Thực trạng và một số giải pháp nhằm phát triển nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ ở vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ - Hà Tĩnh

UED JOURNAL OF SOCIAL SCIENCES, HUMANITIES AND EDUCATION  
VOL.4, NO.2 (2014)  
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NGUỒN TÀI  
NGUYÊN LÂM SẢN NGOÀI GỖ Ở VÙNG ĐỆM KHU BTTN KẺ GỖ - HÀ TĨNH  
THE CURRENT SITUATION AND SOME SOLUTIONS TO DEVELOP NON-TIMBER  
FOREST PRODUCTS (NTFPS) RESOURCES IN THE BUFFER ZONE  
IN KE GO NATURE RESERVE, HA TINH PROVINCE  
Trần Hậu Thìn  
Trường Đại học Vinh  
Email: thindhv@gmail.com  
TÓM TẮT  
Làm sao để người dân miền núi sống được với rừng một cách bền vững? Ngày nay, một trong những giải  
pháp khả thi để giải quyết vấn đề này là phát triển thực vật cho lâm sản ngoài gỗ (LSNG) – đây là nguồn tài nguyên  
đa dạng, phong phú về thành phần loài và giá trị sử dụng; nếu được sử dụng hợp lý sẽ góp phần đảm bảo tính bền  
vững của hệ sinh thái rừng đồng thời cũng đem lại những giá trị kinh tế lớn cho người dân. Trong bài này, tại điểm  
nghiên cứu, đã xác định được 82 loài thực vật cho LSNG thuộc 3 ngành, 35 họ, 58 chi và được phâ n thành 4 nhó m  
sử dụng khác nhau. Trên cơ sở đó, đã đề xuất giải pháp nhằm quản lý, sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thực vật  
cho LSNG.  
Từ khóa: cây dược liệu; lâm sản ngoài gỗ; thực vật phi gỗ; phát triển bền vững.  
ABSTRACT  
How do the mountainous people live in harmony with the forest? Today, developing plants for non-timber forest  
products (NTFPs) is one of the possible solutions to this problem, which is a diverse resource of species having great  
value. The sustainability of ecosystem and economic value will be ensured if people use them reasonably. In this  
paper, 82 plants for non-timber forest products of 3 phylum, 35 groups, 58 genus have been identified and classified  
into 4 groups which are different in use. This paper proposes some solutions for managing and using the plant  
resources for non-timber forest products sustainably.  
Key words: medical plants; non-timber forest products; non-timber plant; sustainable development.  
1. Đặt vấn đề  
Bộ NN&PTNT thực hiện “Đề án quốc gia  
và phát triển các loại LSNG được lựa chọn hợp lý  
cùng với các tri thức truyền thống có giá trị trong  
khai thác và phát triển nông lâm nghiệp là việc  
làm vô cùng quan trọng quyết định sự thành công  
của công cuộc phát triển KT-XH vùng miền núi  
một cách bền vững.  
về bảo tồn và phát triển lâm sản ngoài gỗ (LSNG)  
giai đoạn 2006-2020” đã khẳng định giá trị to lớn  
của các loại LSNG, đặc biệt trong xu hướng cả thế  
giới ưa chuộng các sản phẩm tiêu dùng có nguồn  
gốc thiên nhiên và thực hiện các hành động nhằm  
phát triển bền vững. Đối với Việt Nam nói chung  
và Hà Tĩnh nói riêng thì LSNG lại càng đóng vai  
trò quan trọng hơn vì diện tích đồi núi lớn, địa  
hình dốc. Để vừa có thể trồng và bảo vệ rừng lại  
vừa nâng cao đời sống cho người dân miền núi thì  
cách tốt nhất và nhanh nhất là chúng ta phát huy  
vai trò của LSNG nhằm làm tăng giá trị khai thác  
từ rừng, đồng thời đảm bảo sự phát triển của hệ  
sinh thái rừng. Từ thực tiễn này cho thấy bảo tồn  
Cũng như ở những vùng miền núi khác, ở  
vùng đệm khu BTTN Kẻ Gỗ tỉnh Hà Tĩnh, phần  
lớn các xã đều có điều kiện canh tác nông lâm  
nghiệp khó khăn, trình độ dân trí thấp, giao thông,  
thông tin kinh tế còn nhiều hạn chế. Vì thế số hộ  
nghèo đói chiếm tỷ lệ lớn, những hộ này lại phụ  
thuộc nhiều vào tài nguyên rừng chủ yếu là LSNG.  
Để đảm bảo cuộc sống hết sức chật vật của mình  
họ phải khai thác mọi loại tài nguyên một cách  
không hợp lý, một phần vì thiếu hiểu biết phần  
20  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC  
TẬP 4, SỐ 2 (2014)  
khác quan trọng hơn là phục vụ cuộc sống của  
chính họ. Hơn nữa, sử dụng LSNG đã gắn liền với  
cuộc sống của người dân nơi đây góp phần giải  
quyết công ăn việc làm và tăng thêm thu nhập, cải  
thiện cuộc sống. Nhưng do tập quán canh tác của  
người dân còn lạc hậu, chưa có biện pháp sử dụng  
đất, rừng hợp lý. Cùng với sức ép của nhu cầu  
lương thực thực phẩm, nhà ở, gỗ củi trở thành bức  
thiết đã làm cho LSNG nơi đây ngày càng cạn kiệt.  
- Phương pháp thu thập tài liệu  
- Phương pháp điều tra thực địa: Điều tra theo  
tuyến, theo điểm và theo các ô tiêu chuẩn; kết hợp  
phương pháp phỏng vấn hộ gia đình, phỏng vấn sâu.  
- Thu mẫu và xử lý mẫu theo “Cẩm nang tra  
cứu đa dạng sinh vật” của Nguyễn Nghĩa Thìn  
(1997) [4].  
- Phương pháp xác định tên khoa học theo  
khóa định loại Phạm Hoàng Hộ “Cây cỏ Việt  
Nam” tập I – III, (1991 – 1993) [3] và tham khảo  
thêm tài liệu “Danh lục các loài thực vật Việt  
Nam” (2001 – 2005) [1].  
Vì vậy, phát triển nguồn tài nguyên LSNG  
để nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần  
cho người dân nơi đây là vấn đề thiết thực và hiệu  
quả. Trước thực tế đó chúng tôi thực hiện nghiên  
cứu: “Thực trạng và một số giải pháp nhằm phát  
triển nguồn tài nguyên Lâm sản ngoài gỗ ở vùng  
đệm Khu BTTN Kẻ Gỗ - Hà Tĩnh” với mong  
muốn góp phần nâng cao đời sống cho người dân  
đồng thời bảo vệ và phát triển được tài nguyên  
rừng nói chung và tài nguyên LSNG nói riêng.  
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
3.1. Hiện trạng các loài cây cho LSNG  
3.1.1. Đa dạng về thành phần loài  
Kết quả điều tra các loài cây cho LSNG ở  
khu vực nghiên cứu bước đầu đã xác định được 82  
loài, 58 chi, 35 họ thuộc 3 ngành thực vật khác  
nhau, số liệu được tổng hợp ở Bảng 1.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
Bảng 1. Phân loại các loài cây cho LSNG theo ngành, họ, chi và loài  
Họ  
Số lượng  
Chi  
Số lượng  
Loài  
Số lượng  
Ngành  
%
6
3
%
5,2  
3,5  
%
4
2
Polypodiophyta  
Pinophyta  
2
1
3
2
3
2
Magnoliophyta  
Tổng  
32  
35  
91  
100  
53  
58  
91,3  
100  
77  
82  
94  
100  
Qua Bảng 1 cho thấy, ngành chiếm số lượng  
loài đông nhất là ngành Hạt kín (Magnoliophyta)  
với 77 loài chiếm 94% tổng số loài, thuộc 32 họ,  
53 chi khác nhau. Còn lại hai ngành Hạt trần và  
Dương xỉ chiếm số lượng loài không đánh kể,  
ngành Hạt trần (Pinophyta) có 2 loài thuộc 1 họ, 2  
chi, ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 3 loài  
thuộc 2 họ, 3 chi. Như vậy, các loài cây cho LSNG  
ở huyện Vùng đệm khu BTTN Kẻ Gỗ tương đối đa  
dạng với 82 loài và tập trung chủ yếu trong ngành  
Hạt kín (Magnoliophyta).  
3.1.2. Đa dạng về dạng sống và môi trường sống  
Theo kết quả nghiên cứu, tổng số loài cây  
cho LSNG ở khu vực nghiên cứu đã xác định được  
trong danh mục là 82 loài. Các loài cây này có các  
dạng sống hết sức phong phú, rất khác nhau từ gỗ  
nhỡ, gỗ nhỏ, cây bụi, thảm tươi, dây leo thân thảo,  
dây leo thân gỗ cho đến thực vật phụ sinh, thực vật  
ký sinh… Chúng tôi tạm chia ra 4 nhóm chính như  
sau (xem Bảng 2).  
Bảng 2. Phân bố số loài theo dạng sống ở khu vực nghiên cứu  
STT  
Dạng sống  
Thân thảo  
Số loài  
34  
Tỷ lệ (%)  
1
41,46  
2
3
Thân gỗ  
Cây bụi  
20  
15  
24,39  
18,29  
21  
UED JOURNAL OF SOCIAL SCIENCES, HUMANITIES AND EDUCATION  
VOL.4, NO.2 (2014)  
4
Dây leo  
13  
82  
15,85  
100  
Tổng  
Qua Bảng 2 cho thấy, nhóm thực vật thân  
thảo chiếm số lượng nhiều nhất với 34 loài chiếm  
41,46% tổng số loài đã xác định. Tiếp đến là nhóm  
thực vật thân gỗ với 20 loài chiếm 24,39%, nhóm  
cây bụi có 15 loài chiếm 18,29% và nhóm dây leo  
có số lượng ít nhất với 13 loài chiếm 15,85% tổng  
số loài đã xác định.  
12,20%); ít nhất là các loài sống ở gần khe suối có  
7 loài (chiếm 8,53%).  
3.1.3. Đa dạng về giá trị sử dụng  
Hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới được biết  
đến như một hệ hoàn hảo và đầy đủ với khu hệ  
động thực vật phong phú và đa dạng vào bậc nhất  
trên hành tinh, làm cho nhiều nhà khoa học phải  
sững sờ và ngỡ ngàng. Vì vậy, phân loại LSNG  
theo hệ thống sinh học gặp nhiều khó khăn. Trái  
lại, việc phân loại chúng theo giá trị sử dụng  
không những đơn giản hơn, mà còn làm rõ hơn giá  
trị sử dụng của từng loài cũng như vai trò của  
LSNG đối với kinh tế hộ gia đình, địa phương và  
quốc gia.  
Trong tổng số 82 loài cho LSNG đã xác  
định được tại địa bàn nghiên cứu, chia thành 4 môi  
trường sống khác nhau như sau: Rừng (rừng sâu,  
rừng thưa, rừng trồng); Đồi (đồi núi, trảng cây  
bụi); Nương (nương rẫy, vườn tạp, ven đường đi);  
Khe suối (ven khe, ven suối). Nhìn chung, môi  
trường sống của các cây cho LSNG ở khu vực  
nghiên cứu khá đa dạng, trong đó thực vật cho  
LSNG thu được ở rừng chiếm tỉ lệ cao nhất, có tới  
42 loài (chiếm 51,22%); tiếp theo là nương với 23  
loài (chiếm 28,05%); ở đồi có 10 loài (chiếm  
Từ kết quả nghiên cứu, đề tài đã tiến hành  
phân chia các loài thực vật cho LSNG ở khu vực  
nghiên cứu theo giá trị sử dụng như ở Bảng 3.  
Bảng 3. Phân loại LSNG theo giá trị sử dụng ở khu vực nghiên cứu  
TT  
Mục đích sử dụng  
Số lượng loài  
Tỷ lệ (%)  
57,31  
1
Nhóm cung cấp dược liệu  
47  
17  
10  
8
2
3
4
Nhóm cung cấp lương thực, thực phẩm  
Nhóm cung cấp nguyên liệu làm đồ gia dụng  
Nhóm có giá trị sử dụng khác  
20,73  
12,19  
9,75  
Qua Bảng 3 cho thấy, nhóm LSNG làm dược  
phát triển LSNG tại khu vực nghiên cứu  
liệu có 47 loài chiếm 57,31%, được sử dụng để làm  
thuốc chữa các nhóm bệnh như: bệnh ngoài da  
(nhiễm trùng, ghẻ lở, mụn nhọt,…), bệnh về xương  
(gãy xương, bong gân, thấp khớp,…), bệnh về dạ  
dày, tim, gan, bệnh phụ sản,… Đứng thứ 2 là nhóm  
làm lương thực, thực phẩm có 17 loài chiếm  
20,73%, tiếp theo là nhóm làm đồ gia dụng, mỹ  
nghệ có 10 loài chiếm 12,19% và ít nhất là nhóm có  
giá trị sử dụng khác như làm cảnh, lá để gói,… có 8  
loài chiếm 9,75% tổng số loài đã xác định.  
3.2.1. Thực trạng khai thác và sử dụng LSNG tại  
khu vực nghiên cứu  
Người dân ở đây khai thác LSNG để phục  
vụ gia đình, hàng xóm và bán một phần trên thị  
trường. Theo những người dân ở đây, lượng  
LSNG khai thác ngày một ít đi, đặc biệt là các loài  
có giá trị kinh tế cao. Theo số liệu điều tra thì số  
người khai thác LSNG đã giảm đi, số hộ còn lại  
hoạt động khai thác chuyên nghiệp hơn. Họ xây  
dựng các trang trại ở chân núi để chăn nuôi và vào  
3.2. Thực trạng khai thác sử dụng và cây trồng  
22  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC  
TẬP 4, SỐ 2 (2014)  
rừng khai thác LSNG cho thuận lợi.  
hái theo mùa nhất định. Biết được các thời điểm  
thu hái LSNG trong năm giúp người dân có kế  
hoạch thu hái LSNG một cách ổn định hơn.  
Kết quả điều tra cho thấy, hầu hết các loài  
thực vật cho LSNG ở khu vực nghiên cứu được  
người dân thu hái quanh năm, một số loài được thu  
Bảng 4. Lịch thời vụ thu hái một số loại LSNG  
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra  
Hiện nay, trữ lượng tài nguyên LSNG ít,  
song nhu cầu về chúng trên thị trường lại rất lớn,  
đặc biệt là các loài thuộc nhóm chăm sóc sức khoẻ  
và đặc sản rừng. Vì vậy, số lần cũng như thời gian  
vào rừng của người dân tăng lên. Nếu trước kia họ  
chỉ mất 2 ngày vào rừng để lấy LSNG, thì bây giờ  
cũng lượng như vậy những người này phải mất 4-5  
ngày. Kết quả điều tra hộ gia đình cho thấy những  
người khai thác LSNG để bán hầu như ngày nào  
cũng vào rừng, đặc biệt là những người săn bắn  
động vật hoang dã và chăn nuôi ở chân núi, còn  
các hộ kiếm củi và khai thác LSNG để dùng trong  
giai đoạn thì ít vào hơn. Đây chính là hệ quả của  
tình trạng khai thác quá mức (mạnh ai người ấy  
làm), mà không chú ý đến bảo tồn và phát triển tài  
nguyên LSNG.  
Bảng 5. Tần suất vào rừng của các hộ  
Tần suất vào rừng  
Hàng ngày Hàng tuần  
30 25  
33,33 27,78  
Tổng  
Mức độ  
Số hộ vào rừng  
Không  
28  
Hàng tháng  
7
90  
Tỷ lệ %  
31,11  
7,78  
100%  
Nguồn: Tổng hợp phiếu điều tra hộ gia đình  
Việc khai thác LSNG hiện nay ở vùng  
nghiên cứu không theo quy trình kĩ thuật, khi nhu  
cầu của thị trường tăng lên người dân ồ ạt vào rừng  
khai thác, mà không chú ý đến khả năng tái sinh của  
chúng. Một số loài LSNG được thu hái theo mùa vụ  
như Măng, Sấu, Nhãn… thì tới mùa người dân vào  
khai thác tất cả những gì có thể sử dụng được. Các  
loài có giá trị kinh tế cao như Rau sắng, Củ mài,  
Dây máu người… còn ít và có nguy cơ cạn kiệt do  
khai thác quá mức, do mất điều kiện sinh thái cho  
tái sinh tự nhiên. Nhưng nhu cầu của con người đối  
với những loại lâm sản ngoài gỗ thì ngày càng tăng,  
loại nào càng hiếm, càng quý, càng bị người dân  
săn lùng mạnh. Cách thức khai thác của người dân  
hiện nay rất xô bồ và khai thác không đảm bảo tái  
sinh là một trong những nguyên nhân chính làm cho  
LSNG ở khu vực ngày một cạn kiệt.  
Các loại LSNG được khai thác với nhiều  
hình thức khác nhau, sản phẩm lại rất da dạng, vì  
vậy việc bảo tồn các loài thực vật cho LSNG ở đây  
gặp rất nhiều khó khăn. Tác động này dẫn đến việc  
suy giảm tài nguyên LSNG và tất yếu các sản phẩm  
23  
UED JOURNAL OF SOCIAL SCIENCES, HUMANITIES AND EDUCATION  
VOL.4, NO.2 (2014)  
này ngày càng khan hiếm và khó khai thác hơn.  
Nhận định này đã được chính người dân chứng  
minh qua việc trả lời bảng phỏng vấn hộ gia đình:  
100% số hộ cho rằng lượng LSNG thay đổi theo  
chiều hướng giảm xuống, từ trước năm 1995 lượng  
LSNG giảm ít do trữ lượng LSNG còn nhiều, từ  
năm 1995 - 2005 lượng LSNG giảm rất nhiều do  
hoạt động khai thác LSNG diễn ra rất mạnh, tuy  
nhiên từ năm 2005 trở lại đây lượng LSNG giảm đi  
ít do trữ lượng của chúng còn ít và số người đi khai  
thác cũng vì thế mà giảm đi.  
Bảng 6. Hình thức khai thác của LSNG  
Hình thức  
khai thác  
Bộ phận  
khai  
TT  
Tên LSNG  
Khả năng tái sinh  
Nhóm làm đồ gia dụng, mỹ nghệ  
Tre, Nứa, Trúc, Vầu, Song mật, mây nếp  
Cỏ tranh  
Chặt  
thân  
Thân cây Có khả năng tái sinh  
1
2
3
cây  
Lá  
Lá  
Có khả năng tái sinh  
Có khả năng tái sinh  
Cỏ chít  
Hoa  
Hoa  
Nhóm làm cây dược liệu  
Hà thủ ô, xạ đen, ngũ gia bì  
Ké đầu ngựa,Tai chua  
Giềng đỏ, gừng nghệ đen  
4
5
6
Chặt thân, lá thân, lá  
Không có khả năng tái sinh  
Không có khả năng tái sinh  
Không có khả năng tái sinh  
Quả  
Quả  
Củ  
Chặt cây  
Nhóm làm cây cảnh  
7
8
Lan đuôi cáo, Lan ngọc điển  
Trúc lan  
Thu cả dò  
Không có khả năng tái sinh  
Không có khả năng tái sinh  
Đánh cả gốc  
Nhóm cây làm thực phẩm  
Măng  
9
Có khả năng tái sinh  
10 Củ mài, củ nâu, củ từ Dong giềng  
Đào cả cây  
Không có khả năng tái sinh  
Nguồn: Tổng hợp phiếu phỏng vấn từ người dân  
Như vậy, có thể thấy tài nguyên LSNG ở  
Khu BTTN Kẻ Gỗ hiện đang suy giảm và diễn  
biến theo chiều hướng xấu nếu không có các biện  
pháp quản lý, sử dụng và phát triển chúng một  
cách bền vững.  
ra mâu thuẫn giữa quản lý bảo vệ tài nguyên rừng  
với nhu cầu khai thác lâm sản để mưu sinh của  
người dân. Để tồn tại, người dân vẫn lén lút khai  
thác lâm sản. Trong những năm qua, các hoạt  
động liên quan đến việc phục hồi và phát triển  
vốn rừng, bao gồm cả LSNG, đã được quan tâm  
và bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định,  
góp phần tích cực vào việc nâng cao độ che phủ  
rừng. Nhiều mô hình gây trồng phát triển LSNG  
đã được hình thành và phát triển, như mô hình  
trồng các loài cây dược liệu như Sa nhân, Nhân  
trần, Ích mẫu, Chè vằng,... mô hình trồng Mây  
quanh vườn nhà, trồng Mây dưới tán rừng trồng  
sinh trưởng kém; trồng Sa nhân dưới tán vườn  
cây ăn quả, dưới tán rừng trồng; trồng Hương bài  
3.2.2. Tình hình gây trồng và phát triển LSNG tại  
khu vực nghiên cứu  
Các địa phương thuộc vùng đệm khu  
BTTN Kẻ Gỗ là những vùng có đời sống kinh tế  
còn gặp nhiều khó khăn, trình độ canh tác còn lạc  
hậu; tư tưởng sống dựa vào các sản phẩm tự  
nhiên của rừng vẫn còn khá phổ biến. Hiện nay  
quản lý LSNG được lồng ghép song song với  
công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng. Tuy  
nhiên, cũng như nhiều nơi khác, ở đây cũng xẩy  
24  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC  
TẬP 4, SỐ 2 (2014)  
trên đất đồi, dưới tán cây ăn quả, dưới tán rừng  
trồng; trồng tre lấy măng; trồng Chè vằng, Sắn  
dây, Nghệ, Gừng,... bằng hình thức nông lâm kết  
hợp trong vườn nhà, vườn đồi,...  
với bảo tồn và gây trồng phát triển. Cần khuyến  
khích phát huy và phổ biến rộng rãi các kiến thức  
truyền thống, kiến thức bản địa của người dân địa  
phương trong bảo vệ, khai thác cũng như chế biến,  
sử dụng và gây trồng lâm sản ngoài gỗ.  
Qua điều tra khảo sát cũng cho thấy vốn  
kiến thức bản địa về phát triển LSNG của người  
dân khu vực nghiên cứu hết sức phong phú và đa  
dạng. Từ cách thức gây trồng, thu hái, chế biến các  
loại rau củ đơn giản đến những bài thuốc chữa  
bệnh phức tạp và giá trị. Những kiến thức đó được  
hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với các  
hoạt động sản xuất, gây trồng, thu hái, chế biến,  
bảo quản, gia công, sử dụng LSNG hàng ngày của  
họ. Nhờ vào những kiến thức này mà các mô hình  
gây trồng và phát triển LSNG ở địa phương đang  
ngày càng ổn định và phát triển.  
- Khai thác lâm sản ngoài gỗ cần phải có kế  
hoạch hợp lý, không lạm vào vốn rừng, khai thác  
phải đảm bảo tái sinh, tránh khai thác tận diệt.  
- Cần tiến hành khảo sát để thuần hóa và  
gây trồng phát triển những loài cho lâm sản ngoài  
gỗ có giá trị và phù hợp với điều kiện của địa  
phương. Dựa trên kết quả điều tra và phân tích khu  
vực nghiên cứu, chúng tôi thấy các loài lâm sản  
ngoài gỗ sau là có triển vọng để gây trồng phát  
triển ở khu vực nghiên cứu:  
+ Nhóm nguyên liệu: Mét, Bương, Song  
3.3. Một số giải pháp phát triển tài nguyên thực  
vật cho LSNG ở Vùng đệm Khu BTTN Kẻ Gỗ -  
Hà Tĩnh  
mật, Mây tắt, Nứa,...  
+ Nhóm dược liệu: Hoằng đằng, Lá khôi,  
Hương bài,...  
3.3.1. Giải pháp về quản lý  
+ Nhóm lương thực: Củ mài, Rau sắng,  
Măng,...  
- Cần nâng cao nhận thức cho người dân  
hiểu được tầm quan trọng và chức năng của tài  
nguyên LSNG, bằng việc tăng cường các lớp tập  
huấn kỹ thuật, tuyên truyền giáo dục, mang lại cho  
người dân những kiến thức cơ bản nhất trong các  
hoạt dộng liên quan đến rừng nói chung và tài  
nguyên LSNG nói riêng. Từ đó khuyến khích  
người dân tham gia quản lý bảo vệ và phát triển tài  
nguyên rừng và LSNG một cách hiệu quả và bền  
vững hơn.  
4. Kết luận  
Tài nguyên lâm sản ngoài gỗ tại Vùng đệm  
Khu BTTN Kẻ Gỗ rất đa dạng, phong phú và đang  
tiềm ẩn những giá trị to lớn. Chúng không những  
đáp ứng các nhu cầu lương thực, thực phẩm, dược  
liệu, gỗ củi và nhiều loại sản phẩm thiết yếu khác  
mà còn góp phần làm tăng thêm sự phong phú và  
đa dạng của các hệ sinh thái rừng nơi đây. Đây là  
một trong những tiềm năng to lớn của vùng để  
phát triển sản xuất kinh doanh nông lâm nghiệp  
nói chung và phát triển sản xuất kinh doanh LSNG  
nói riêng. Vì vậy, cần phải có những giải pháp  
thiết thực, phù hợp để khai thác sử dụng và phát  
triển nguồn tài nguyên này một cách hiệu quả và  
bền vững.  
- Thành lập các Ban quản lý rừng cộng đồng  
và giao cho các ban quản lý bảo vệ, khôi phục và  
phát triển rừng theo luật đất đai, luật bảo vệ và  
phát triển rừng.  
- Xây dựng các cơ sở khuyến lâm tại địa  
phương với mục đích là nơi tư vấn trao đổi kinh  
nghiệm, đồng thời kết hợp với các tổ chức đoàn  
thể khác như hội nông dân, hội phụ nữ, đoàn thanh  
niên,... của địa phương trong việc khai thác và gây  
trồng lâm sản ngoài gỗ một cách bền vững.  
Những kết quả của nghiên cứu góp phần  
cung cấp dữ liệu cho việc thống kê đánh giá tài  
nguyên rừng và tài nguyên LSNG, làm cơ sở cho  
hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng và  
tài nguyên LSNG ở Vùng đệm Khu BTTN Kẻ Gỗ.  
3.3.2. Giải pháp về sử dụng và phát triển  
- Thực hiện đúng nguyên tắc khai thác đi đôi  
25  
UED JOURNAL OF SOCIAL SCIENCES, HUMANITIES AND EDUCATION  
VOL.4, NO.2 (2014)  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Nguyễn Tiến Bân và cs (2001 – 2005), Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập I – III, NXB Nông  
Nghiệp, Hà Nội.  
[2] Võ Văn Chi (1999), Từ điển cây thuốc Việt Nam, NXB Y Học, Hà Nội.  
[3] Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993), Cây cỏ Việt Nam, tập 1 - 3, NXB Trung tâm học liệu.  
[4] Nguyễn Nghĩa Thìn, (1997) Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật, NXB Nông nghiệp, Hà Nội.  
26  
pdf 7 trang yennguyen 13440 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng và một số giải pháp nhằm phát triển nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ ở vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ - Hà Tĩnh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_va_mot_so_giai_phap_nham_phat_trien_nguon_tai_ngu.pdf