; Ngát: Ngt; Chẹo tía: Cht; Dẻ xanh:  
Dx: Sồi phảng: Sph; Sòi tía: St; Loài khác: LK.  
1636  
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC VỀ SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT LẦN THỨ 7  
Dẫn liệu tại bảng 4 cho thấy:  
Ở Thái Nguyên, số loài cây tái sinh dao động từ 29-34 loài, số loài tham gia vào công  
thức tổ thành dao động từ 5-7 loài, các loài phổ biến như Thẩu tấu (Aporosa dioica), Chẹo tía  
(Engelhardtia roxburghiana), Kháo vàng (Machilus thunbergii), có tỉ lệ tổ thành dao động từ  
0,51-1,97 tại khu nghiên cứu.  
Ở Bắc Kạn có từ 6-7 loài tham gia trong công thức tổ thành như: Bứa (Garcinia  
oblonggifolia), Kháo vàng (Machilus thunbergii), Dẻ đỏ (Castanopsis armata), Chẹo tía  
(Engelhardtia roxburghiana) có hệ số tổ thành dao động từ 0,52- 2,1. Một số loài khác có số cá  
thể ít nên không tham gia vào công thức tổ thành rừng. Tính bình quân số loài tái sinh tham gia  
công thức tổ thành khoảng 6 loài, chiếm 30% số loài có trong ô nghiên cứu.  
Bảng 5  
Cấu trúc tổ thành tầng cây tái sinh trạng thái IIb  
Loài/  
CT  
Vị trí  
Xã  
Công thức tổ thành  
Thái Nguyên  
Hoàng Nông  
La Bằng  
Nghinh  
6
6
0,81Thgm+0,71Cht+0,66Ng+0,61Lb+0,51Trm + 0,51Xđ +5,69LK  
1,35Cht+0,82Thng+0,62Tht+0,58Khv+ 0,55Hđ + 0,5Mlt +5,78Lk.  
Đại Từ  
6
7
1,79Mđ+1,53Khv+1,31Tht+0,89Sa+ 0,58Xđ + 0,51Thng +4,08Lk.  
Tường  
Võ Nhai  
1,29Sg+0,81Lx+0,73Thng+0,58Mlt+0,55Khv+0,51Xđ+0,5Rh  
+5.35Lk.  
Sảng Mộc  
Bắc Kạn  
Bình Chung  
4
7
0,93Nhc + 0,71Dđ + 0,56 Nga + 7,7 Lk.  
1,95Thn + 1,11Khv + 0,88Xđ+0,75Nhc+ 0,66Tmu + 0,58Gi +  
0,53 Mđ + 2,47Lk.  
Chợ Đồn  
Yên Mỹ  
Đổng Xá  
Quang Phong  
6
6
0,63Bđ + 0,59Tht + 0,54Lm +0,54Ttr +0,54Trc+ 0,5Xđ +6,65Lk  
0,8Vtr + 0,73Tra +0,65Dd+0,61Dg +0,61Kh +0,53Xđ + 6,07 Lk.  
Na Rì  
Chú thích: Thừng mực: Thgm: Chẹo tía: Cht; Ngát: Ng; Trám chim: Trc; Thanh thất: Tht: Kháo  
vòng: Khv; Mắn đỉa: Mđ; Sau sau: Ss; Nhọc: Nhc; Vạng trứng: Vtr; Thành ngạnh: Thng; Bồ đề: Bđ; Vối  
thuốc: Vth; Lim xanh: Lx; Xoan đào: Xđ; Loài khác: LK.  
Tại Thái Nguyên số loài tham gia trong tầng cây tái sinh dao động từ 25-28 loài, trong đó có  
6-7 loài tham gia vào công thức tổ thành rừng, một số loài cây ưa sáng có đời sống dài, giá trị  
kinh tế chưa cao đã tham gia vào tầng cây tái sinh như Nhọc (Polyalthia cerasoides), Bồ đề  
(Styrax tonkinensis), Vạng trứng (Endospermum chinensis), Thành ngạnh (Cratoxylum  
cochincinensis), Ràng ràng mít (Ormosia balansae), Dẻ xanh (Lithocarpus tubulosus), Kẹn  
(Aesculus assamica), Vàng anh (Saraca dives),… những loài cây nàytrong tương lai sẽ tạo lập  
hoàn cảnh rừng để tạo điều kiện cho những loài cây có đời sống dài, tầm vóc lớn, có giá trị kinh  
tế xuất hiện và tham gia vào tổ thành rừng.  
Tại Bắc Kạn, số loài tham gia trong công thức tổ thành từ 4-7 loài, ngoài những loài ưa  
sáng, mọc nhanh, kích thước nhỏ còn thấy xuất hiện một số loài cây gỗ có kích thước lớn khi  
trưởng thành như: Trám trắng (Canarium album (Lour.) Raeusch.), Lim xanh (Erythrophleum  
fordii Oliver), Vối thuốc (Cleistocalyx operculatus (Roxb.), Dẻ gai (Castanopsis indica) và  
Xoan đào (Pygeum arboreum) có hệ số tổ thành dao động từ 0,53-1,95. Còn lại các loài khác do  
số lượng cá thể ít nên không tham gia vào công thức tổ thành rừng và chiếm tỷ lệ tổ thành rừng  
từ 2,47-7,7.  
1637  
TIỂU BAN SINH THÁI HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG  
3.2. Chất lượng, nguồn gốc và số lượng cây tái sinh triển vọng  
Chất lượng, nguồn gốc và số cây tái sinh triển vọng được tổng hợp ở bảng 6.  
Bảng 6  
Chất lƣợng và nguồn gốc cây tái sinh tại khu vực nghiên cứu  
Trạng  
thái  
TTV  
Nguồn gốc tái sinh  
Chất lƣợng cây tái sinh  
Khu vực  
Giá trị  
N/ha  
Tỷ lệ (%)  
N/ha  
Tỷ lệ (%)  
N/ha  
Tỷ lệ (%)  
N/ha  
Tổng  
Chồi  
Hạt  
Tốt  
TB  
Xấu  
480  
20,2  
453  
18,7  
480  
15,8  
589  
14,8  
1.893  
78,9  
1.973  
81,3  
2.560  
84,2  
3.384  
85,2  
1.093  
46,1  
1.413  
58,2  
1.973  
64,9  
2.067  
52,03  
800  
33,7  
747  
30,8  
720  
23,7  
1.137  
28,62  
480  
20,2  
267  
11,0  
347  
11,4  
769  
19,36  
2.373  
100  
2.427  
100  
3.040  
100  
3.973  
100  
Thái Nguyên  
Bắc Kạn  
IIa  
IIb  
Thái Nguyên  
Bắc Kạn  
Tỷ lệ (%)  
Kết quả bảng 6 cho thấy, tại hai khu vực nghiên cứu, số lượng cây tái sinh từ 2.373-2.427  
cây/ha, trong đó số lượng cây tái sinh có nguồn gốc từ hạt từ 1.893-1.973 cây/ha chiếm tỷ lệ từ  
78,9-81,3% trong tổng số cây tái sinh trong khu vực nghiên cứu.  
Chất lượng cây tái sinh trong trạng thái IIa cho thấy, số lượng cây tốt từ 1.093-1.413 cây/ha,  
chiếm tỷ lệ từ 46,1-58,2% trong tổng số cây tái sinh. Chất lượng cây tái sinh trung cho cả hai  
khu vực dao động từ 747-800 cây/ha, chiếm tỷ lệ từ 30,8-33,7%; số cây tái sinh có chất lượng  
xấu chiếm tỷ lệ từ 11-20,2% trong tổng số cây điều tra.  
Dẫn liệu trên cũng cho thấy ở trạng thái IIb, tỷ lệ cây tốt chiếm từ 52,0-64,9%, cây tái sinh  
từ hạt từ 84,5-85,7%. Như vậy tỷ lệ cây tốt và trung bình chiếm khá cao thuận lợi cho quá trình phục  
hồi rừng. Tuy nhiên cần phải có những biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động khác nhau nhằm nâng cao  
chất lượng của rừng.  
Bảng 7  
Số lƣợng cây tái sinh triển vọng tại khu vực nghiên cứu  
Số lƣợng cây tái sinh triển vọng (cây/ha)  
Trạng thái TTV  
Khu vực  
Lâm phần  
1.093  
Xoan đào  
93  
Tổng  
1.186  
1.577  
1.323  
1.756  
Thái Nguyên  
Bắc Kạn  
Thái Nguyên  
Bắc Kạn  
IIa  
IIb  
1.466  
111  
1.147  
176  
1.681  
75  
Kết quả bảng 7 cho thấy, số lượng cây tái sinh triển vọng tại khu vực nghiên cứu trong trạng  
thái IIa từ 1.186-1.577 cây/ha; trạng thái IIb dao động từ 1.323-1.756 cây/ha, trong đó loài Xoan  
đào có mật độ dao động từ 93-111 cây/ha ở trạng thái IIa và từ 75-176 cây/ha ở trạng thái IIb.  
Kết quả trên cũng cho thấy, Xoan đào (Pygeum arboreum) là loài cây bản địa có năng lực tái  
sinh thấp, đây là loài cây ưa bóng trong giai đoan đầu, khi cây đạt chiều cao >1,3m tức là đã  
vượt qua tầng thảm tươi thì khả năng sống sót sẽ cao hơn.  
3.3. Phân bố cây tái sinh theo chiều cao  
Phân bố số cây theo cấp chiều cao là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh hình thái của quần  
thể thực vật và quy luật kết cấu lâm phần. Kết quả được trình bày trong bảng 8.  
Kết qua bảng 8 cho thấy, trong trạng thái IIa ở cấp chiều cao I, II và III có số lượng cá thể  
lớn nhất từ 524-650 cây/ha, trong đó loài cây Xoan đào (Pygeum arboreum) có số lượng cá thể  
dao động từ 30-40 cây/ha. Sau đó, số lượng cây có xu hướng giảm dần khi cấp chiều cao tăng  
1638  
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC VỀ SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT LẦN THỨ 7  
lên, trong lâm phần số lượng cây giảm từ 320 cây/ha (cấp IV) xuống 80 cây/ha (cấp VII), tương  
tự số cá thể loài Xoan đào (Pygeum arboreum) giảm từ 24 cây/ha xuống 7 cây/ha ở cấp VII.  
Bảng 8  
Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao tại khu vực nghiên cứu  
Trạng thái TTV  
Số cây theo cấp chiều cao (cây/ha)  
Khu vực  
Vị trí  
N/ha  
I
II  
III  
IV  
V
VI VII  
Xoan đào  
Lâm phần  
Tổng  
Xoan đào  
Lâm phần  
Tổng  
Xoan đào  
Lâm phần  
Tổng  
Xoan đào  
Lâm phần  
Tổng  
160  
30  
37  
40  
24  
13  
9
7
Thái Nguyên  
2.213 507 613 480 320 120  
2.373 537 650 524 344 139  
187  
2.240 385 389 558 401 267 151  
2.427 423 438 602 439 261 173  
373  
2.667 373 507 640 453 373 193 127  
3.040 418 587 712 523 427 227 146  
240  
3.733 758 711 583 699 387 321 274  
3.973 836 754 627 730 411 330 285  
93  
96  
13  
80  
83  
11  
89  
87  
19  
IIa  
27  
47  
42  
28  
21  
Bắc Kạn  
45  
80  
72  
70  
53  
34  
Thái Nguyên  
Bắc Kạn  
IIb  
68  
43  
44  
31  
21  
12  
21  
Trong trạng thái IIb, số lượng cây tái sinh tại khu vực nghiên cứu dao động từ 3.040-3.973  
cây/ha, trong đó số cá thể thuộc cấp chiều cao từ I-IV chiếm tỷ lệ nhiều nhất (trên 70%), trong đó  
số cá thể loài Xoan đào cũng có xu hướng giảm dần khi chiều cao tăng lên, điều đó cho thấy Xoan  
đào (Pygeum arboreum) là loài cây bản địa khó tái sinh trong điều kiện môi trường bị tác động  
mạnh, cấu trúc tầng trên bị phá vỡ. Đây là một đặc điểm quan trọng để đề xuất các giải pháp lâm  
sinh phù hợp nhằm xúc tiến tái sinh loài cây này ngoài tự nhiên. Kết quả được mô tả ở hình 1 và 2.  
N/ha  
700  
N/ha  
2500  
Xoan đào  
Lâm phần  
Xoan đào  
Lâm phần  
600  
500  
400  
300  
200  
100  
0
2000  
1500  
1000  
500  
0
I
II  
III  
IV  
V
VI  
VII  
I
II  
III  
IV  
V
VI  
VII  
Cấp H  
Cấp H  
Hình 1: Số cây tái sinh theo cấp chiều cao  
Hình 2: Số cây tái sinh theo cấp chiều cao  
trạng thái IIa  
trạng thái IIb  
III. KẾT LUẬN  
- Tại khu vực nghiên cứu những lâm phần có loài Xoan đào (Pygeum arboreum) phân bố có mật  
độ dao động từ 284-393 cây/ha, có từ 5-7 loài tham gia vào công thức tổ thành rừng trong đó Xoan  
đào (Pygeum arboreum) có chỉ số IV% từ 5,08-11,8% và tham gia vào tầng rừng chính của rừng.  
- Thành phần loài cây tái sinh tại khu vực nghiên cứu dao động từ 25-34 loài, trong đó có từ  
4-7 loài tham gia vào công thức tổ thành rừng như Xoan đào (Pygeum arboreum), Vạng trứng  
(Endospermum chinensis), Ràng ràng mít (Ormosia balansae), Dẻ xanh (Lithocarpus tubulosus),…  
1639  
TIỂU BAN SINH THÁI HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG  
- Tại khu vực nghiên cứu, số lượng cây tái sinh từ 2.373-3.973 cây/ha, trong đó số lượng  
cây tái sinh có nguồn gốc từ hạt từ 1.893-3.384 cây/ha chiếm tỷ lệ trên 78%. Số lượng cây tái  
sinh triển vọng dao động từ 1.093-1.681 cây/ha cho toàn khu vực nghiên cứu, trong đó cây  
Xoan đào (Pygeum arboreum) có mật độ từ 75-176 cây/ha.  
- Số cây tái sinh có xu hướng giảm dần khi chiều cao tăng lên, khoảng 70% số cá thể thuộc  
cấp chiều cao từ I-IV trong đó Xoan đào (Pygeum arboreum) cũng có xu hướng giảm dần khi  
chiều cao tăng lên, điều đó cho thấy Xoan đào (Pygeum arboreum) là loài cây bản địa khó tái  
sinh trong điều kiện môi trường bị tác động mạnh. Đây là đặc điểm quan trọng để đề xuất giải  
pháp lâm sinh phù hợp nhằm xúc tiến tái sinh tự nhiên cho loài này tại khu vực nghiên cứu.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007. Sách Đỏ Việt Nam. Phần II-Thực vật. Nxb. Khoa học  
tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội.  
2. Le Dinh Kha, Nguyen Xuan Lieu, Nguyen Hoang Nghia, Ha Huy Thinh, Hoang Sy  
Dong, Nguyen Hong Quan, Vu Van Me, 2003. Forest tree species selection for planing  
program in Vietnam.  
3. Nguyễn Thị Nhung, 2009. Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng mô hình trồng rừng gỗ lớn  
bằng các loài cây bản địa vùng Trung tâm Bắc Bộ. Báo cáo tổng kết đề tài Viện Khoa học  
lâm nghiệp Việt Nam.  
4. Nguyễn Văn Thông, 2001. Kết quả phục hồi rừng tại Cầu Hai, Phú Thọ, Nghiên cứu rừng  
tự nhiên,Nxb. Thống kê Hà Nội.  
5. Thái Văn Trừng, 1978. Thảm thực vật rừng Việt Nam, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội.  
6. Đỗ Đình Sâm, 2001. Cơ sở khoa học bổ sung những vấn đề kỹ thuật lâm sinh nhằm nâng  
cao năng xuất rừng tự nhiên sau khai thác và rừng trồng công nghiệp. Kết quả nghiên cứu về  
trồng rừng và phục hồi rừng tự nhiên, Nxb. Nông nghiệp Hà Nội, trang 5-24.  
NATURAL REGENERATION CHARACTERISTICS OF PYGEUM  
ARBOREUM ENDL. IN THAI NGUYEN AND BAC KAN PROVINCES  
Nguyen Cong Hoan, Tran Quoc Hung, Nguyen Thi Thoa, Dang Kim Vui  
SUMMARY  
The present work describes the structural features of woody plants and regeneration  
characteristics of Pygeum arboreum Endl.. The results showed that Pygeum arboreum Endl. is  
mainly distributed in the restored secondary forest that have elevation under 800 m, and it grows  
well in forest soil conditions. In addition, the stand that Pygeum arboreum Endl. occupied has  
diverse structural composition, and it is presented in the dominant canopy with important  
value index ranging from 5.08 to 11.8%. It is able to regenerate from seed but the number  
of good quality seedlings is less accounted. The density of regeneration ranged from 75 to  
176 individuals/ha but unevenly distributed, however, there are still a number of mother  
plants, which are flowering and fruiting. As a result, there should be not only silvicultural  
treatments to promote the natural regeneration of this species in the study area, but also  
there should be a plan to propagate from seed or cuttings to preserve and develop this  
species efficiently.  
1640  
pdf 9 trang yennguyen 18660 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài xoan đào (Pygeum arboreum Endl.) tại tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_dac_diem_tai_sinh_tu_nhien_cua_loai_xoan_dao_pygeum_a.pdf