Giao khoán rừng và đất lâm nghiệp tại tỉnh Bình Phước - Thực trạng và giải pháp

Kinh tÕ & ChÝnh s¸ch  
GIAO KHOÁN RỪNG VÀ ĐẤT LÂM NGHIỆP TẠI TỈNH BÌNH PHƯỚC  
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP  
Trần Thị Thu Hà1  
TÓM TẮT  
Giao khoán rừng và đất lâm nghiệp là một chính sách đúng đắn nhằm mục tiêu phát triển lâm nghiệp và góp phần  
xoá đói giảm nghèo đã được thực hiện ở Việt Nam gần 20 năm qua. Tuy nhiên hiện nay nhiều vấn đề nảy sinh từ  
thực tế trong quá trình thực hiện giao khoán rừng và đất lâm nghiệp, đòi hỏi phải có những sửa đổi, điều chỉnh, bổ  
sung cho phù hợp với đặc thù sản xuất lâm nghiệp của từng vùng trong thời kỳ mới. Nghiên cứu này thực hiện tại  
tỉnh Bình Phước với mục tiêu tìm hiểu thực trạng giao khoán rừng và đất lâm nghiệp, trên cơ sở đó phát hiện  
những bất cập giữa chính sách và thực tiễn để đưa ra các đề xuất nhằm sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh chính sách  
giao khoán rừng và đất lâm nghiệp cho phù hợp. Kết quả nghiên cứu đã bước đầu gợi mở ra những vấn đề cần  
tiếp tục nghiên cứu và quan tâm giải quyết nhằm hoàn thiện chính sách giao, cho thuê đất lâm nghiệp và khoán  
rừng trên phạm vi vùng miền Đông Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung. Điểm mấu chốt của những sửa đổi,  
bổ sung và hoàn thiện được nêu ra là chính sách giao, cho thuê đất lâm nghiệp và khoán rừng phải được xây dựng  
trên cơ sở tình hình cụ thể của của từng địa phương và vùng. Đặc biệt cần chú trọng đến tính chất và đặc điểm của  
từng loại đất và rừng để có quy hoạch sử dụng hợp lý đồng thời có chính sách và phương án quản lý thích hợp.  
Từ khoá: Bình Phước, Đông Nam Bộ, giao đất lâm nghiệp, giao khoán rừng và đất lâm nghiệp.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Bình Phước là tỉnh miền núi nằm ở phía  
Ngày 04 tháng 01 năm 1995, Chính phủ đã  
ban hành Nghị định số 01/CP về việc giao  
khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông  
nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong  
các doanh nghiệp Nhà nước. Nội dung của  
nghị định là đưa ra các quy định về thực hiện  
giao khoán đất trong các doanh nghiệp Nhà  
nước bao gồm nông trường quốc doanh, lâm  
trường quốc doanh, công ty, xí nghiệp, trung  
tâm, trạm, trại trực tiếp sản xuất nông nghiệp,  
lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản. Trong lâm  
nghiệp đây là một chính sách lớn nhằm mục  
tiêu ổn định đời sống cho đội ngũ lao động  
trong các lâm trường quốc doanh và người dân  
sống trên địa bàn gần rừng để tiếp tục phát  
triển sản xuất lâm nghiệp trong thời kỳ kinh tế  
thị trường. Tuy nhiên, sau gần 20 năm triển  
khai thực hiện, chính sách giao khoán rừng và  
đất lâm nghiệp trước đây đã không còn phù  
hợp. Nhiều vấn đề nảy sinh từ thực tế trong quá  
trình thực hiện giao khoán rừng và đất lâm  
nghiệp đòi hỏi phải có những sửa đổi, điều  
chỉnh, bổ sung cho phù hợp với đặc thù sản xuất  
lâm nghiệp của từng vùng trong thời kỳ mới.  
Tây vùng Đông Nam Bộ, đóng vai trò quan  
trọng đối với việc bảo vệ an ninh quốc gia,  
phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường của  
toàn vùng cũng như vùng kinh tế trọng điểm  
phía Nam. Việc thực hiện chính sách giao  
khoán rừng và đất lâm nghiệp ở Bình Phước  
nói riêng và vùng Đông Nam Bộ nói chung có  
những điểm khác biệt so với các vùng khác do  
tính chất cạnh tranh trong sử dụng của cây cao  
su, một loài cây có giá trị kinh tế rất cao so với  
cây lâm nghiệp. Mục tiêu của nghiên cứu là  
trên cơ sở tìm hiểu thực trạng giao khoán rừng  
và đất lâm nghiệp theo Nghị định 01/CP và  
Nghị định 135/2005/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh  
Bình Phước, phát hiện những bất cập giữa  
chính sách và thực tiễn từ đó đưa ra các đề  
xuất nhằm sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh  
chính sách giao khoán rừng và đất lâm nghiệp  
cho phù hợp. Kết quả của nghiên cứu sẽ đóng  
góp vào việc hoạch định và sửa đổi chính sách  
giao, cho thuê đất lâm nghiệp và khoán rừng ở  
nước ta trong thời gian tới.  
1TS. Trường Đại học Lâm nghiệp  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2013  
88  
Kinh tÕ & ChÝnh s¸ch  
thực hiện theo Nghị định 02/CP của Chính phủ  
ngày 15 tháng 01 năm 1994 về việc giao đất  
lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân  
sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm  
nghiệp, trong đó các đối tượng được giao đất  
(chủ rừng) và được cấp giấy chứng nhận quyền  
sử dụng (GCNQSD) đất. Giao khoán rừng và  
đất lâm nghiệp là quá trình các chủ rừng thực  
hiện giao khoán theo Nghị định 01/CP của  
Chính phủ ngày 04 tháng 01 năm 1995 cho các  
hộ gia đình và cá nhân thực hiện việc trồng,  
chăm sóc, bảo vệ rừng trên diện tích rừng và  
đất lâm nghiệp được nhà nước giao cho các  
chủ rừng. Ngày 8 tháng 11 năm 2005, Chính  
phủ ban hành Nghị định số 135/2005/NĐ-CP  
về việc giao khoán đất nông nghiệp, rừng sản  
xuất và mặt nước nuôi trồng thuỷ sản trong các  
nông trường, lâm trường quốc doanh nhằm  
thay thế Nghị định 01/CP. Có thể coi giao đất  
lâm nghiệp là tiền đề cho giao khoán rừng và  
đất lâm nghiệp.  
II.VẬTLIỆUVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
Nghiên cứu thực hiện trên đối tượng rừng  
và đất lâm nghiệp giao khoán theo Nghị định  
01/CP và Nghị định 135/2005/NĐ-CP của  
Chính phủ và các quyết định có liên quan của  
Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh về giao khoán  
rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình  
Phước. Nội dung nghiên cứu bao gồm: (1) kết  
quả thực hiện giao khoán rừng và đất lâm  
nghiệp tính đến thời điểm hết năm 2011; (2)  
những bất cập giữa chính sách và thực tiễn  
thực hiện giao khoán rừng và đất lâm nghiệp;  
(3) các đề xuất sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh  
chính sách giao, cho thuê, khoán rừng và đất  
lâm nghiệp.  
Nghiên cứu được thực hiện trong đợt điều  
tra khảo sát thực địa được tiến hành trong thời  
gian 02 tuần, vào tháng 8 năm 2012 tại các  
huyện Đồng Phú, Bù Đăng và Bù Gia Mập của  
tỉnh Bình Phước. Các phương pháp thu thập số  
liệu: (1) thu thập tài liệu thứ cấp bao gồm các  
báo cáo của các sở, ban, ngành chức năng của  
tỉnh Bình Phước; (2) phỏng vấn bán định  
hướng các cán bộ thuộc sở và phòng Nông  
nghiệp và Phát triển nông thôn ở cấp tỉnh và  
cấp huyện, cán bộ các ban quản lý rừng và  
người dân địa phương có nhận khoán; (3) thảo  
luận nhóm trọng tâm với các nhóm hộ nhận  
khoán bảo vệ rừng. Nội dung phỏng vấn và  
thảo luận dựa trên danh mục các vấn đề cần  
tỉm hiểu theo nội dung nghiên cứu.  
Theo nguồn số liệu từ Sở Tài nguyên và  
Môi trường tỉnh Bỉnh Phước (2010), toàn bộ  
diện tích đất lâm nghiệp của Bình Phước đã  
được giao và cấp giấy chứng nhận quyền sử  
dụng (GCNQSD) cho các chủ rừng (Sở Nông  
nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bình  
Phước, 2012). Kết quả giao đất lâm nghiệp của  
tỉnh Bình Phước cho thấy các đối tượng được  
giao rừng chủ yếu vẫn là các BQL rừng đặc  
dụng, rừng phòng hộ, rừng kinh tế và các công  
ty cao su. Các đối tượng khác gồm doanh  
nghiệp tư nhân, hộ gia đình và hợp tác xã chỉ  
được giao với tỷ trọng rất nhỏ trên tổng diện  
tích đất lâm nghiệp (Bảng 01).  
III. KẾTQUẢNGHIÊNCỨUVÀTHẢOLUẬN  
1. Kết quả giao khoán rừng và đất lâm  
nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Phước  
Trước hết cần phân biệt hai quá trình giao  
đất lâm nghiệp và giao khoán rừng và đất lâm  
nghiệp. Giao đất lâm nghiệp là quá trình được  
Như vậy, việc giao khoán rừng và đất lâm  
nghiệp của Bình Phước sẽ do các chủ rừng  
được giao và cấp GCNQSD đất lâm nghiệp là  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2013  
89  
Kinh tÕ & ChÝnh s¸ch  
BQL rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng kinh  
tế và các công ty cao su thực hiện đối với các  
hộ gia đình và cá nhân ở địa phương. Một  
trong những đặc thù của Bình Phước là sau  
thực hiện rà soát và đổi mới lâm trường quốc  
doanh là trên địa bàn tỉnh không còn loại hình  
sản xuất kinh doanh này, thay vào đó là các  
BQL rừng kinh tế. Phần lớn diện tích rừng sản  
xuất đã được giao cho các BQL rừng kinh tế  
và các công ty cao su. Một phần được trả về  
cho địa phương để giao cho hộ gia đình và  
phần còn lại được giao cho các BQL rừng đặc  
dụng và rừng phòng hộ.  
Bảng 01. Kết quả giao đất lâm nghiệp cho các chủ rừng tỉnh Bình Phước  
Diện tích được giao và cấp  
Tỷ trọng  
Chủ rừng  
BQL rừng đặc dụng  
GCNQSD (ha)  
31.282  
74.564  
69.305  
3.392  
(%)  
17,46  
41,62  
38,69  
1,89  
BQL rừng phòng hộ và rừng kinh tế  
Công ty cao su  
Doanh nghiệp tư nhân  
Hợp tác xã  
445  
0,25  
Hộ gia đình  
158  
0,09  
TỔNG  
181.543  
100  
(Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Phước, 2010)  
Bình Phước là một trong những tỉnh đi đầu  
trong thực hiện giao khoán đất lâm nghiệp từ  
khi còn chưa tách từ tỉnh Sông Bé. Trước khi  
có Nghị định 01/CP của Chính phủ, UBND  
tỉnh Sông Bé đã có Quyết định số 4539/QĐUB  
thực hiện khoán đất lâm nghiệp cho 01 tổ chức  
và 28 hộ gia đình với diện tích gần 664 ha.  
Bình Phước cũng là tỉnh có các quyết định áp  
dụng thực hiện ngay sau khi có các Nghị định  
của chính phủ (01/CP và 135/2005/NĐ-CP) về  
giao khoán rừng và đất lâm nghiệp.  
điểm cuối năm 2011, tổng diện tích rừng và đất  
lâm nghiệp giao khoán là 36.153,33 ha, trong  
đó giao khoán quản lý bảo vệ rừng là 26.194,7  
ha, giao khoán đất lâm nghiệp là 9.958,63 ha.  
Như vậy diện tích giao khoán chỉ chiếm 20,18  
% trên tổng diện tích do các đơn vị chủ rừng  
như các BQL rừng và các công ty cao su hiện  
đang quản lý. Nguyên nhân là do các đơn vị  
chủ rừng (nhất là các BQL rừng kinh tế, rừng  
phòng hộ) không muốn thực hiện giao khoán  
cho hộ gia đình và cá nhân do lo ngại tình  
trạng phá rừng để trồng cao su. Tuy nhiên các  
đơn vị chủ rừng này không thế khống chế được  
tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp để trồng  
cao su của người dân. Tình trạng người dân địa  
phương xâm canh và bao chiếm đất lâm nghiệp  
đã được giao cho các đơn vị chủ rừng diễn ra  
khá phổ biến ở Bình Phước.  
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát  
triển Nông thôn Bình Phước (2012) từ năm  
1994 đến hết năm 2011, các đơn vị chủ rừng  
đã tiến hành giao khoán 24.657,72 ha đất lâm  
nghiệp và rừng sản xuất cho 4.428 hộ gia đình  
và 53 tổ chức với 02 hình thức khoán ổn định  
lâu dài và khoán theo công đoạn. Tính tại thời  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2013  
90  
Kinh tÕ & ChÝnh s¸ch  
Bảng 02. Phân loại theo cơ sở pháp lý của giao khoán rừng và đất lâm nghiệp  
tỉnh Bình Phước tại thời điểm năm 2011  
Đối tượng nhận khoán  
Tổ chức Hộ gia đình  
Số lượng Diện tích(ha) Số lượng Diện tích (ha)  
Cơ sở pháp lý của giao khoán rừng  
và đất lâm nghiệp  
Giao khoán theo Quyết định  
4539/QĐUB của UBND tỉnh Sông Bé  
Giao khoán theo Nghị định số 01/CP  
của Chính phủ và Quyết định 1119/QĐ-  
UB của UBND tỉnh Bình Phước  
01  
109,32  
28  
554,62  
28  
26.271,72  
935  
4.439,94  
Giao  
khoán  
theo  
Nghị  
định  
135/2005/NĐ-CP của Chính phủ và  
Quyết định số 21/QĐ-UB của UBND  
tỉnh Bình Phước  
574  
2.519,33  
Giao khoán cho các đối tượng không  
nằm trong phạm vi điều chỉnh của Nghị  
định 135/2005/NĐ-CP và Quyết định số  
21/QĐ-UB.  
15  
44  
2.284,52  
02  
83,52  
TỔNG  
28.556,24  
1.539  
7.597,09  
(Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Bình Phước, 2012)  
Về loài cây trồng trên đất lâm nghiệp, hiện  
tại trên địa bàn Bình Phước, hầu hết diện tích  
rừng sản xuất đều trồng cao su, cá biệt có  
những BQL rừng phòng hộ nhưng toàn bộ diện  
tích rừng trồng là cây cao su. Thực tế này đã  
xuất hiện ở Bình Phước từ trước nhưng chuyển  
đổi rất nhanh sau khi Bộ Nông nghiệp và Phát  
triển Nông thôn ra Công văn số 209/BNN-LN  
về việc chuyển diện tích đất có rừng sang trồng  
cao su và Quyết định số 2855/QĐ-BNN-  
KHCN về việc công bố cây cao su là cây đa  
mục đích. Ngay sau khi có các Quyết định nêu  
trên, tỉnh Bình Phước đã có Quyết định số  
1231/QĐ-UBND ngày 12 tháng 05 năm 2009  
của UBND tỉnh Bình Phước phê duyệt phương  
án Quy hoạch trồng cây cao su và cây nguyên  
liệu trên đất lâm nghiệp giai đoạn 2008-2012  
của tỉnh Bình Phước và Quyết định số  
1879/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bình Phước  
ngày 11 tháng 08 năm 2010 về việc quy hoạch  
bổ sung diện tích trồng cao su và cây nguyên  
liệu trên đất lâm nghiệp giai đoạn 2008-2020  
của tỉnh Bình Phước (Sở Nông nghiệp và Phát  
triển Nông Thôn tỉnh Bình Phước, 2011).  
Việc thực hiện chính sách giao khoán rừng  
và đất lâm nghiệp ở Bình Phước trong thời  
gian qua đã đạt được một số kết quả đáng  
khích lệ. Hầu hết hồ sơ giao khoán đều có đầy  
đủ các giấy tờ cần thiết như đơn xin nhận  
khoán, hợp đồng, bản đồ giao khoán, sơ đồ  
giao khoán, biên nhận giao đất ngoài thực địa.  
Nhìn chung các hợp đồng khoán đã thực hiện  
đúng diện tích, đối tượng, hạn mức giao khoán  
theo các quy định tại thời điểm giao khoán.  
Chính sách này cũng đã huy động được nguồn  
vốn, lao động của bên nhận khoán, nâng cao  
hiệu quả sản xuất kinh doanh, tạo nguồn  
nguyên liệu ổn định cho ngành công nghiệp  
chế biến nông, lâm sản phát triển. Đặc biệt  
việc thực hiện chính sách đã góp phần nâng  
cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)  
về khả năng tiếp cận và ổn định trong sử dụng  
đất, đảm bảo cho các tổ chức, hộ gia đình nhận  
khoán ổn định tâm lý, yên tâm đầu tư phát triển  
sản xuất. Giao khoán rừng và đất lâm nghiệp ở  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2013  
91  
Kinh tÕ & ChÝnh s¸ch  
Bình Phước đã góp phần sử dụng hiệu quả  
tiềm năng về đất đai, tạo việc làm, tăng thu  
nhập cho người lao động, góp phần xoá đói  
giảm nghèo và ổn định trật tự an toàn xã hội.  
một khi cây cao su đã được coi là cây đa mục  
đích thì khi được trồng trên đất lâm nghiệp  
phải được coi là cây lâm nghiệp và diện tích  
này phải được tính trong độ che phủ của rừng.  
Điều này sẽ làm nâng cao giá trị và vị thế của  
ngành lâm nghiệp, đồng thời giúp giải quyết  
sức ép mất rừng; (2) không thể coi cây cao su  
là cây rừng vì chức năng phòng hộ của cao su  
rất kém. Nếu cho phép cây cao su được trồng  
trên đất lâm nghiệp thì Bình Phước nói riêng  
và vùng Đông Nam Bộ nói chung sẽ mất hết  
rừng do chuyển sang trồng cao su. Còn nếu  
muốn trồng cao su trên đất lâm nghiệp thì  
phải chuyển diện tích này sang diện tích đất  
nông nghiệp.  
2. Những bất cập trong thực hiện chính sách  
giao khoán rừng và đất lâm nghiệp  
Bên cạnh những tác động tích cực của giao  
khoán đất lâm nghiệp, trong những năm gần  
đây trên địa bàn tỉnh xuất hiện nhiều vụ khiếu  
kiện liên quan đến công tác giao khoán đất  
nông lâm nghiệp, trong đó có nhiều vụ khiếu  
kiện tập thể kéo dài, gây ảnh hưởng đến tình  
hình chính trị, trật tự, an toàn xã hội (Ban chỉ  
đạo bảo vệ rừng tỉnh Bình Phước, 2012).  
Nhiều bất cập nảy sinh trên thực tế đặc biệt là  
đối với đối tượng giao khoán trồng rừng trên  
đất rừng phòng hộ và và rừng sản xuất. Nghiên  
cứu sẽ đi sâu phân tích những tồn tại và bất cập  
sau đây khi thực hiện chính sách giao khoán  
rừng và đất lâm nghiệp ở Bình Phước:  
- Đa số các trường hợp giao khoán trồng  
rừng là khoán trắng và không thể giải quyết khi  
xảy ra vi phạm hợp đồng (Sở Nông nghiệp và  
Phát triển Nông thôn tỉnh Bình Phước, 2012).  
Các bên nhận khoán tự bỏ vốn để trồng, chăm  
sóc, bảo vệ và hưởng lợi trong khi chủ rừng  
thực sự là các đơn vị giao khoán lại không  
được hưởng lợi ích gì. Điều này dẫn đến thực  
trạng là chủ rừng thực ra chỉ tồn tại trên danh  
nghĩa. Một số đơn vị chủ rừng lúng túng trong  
công tác xử lý khi xảy ra vi phạm hợp đồng,  
không kịp thời thanh lý hợp đồng, không phát  
huy được vai trò của đơn vị chủ rừng trong  
công tác quản lý, phát triển rừng. Một số đơn  
vị chủ rừng không triển khai ký lại hợp đồng  
hoặc phụ lục hợp đồng với các hợp đồng giao  
khoán đã kết thúc một chu kỳ. Nguyên nhân  
chính vẫn là do hợp đồng giao khoán không có  
tính pháp lý chặt chẽ, chủ rừng trên thực tế  
không có đủ quyền lực và cơ sở pháp lý để xử  
lý vi phạm.  
- Đa số các trường hợp giao khoán đất lâm  
nghiệp là hồ sơ hợp thức hoá diện tích đất xâm  
canh của các hộ gia đình chứ không phải thực  
sự là giao khoán theo phương án (Sở Nông  
nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bình  
Phước, 2012). Trên diện tích đất này người dân  
đã trồng các loài cây công nghiệp có giá trị cao  
như cao su, điều. Chính vì vậy việc chuyển  
sang trồng rừng trên diện tích này theo quy  
hoạch là gần như không thể thực hiện được.  
- Các hợp đồng giao khoán đất lâm nghiệp  
chủ yếu trồng cây đa mục đích (cao su, điều,  
cây ăn quả), không có hợp đồng khoán trồng  
cây lâm nghiệp. Điều này ảnh hưởng đến chức  
năng phòng hộ của rừng khi mà phần lớn diện  
tích đất rừng sản xuất và một phần diện tích  
rừng phòng hộ của Bình Phước đều trồng cao  
su hoặc điều. Hiện tại có hai luồng ý kiến từ  
phía lãnh đạo ngành lâm nghiệp của tỉnh: (1)  
- Thị trường chuyển nhượng hợp đồng giao  
khoán đất lâm nghiệp diễn biến rất phức tạp,  
vượt ra ngoài khả năng kiểm soát của các đơn  
vị giao khoán. Nhiều tổ chức, hộ gia đình tự ý  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2013  
92  
Kinh tÕ & ChÝnh s¸ch  
chuyển nhượng thành quả lao động và hợp  
đồng khoán nhưng đơn vị giao khoán không  
nắm bắt được, thậm chí chuyển nhượng tới 2,3  
lần mà đơn vị giao khoán không hề hay biết.  
rừng và việc chủ rừng lựa chọn hình thức tổ  
chức sản xuất nào, với đối tượng nào phải do  
chủ rừng quyết định trên cơ sở thoả thuận và  
cùng có lợi. Về tên gọi nên sử dụng thuật ngữ  
“Hợp đồng trồng rừng” hoặc “Hợp đồng sử  
dụng đất lâm nghiệp”.  
- Chi trả tiền công quản lý bảo vệ rừng đặc  
dụng quá thấp (Chi cục kiểm lâm tỉnh Bình  
Phước, 2011). Số tiền chi trả cho các nhóm hộ  
Hai là, khẳng định sự cần thiết của chính  
sách giao khoán quản lý bảo vệ rừng rừng đặc  
dụng và phòng hộ rất xung yếu với quan điểm  
là nhất thiết phải do nhà nước quản lý và đầu  
tư thích đáng. Chính sách giao khoán quản lý  
bảo vệ rừng đặc dụng và phòng hộ rất xung  
yếu phải đặt mục tiêu bảo vệ được rừng và  
nâng cao đời sống của người nhận khoán. Để  
làm được điều này một số vấn đề cần chú ý:  
(1) vai trò của cộng đồng tham gia vào quản lý,  
bảo vệ rừng; (2) xây dựng quỹ bảo vệ và phát  
triển rừng để có nguồn thu cho các hoạt động  
bảo vệ rừng thồng qua việc mở rộng các đối  
tượng đóng góp bắt buộc; (3) tìm kiếm các  
đảm bảo tài chính khác cho công tác bảo vệ  
rừng đặc dụng như chi trả dịch vụ môi trường  
rừng, phát triển thị trường cacbon.  
hiện đang áp dụng  
ở
mức 200.000  
đồng/ha/năm là quá thấp dẫn đến khó khăn cho  
người dân nhận quản lý bảo vệ rừng, trong khi  
các quy định về hưởng lợi theo Quyết định  
178/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ  
về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình,  
cá nhân được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm  
nghiệp trên thực tế là không thể thực hiện được  
(Trường Đại học Lâm nghiệp, 2006).  
3. Các đề xuất nhằm sửa đổi, bổ sung và  
điều chỉnh chính sách giao, cho thuê đất lâm  
nghiệp và khoán rừng  
Kết quả nghiên cứu về kết quả và thực trạng  
công tác giao khoán rừng và đất lâm nghiệp  
trên địa bàn tỉnh Bình Phước đã bước đầu gợi  
mở ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và  
quan tâm giải quyết nhằm hoàn thiện chính  
sách giao, cho thuê đất lâm nghiệp và khoán  
rừng trên phạm vi cả nước nói chung và vùng  
miền Đông Nam Bộ nói riêng:  
Ba là, các chính sách giao khoán rừng  
phòng hộ (xung yếu và ít xung yếu) cần đảm  
bảo hài hoà lợi ích môi trường và kinh tế cho  
cả chủ rừng và các đối tượng nhận khoán.  
Quan điểm của người dân ở các vùng mà đoàn  
công tác khảo sát cho thấy hầu hết nguyện  
vọng của họ là được phép trồng cao su để cải  
thiện cuộc sống, tăng thu nhập, trong đó nếu là  
rừng sản xuất thì trồng cao su toàn bộ, còn  
rừng phòng hộ và đặc dụng thì được trồng xen  
theo băng. Đây có thể là một đề xuất có ý  
nghĩa thực tiễn và cần tiếp tục có các nghiên  
cứu tìm kiếm các giải pháp kỹ thuật nhằm nâng  
cao chức năng phòng hộ của cây cao su.  
Một là, nên xem xét lại sự cần thiết của  
chính sách giao khoán đất rừng sản xuất. Trên  
thực tế khoán rừng là một hình thức tổ chức  
sản xuất của các chủ rừng áp dụng trong điều  
kiện nguồn nhân lực hiện có không thể đảm  
nhiệm được nhiệm vụ sản xuất. Vì vậy cần coi  
hợp đồng khoán đất rừng sản xuất là một hợp  
đồng kinh tế mà bên giao khoán và bên nhận  
khoán phải có trách nhiệm và nghĩa vụ như  
nhau trong việc thực hiện hợp đồng. Việc tổ  
chức sản xuất trên diện tích rừng sản xuất đã  
được nhà nước giao là trách nhiệm của chủ  
Bốn là, các biện pháp xử lý đất lấn chiếm  
trước khi thực hiện giao khoán cần phải mềm  
dẻo và tôn trọng lợi ích của người dân thì mới  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2013  
93  
Kinh tÕ & ChÝnh s¸ch  
có hiệu quả và tránh được bức xúc xã hội.  
Thực tế ở Bình Phước, rất nhiều trường hợp  
thực hiện thu hồi đất lấn chiếm nhưng không  
giải quyết nhu cầu cần đất để sản xuất của  
người dân dẫn đến khiếu kiện kéo dài, bất ổn  
xã hội ở những vùng đồng bào dân tộc thiểu  
số. Nhiều trường hợp đã cưỡng chế đến lần thứ  
3, thứ 4 nhưng vẫn không thực hiện được, đất  
đai tiếp tục nằm trong diện tranh chấp và  
không thể sử dụng, gây lãng phí rất lớn.  
các ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông  
thôn và ngành Tài nguyên và Môi trường của  
tỉnh trong việc thực hiện giao, cho thuê đất  
lâm nghiệp theo quy hoạch với việc cấp giấy  
chứng nhận quyền sử dụng đất. Các trường  
hợp tranh chấp giữa người dân với các BQL  
rừng ở Bình Phước hầu hết là do lỗi của hai  
ngành chức năng này khi không có sự phối hợp  
chặt chẽ. Việc giải quyết sai sót do chính  
quyền gây ra nhất định phải theo quan điểm  
chính quyền sai thì phải sửa và quan tâm đến  
lợi ích của người dân trước tiên.  
Năm là, nghiên cứu phương án định giá  
rừng đơn giản và thực tế để các địa phương có  
thể thực hiện cho thuê đất rừng sản xuất tại  
những vùng mà đất rừng có tính cạnh tranh cao  
trong sử dụng như đất lâm nghiệp ở Bình  
Phước nói riêng và vùng Đông Nam Bộ nói  
chung. Theo đó đất rừng sản xuất của vùng  
Đông Nam Bộ nên áp dụng cho thuê theo chu  
kỳ sản xuất và có áp dụng chính sách miễn  
giảm tiền thuê đất cho các đối tượng khác  
nhau. Muốn làm được như vậy cần phải rà soát  
lại diện tích đất lâm nghiệp đã giao cho các  
đơn vị của nhà nước để giao lại cho địa  
phương quản lý và thực hiện cho thuê đất cho  
các đối tượng như hộ gia đình và cá nhân.  
IV. KẾT LUẬN  
Giao khoán rừng và đất lâm nghiệp là một  
chính sách của Nhà nước với mục tiêu phát  
triển lâm nghiệp và góp phần tạo công ăn việc  
làm, ổn định đời sống và xoá đói giảm nghèo  
cho người dân sống dựa vào rừng. Thực tế thực  
hiện chính sách giao khoán rừng và đất lâm  
nghiệp ở Bình Phước đã đặt ra những vấn đề  
cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi cho phù hợp.  
Trong phạm vi của nghiên cứu chúng tôi đưa  
ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện, bổ sung,  
sửa đồi chính sách giao, cho thuê đất lâm  
nghiệp và khoán rừng để chính sách này thực  
sự phát huy hiệu quả và đáp ứng được mục tiêu  
đặt ra. Điểm mấu chốt của những sửa đổi, bổ  
sung và hoàn thiện được nêu ra là chính sách  
giao, cho thuê đất lâm nghiệp và khoán rừng  
phải được xây dựng trên cơ sở tình hình cụ thể  
của của từng địa phương và vùng. Đặc biệt cần  
chú trọng đến tính chất và đặc điểm của từng  
loại đất và rừng để có quy hoạch sử dụng hợp  
lý đồng thời có chính sách và phương án quản  
lý thích hợp.  
Sáu là, các chính sách về giao, cho thuê và  
khoán phải tính đến biến động của thị trường  
chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng như  
hợp đồng giao khoán và cho thuê. Trên thực tế  
nhu cầu chuyển nhượng và tích tụ tập trung đất  
đai là tất yếu và dù chính sách có cho phép hay  
không thì nó vẫn diễn ra. Vì vậy các chính  
sách cần thông thoáng và thủ tục chuyển  
nhượng đơn giản để các chủ thể tham gia vào  
quá trình này có thể dễ dàng thực hiện và tuân  
thủ. Điều này vừa giúp các cơ quan chức năng  
quản lý được rừng và đất lâm nghiệp, vừa tạo  
được nguồn thu cho ngân sách từ tiền đóng  
thuế của các chủ thể tham gia chuyển nhượng.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Ban chỉ đạo Bảo vệ rừng tỉnh Bình Phước, 2012.  
Báo cáo tổng kết công tác quản lý, bảo vệ rừng năm  
2011, phương hướng nhiệm vụ năm 2012. Uỷ ban nhân  
dân tỉnh Bình Phước.  
Bảy là, cần có sự phối hợp tác chặt chẽ giữa  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2013  
94  
Kinh tÕ & ChÝnh s¸ch  
2. Chi cục kiểm lâm tỉnh Bình Phước, 2011. Báo cáo  
tổng kết công tác kiểm lâm năm 2011 và phương hướng  
nhiệm vụ năm 2012. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông  
thôn tỉnh Bình Phước.  
4. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bình  
Phước, 2012. Báo cáo tình hình giao khoán đất lâm  
nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Phước. Sở Nông nghiệp  
và Phát triển Nông thôn tỉnh Bình Phước.  
3. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn tỉnh  
Bình Phước, 2011. Báo cáo quy hoạch bảo vệ và phát  
triển rừng giai đoạn 2011-2012 tỉnh Bình Phước. Sở  
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bình Phước.  
5. Trường Đại học Lâm nghiệp, 2006. Đánh giá tình  
hình thực hiện Quyết định 78/2001/QĐ-TTg và đề xuất  
sửa đổi, bổ sung chính sách hưởng lợi đối với cá nhân,  
hộ gia đình và cộng đồng được giao, được thuê và nhận  
khoán rừng và đất rừng. Trường Đại học Lâm nghiệp.  
FOREST AND FORESTLAND CONTRACT POLICY IMPLIMENTATION  
IN BINH PHUOC PROVINCE - CURENT STATUS AND SOLUTIONS  
Tran Thi Thu Ha  
SUMMARY  
Forest and forestland contract is one of the policy that has been implementted in Vietnam nearly 20 years with the  
purposes of promoting forestry development and contributing to hunger elimination and poverty alleviation.  
However, presently a number of problems have been raised from the implementation of the policy that need to be  
improved, supplemented and revised in order to make it more suitable to forestry characteristics of different  
regions. The research is conducted in Binh Phuoc province, Southeast region, aims at investigating the status of  
forest and forestland policy implementations and proposing for changes, supplements and revisions for improving  
the policy in Vietnam as whole and in the Southeast region in particular. The key proposed change is that the  
forest and forestland allocation, lease and contract policy must establish in accordance with specific conditions of  
location and region. Especially pay attention to the characteristics of different forest and forestland in order to  
make appropriate land use planning as well as suitable policy and management schemes.  
Keywords: Binh Phuoc, forest and Forestland Contract, forestland Allocation, Southeast region.  
Người phản biện: PGS.TS. Nguyễn Văn Tuấn  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2013  
95  
pdf 8 trang yennguyen 18780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giao khoán rừng và đất lâm nghiệp tại tỉnh Bình Phước - Thực trạng và giải pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_khoan_rung_va_dat_lam_nghiep_tai_tinh_binh_phuoc_thuc_t.pdf