The impact of intraspecific competition on tree growth in planted Korean pine forest

TAP CHI SINH HOC 2020, 42(1): 1–10  
DOI: 10.15625/0866-7160/v42n1.14435  
THE IMPACT OF INTRASPECIFIC COMPETITION ON TREE GROWTH  
IN PLANTED KOREAN PINE FOREST  
Nguyen Thanh Tuan1,*, Vu Dinh Duy2, Shen H-L3  
1Vietnam Forestry University-Dongnai Campus, Vietnam  
2Institute of Tropical Ecology, Vietnam-Russia Tropical Centre  
3School of Forestry, Northeast Forestry University, P.R. China  
Received 20 September 2019, accepted 3 March 2020  
ABSTRACT  
The aim of this study was to explore the correlation of competition indices (CIs) on individual  
tree growth for Korean pine (Pinus koraiensis) plantation using partial correlation analysis and  
generalized linear models. The data were collected from 15 permanent plots in Mengjiagang  
forestry farm, Northeast China. The results showed that the distance dependent CIs have a higher  
predictive capacity for individual growth of pine trees. The control index of competitive trees  
number (CI1) combined with the selection fixed competitor trees (M2) was found to be the most  
well correlated competition measure with five - years diameter increment. Thus, the competition  
index (CI1- M2) was recommended for developing individual tree growth models. The subject  
tree diameter at breast height, crown width, height to crown base, tree volume and basal area all  
showed a significantly linear correlation with tree competition intensity (P < 0,05). Diameter at  
breast height, crown width, tree volume and basal area all decreased with increasing competition  
intensity, whereas the height to crown base increased. There was no significant relationship  
between competition intensity and tree height (P > 0,05). The optimal model of predicting  
individual growth with logarithm of diameter at breast height and CIs as the independent  
variables due to the best fitting performance. This results also showed considerable improvement  
in predicting individual tree periodic growth when including competition indices that the mean  
absolute error is reduced in the range of 22−25%.  
Keywords: Pinus koraiensis, competition index, individual tree growth.  
Citation: Nguyen Thanh Tuan, Vu Dinh Duy, Shen H-L, 2020. The impact of intraspecific competition on tree  
growth in planted Korean pine forest. Tap chi Sinh hoc (Journal of Biology), 42(1): 1–10.  
https://doi.org/10.15625/0866-7160/v42n1.14435.  
*Corresponding author email: [email protected]  
©2020 Vietnam Academy of Science and Technology (VAST)  
1
TAP CHI SINH HOC 2020, 42(1): 1–10  
DOI: 10.15625/0866-7160/v42n1.14435  
ẢNH HƯỞNG CỦA CẠNH TRANH CÙNG LOÀI ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA  
CÂY Ở RỪNG TRỒNG THÔNG HÀN QUỐC  
Nguyễn Thanh Tuấn1,*, Vũ Đình Duy2, Shen Hai Long3  
1Trường Đại học Lâm nghiệp, Phân hiệu Đồng Nai, Đồng Nai  
2Viện Sinh thái Nhiệt đới, Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga, Hà Nội  
3Trường Đại học Lâm nghiệp Đông Bắc Trung Quốc  
Ngày nhận bài 20-9-2019, ngày chấp nhận 3-3-2020  
TÓM TẮT  
Bài báo sử dụng số liệu thu thập từ 15 ô tiêu chuẩn định vị rừng trồng thuần loài thông Hàn Quốc  
(Pinus koraiensis) tại lâm trường Mộng Gia Cương, Đông Bắc Trung Quốc, thông qua một số  
phương pháp phân tích tương quan và mô hình hồi quy để làm rõ mối quan hệ giữa chỉ số cạnh  
tranh với sinh trưởng, tăng trưởng của cây riêng lẻ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ số cạnh  
tranh phụ thuộc vào khoảng cách có tương quan nghịch với tăng trưởng 5 năm đường kính cây (P  
< 0,05) và có tương quan cao hơn so với chỉ tiêu không phụ thuộc vào khoảng cách. Trong các  
chỉ số cạnh tranh phụ thuộc vào khoảng cách, chỉ số cạnh tranh CI1-M2 có tương quan lớn nhất  
với tăng trưởng cây rừng, mặt khác hệ số tương quan ổn định ở tất cả các mật độ nghiên cứu. Do  
đó, bài báo đã sử dụng chỉ số CI1-M2 để nghiên cứu sinh trưởng và xây dựng mô hình dự đoán  
tăng trưởng của P. koraiensis. Chỉ số cạnh tranh CI1-M2 có mối quan hệ tuyến tính dương với  
đường kính ngang ngực, đường kính tán, thể tích và tiết diện ngang của cây (P < 0,05). Ngược lại,  
Chỉ số cạnh tranh có quan hệ tuyến tính âm với chiều cao dưới cành (P < 0,05) và không có quan  
hệ với chiều cao. Với các biến đầu vào là các chỉ tiêu điều tra cây cá thể và chỉ số cạnh tranh CI1-  
M2, thông qua các bước phân tích hồi quy mô hình tăng trưởng 5 năm của đường kính cuối cùng  
chỉ còn lại 2 biến số là đường kính ngang ngực (LnD) và chỉ số cạnh tranh CI1-M2. Hơn nữa, sau  
khi đưa biến chỉ số cạnh tranh vào biến dự đoán thì độ chính xác của mô hình tăng lên rõ rệt với  
sai số tuyệt đối trung bình giảm từ 22−25%.  
Từ khóa: Chỉ số cạnh tranh, tăng trưởng cây rừng, thông Hàn Quốc.  
*Địa chỉ liên hệ email: [email protected].vn  
MỞ ĐẦU  
Trong quá trình sinh trưởng cây rừng chịu  
dạng sinh học, sinh trưởng cá thể, tỉ lệ sống  
chết, cấu trúc rừng (Peet & Christense, 1987;  
Nishimura et al., 2002; Coomes & Allen,  
sự chi phối của rất nhiều nhân tố sinh thái. 2007). Bella (1971) cho rằng cường độ cạnh  
Trong đó những cá thể ở gần nhau có nhu cầu tranh giữa các cây rừng có thể được đánh giá  
sinh thái tương đồng thường xuất hiện ảnh ở cấp độ quần thể và cá thể riêng lẻ. Ở cấp độ  
hưởng không có lợi với nhau dẫn đến quan hệ  
quần thể có thể sử dụng mật độ, tiết diện  
cạnh tranh về tài nguyên (Shainsky et al, ngang để xác định cường độ cạnh tranh.  
1992). Cạnh tranh giữa các cá thể là hiện Phương pháp này ưu điểm ở chỗ công thức  
tượng phổ biến tồn tại trong quần xã thực vật, tính toán đơn giản, dễ đo đạc ngoài thực địa,  
cũng là quá trình sinh thái quan trọng với tác  
tuy nhiên nó sử dụng mật độ và các giá trị  
dụng duy trì tính ổn định, đồng thời ảnh trung bình để xác định cường độ cạnh tranh  
hưởng tới cấu trúc phân bố không gian, đa mạnh yếu nên che giấu mức độ cạnh tranh  
2
The impact of intraspecific competition on tree  
khác nhau giữa các cá thể riêng biệt. Ngược trung bình năm 550 mm và tổng số giờ nắng  
lại, cạnh trạnh ở cấp độ cá thể lại thể hiện chi trong năm là 1955 giờ. Các ô tiêu chuẩn (OTC)  
tiết cường độ cạnh tranh của từng cá thể với nghiên cứu nằm ở khoảnh 62 và 63 thuộc  
các cây xung quanh. Chỉ số cạnh tranh của cá trạng thái rừng trồng thuần loài Thông Hàn  
thể riêng lẻ đã được sử dụng rộng rãi trong Quốc 41 tuổi, được bố trí theo hướng đông  
các mô hình dự đoán sinh trưởng với mục tiêu nam, độ dốc trung bình 12 độ, độ dày tầng đất  
làm sáng tỏ sự khác nhau về sinh trưởng của A1 là 30 cm, A+B là 60 cm, thuộc nhóm đất  
từng cá thể cây rừng (Bella, 1971; Perot et al., nâu sẫm. 15 ô tiêu chuẩn định vị đã được lập  
2010). Ngoài ra, chỉ số cạnh tranh không năm 2008 với 3 cấp mật độ của rừng trồng  
những thể hiện được sự tương tác trong không Thông Hàn Quốc (1.300 cây/ha, 900 cây/ha  
gian giữa các cá thể, mà còn phản ánh sự biến và 500 cây/ha), diện tích mỗi ô tiêu chuẩn là  
đổi của cấu trúc quần xã theo hoàn cảnh môi 0,1 ha. Tháng 9 năm 2010 tiến hành đánh số  
trường và cũng là chỉ tiêu định lượng mức độ và điều tra toàn bộ các cây trong 15 ô tiêu  
cạnh tranh giữa các cá thể (Maleki et al., chuẩn bao gồm: Đường kính, chiều cao,  
2015). Những hiểu biết về mối quan hệ cạnh đường kính tán theo 4 hướng (đông, tây, nam,  
tranh giữa các cá thể có ý nghĩa trong việc bắc), chiều cao dưới cành. Tháng 9 năm 2015,  
quản lý rừng bền vững phù hợp với quy luật nghiên cứu tiến hành điều tra lần 2 để xác  
của tự nhiên (Amiri, 2016).  
định tăng trưởng, ngoài những chỉ tiêu điều  
tra ở lần đầu tiên được đo đếm lại, vị trí tương  
đối của từng cây trong ô tiêu chuẩn đã được  
xác định bằng địa bàn ba chân và thước đo  
khoảng cách Laser. Trong quá trình điều tra,  
đường kính ngang ngực dùng thước dây với  
độ chính xác 0,1 cm, chiều cao dưới cành và  
vút ngọn sử dụng thước đo cao Vertex III độ  
chính xác 0,1 m; đường kính tán sử dụng  
thước dây với độ chính xác là 0,1 m.  
Thông Hàn Quốc (Pinus koraiensis) là  
loài cây bản địa quan trọng ở vùng Đồng Bắc  
Trung Quốc, gỗ và hạt có giá trị cao về kinh tế  
(Nguyen et al., 2018). Việc sử dụng chỉ số  
cạnh tranh trong việc dự đoán sinh trưởng,  
tăng trưởng, cấu trúc đối với loài cây này  
bước đầu đã được nghiên cứu (Shao, 1985;  
Dong et al., Huang et al., 2011), tuy nhiên số  
lượng còn ít và kết quả thu được còn thiếu sự  
thống nhất. Trong nghiên cứu này chúng tôi  
thử nghiệm các công thức tính toán cường độ  
cạnh tranh khác nhau, đồng thời kết hợp với  
một số phương pháp xác định khoảng không  
gian cạnh tranh dinh dưỡng để xây dựng chỉ  
số cạnh tranh cho từng cá thể. Sau đó tiến  
hành so sánh, lựa chọn chỉ số phù hợp nhất để  
xây dựng mô hình dự đoán tăng trưởng của  
từng cây riêng lẻ, qua đó làm sáng tỏ mối  
quan hệ cạnh tranh không gian dinh dưỡng  
với lượng tăng trưởng, làm cơ sở khoa học  
cho việc đề xuất các biện pháp quản lý và xây  
dựng cấu trúc rừng trồng Thông Hàn Quốc  
hợp lý.  
Cách tính toán các chỉ số cạnh tranh  
Chỉ số cạnh tranh (CI) thể hiện mức độ  
cạnh tranh của các cây lân cận đối với cây  
mục tiêu, chỉ số cạnh tranh càng lớn chứng tỏ  
cây mục tiêu chịu sự chèn ép của các cây lân  
cận càng mạnh mẽ. Có rất nhiều chỉ số cạnh  
tranh đã được sử dụng trong các nghiên cứu  
trước đây, tổng quát có hai phương pháp cơ  
bản để xác định chỉ số cạnh tranh. Thứ nhất,  
các phương pháp dựa trên các tham số thống  
kê được tính toán từ các ô đo đếm, còn gọi là  
phương pháp không phụ thuộc khoảng cách,  
không cần biết đến vị trí tọa độ của cây trong  
lâm phần. Thứ hai, các phương pháp phụ  
thuộc vào khoảng cách dựa trên vị trí tọa độ  
của cây trong lâm phần. Trong nghiên cứu này  
cả 2 loại chỉ số cạnh tranh đều được đưa vào  
sử dụng để phản ánh cường độ cạnh tranh  
giữa các cây cá thể trong lâm phần. Căn cứ  
vào các chỉ số cạnh tranh được sử dụng phổ  
biến trong các nghiên cứu rừng trồng thuần  
loài theo trích dẫn của Zi et al. (2012), chúng  
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN  
CỨU  
Phương pháp thu thập dữ liệu  
Địa điểm nghiên cứu thuộc Lâm Trường  
Mộng Gia Cương, Thành Phố Giai Mộc Tư,  
Tỉnh Hắc Long Giang của Trung Quốc với  
nhiệt độ trung bình năm 2,7oC. Lượng mưa  
3
Nguyen Thanh Tuan et al.  
tôi đã lựa chọn tổng cộng 15 chỉ tiêu để đánh rừng, toàn bộ các chỉ tiêu được thể hiện ở  
giá mức độ bị chèn ép của từng cá thể cây bảng 1.  
Bảng 1. Chỉ số cạnh tranh của từng cây riêng lẻ  
Chỉ số cạnh tranh không phụ thuộc  
Chỉ số cạnh tranh phụ thuộc khoảng cách  
khoảng cách  
n
Dj  
1
Di  
D
Đường kính tương  
đối  
H   
SMDi  
Hegyi  
Di Lij  
j1  
16Lij  
n
CRi  
hi  
Dj  
Di D j  
CI2i  
CI3i  
CI4i  
Martin  
Bella  
Mức độ mở rộng tán  
Độ đầy  
M   
e
D  
i
j1  
n
OA  
D
j
CRi  
li  
ij   
B   
Zi Di  
j1  
n
(OLij Cw )  
CRi  
Di  
i
Staebler  
Gerrard  
Hình chiêu tán  
S   
2
j1  
n
OAij  
CV  
i
GSIi   
G   
Chỉ số không gian  
sinh trưởng  
D
Zi  
i
j1  
n
CVj  
Zi  
GSCI   
Biging  
CVi (L 1)  
BA  
i
ij  
j1  
D
Ghi chú: Di, Dj là đường kính ngang ngực  
của cây mục tiêu và cây lân cận; Lij là khoảng  
cách giữa cây mục tiêu và cây lân cận; OAij,  
OLij là diện tích và chiều dài giao tán giữa  
cây mục tiêu và cây lân cận; Zi, Cwi, CRi ,  
CVi, BAi, hi, li là diện tích, bán kính, đường  
kính, thể tích của tán, tiết diện ngang, chiều  
cao vút ngọn, chiều dài tán của cây mục tiêu;  
Chỉ số kiểm soát  
số cây  
i
CI1i    
Li  
Dg  
Z j  
n
1
CIai  
Zi Lij  
j1  
Chỉ số vị trí tán  
cây  
n
Z j Zi  
1
Dg  
,
là đường kính trung bình, trung binh  
Li  
CIbi  
Zi  
Lij  
j1  
khoảng cách đến cây mục tiêu của 4 cây lân  
cận gần nhất; Zj, CVj là diện tích và thể tích  
D
tán của cây lân cận,  
bình toàn lâm phần.  
đường kinh trung  
Hiệu chỉnh sai số ranh giới ô tiêu chuẩn  
là những cây nằm trong OTC và cách ranh  
giới của OTC là 5 m, còn cây lân cận là toàn  
bộ những cây có trong ô tiêu chuẩn có quan  
hệ cạnh tranh không gian dinh dưỡng với cây  
mục tiêu. Tổng số cây mục tiêu được chọn  
trong 15 ô tiêu chuẩn là 376 cây và được chia  
làm 2 bộ phận là dữ liệu xây dựng mô hình và  
dữ liệu để kiểm nghiệm đánh giá mô hình với  
tỉ lệ 4:1, tương ứng với 300 cây và 76 cây.  
Một số đặc trưng thống kê mô tả của cây mục  
tiêu được thể hiện ở bảng 2.  
Trong trường hợp chọn cây mục tiêu nằm  
giáp ranh giới của OTC, khi đó những cây  
nằm ngoài OTC cũng sẽ phát sinh ảnh hưởng  
cạnh tranh với cây mục tiêu, vì vậy kết quả  
phân tích chỉ số cạnh tranh của cây mục tiêu  
sẽ không chính xác, từ đó cần thiết tiết hành  
hiệu chỉnh sai số ranh giới ô tiêu chuẩn  
(Ledermann, 2010). Để loại trừ sai số do ảnh  
hưởng của cây ngoài OTC tới cây mục tiêu,  
nghiên cứu chỉ lựa chọn những cây mục tiêu  
4
The impact of intraspecific competition on tree  
Bảng 2. Một số đặc trưng thống kê cây mục tiêu rừng trồng thông Hàn Quốc  
Dữ liệu xây dựng mô hình (n = 300)  
Dữ liệu kiểm tra (n = 76)  
Nhỏ Lớn Trung Sai tiêu  
nhất nhất  
12,20 29,40 21,31  
0,93 3,10 1,78  
9,60 13,80 11,34  
Biến điều tra  
Nhỏ  
nhất  
11,90  
0,95  
8,60  
Lớn  
nhất  
32,20 21,08  
3,35 1,79  
14,80 11,48  
Trung Sai tiêu  
bình  
chuẩn  
3,89  
0,43  
1,12  
bình  
chuẩn  
3,81  
0,42  
1,04  
Đường kính (cm)  
Đừng kính tán (m)  
Chiều cao (m)  
Chiều cao dưới  
cành (m)  
2,60  
9,40 5,73  
1,15  
3,00 7,90 5,46  
1,08  
Phương pháp xác định cây cạnh tranh  
c×COMP = c1×H+c2×HB+c3×CR+c4×CI  
Cây cạnh tranh được hiểu là những cây  
lân cận có quan hệ không gian dinh dưỡng với  
cây mục tiêu (cây trung tâm). Kế thừa nghiên  
cứu của Zi et al. (2012), bài báo sử dụng 4  
phương pháp chủ yếu để xác định cây cạnh  
tranh có quan hệ không gian dinh dưỡng với  
cây mục tiêu bao gồm: Cố định bán kính (M1),  
trong đó cây cạnh tranh được xác định là  
những cây nằm trong hình tròn có bán kính là  
5 m, với tâm hình tròn là cây mục tiêu; Cố  
định số cây (M2), trong đó cây cạnh tranh  
được xác định là 4 cây lân cận có khoảng cách  
ngắn nhất với cây mục tiêu; Giao tán (M3),  
trong đó cây cạnh tranh là những cây có phần  
giao tán với cây mục tiêu; Hình nón (M4),  
trong đó những cây lân cận có khoảng cách  
nhỏ hơn 1/2 chiều cao của cây mục tiêu được  
xác định là cây cạnh tranh.  
Ln(DGI) = a + b1 × lnD + b2 × D2 + c1 × H  
+ c2 × HB + c3 × CR + c4 × CI (2)  
Trong đó: H là chiều cao vút ngọn, HB  
chiều cao dưới cành, CR là đường kính tán,  
D là đường kính ngang ngực, CI là chỉ số  
cạnh trạnh.  
Kiểm nghiệm và đánh giá mô hình tăng  
trưởng  
Trong mô hình tuyến tính đa biến thì giá  
trị hệ số xác định (R2) tăng theo số biến phụ  
thuộc được đưa vào để dự đoán, nhưng không  
thể nói mô hình đó khả năng mô phỏng tốt  
nhất, bởi vì một số biến độc lập ít có ý nghĩa  
hoặc không có tác dụng giải thích biến cần dự  
đoán. Vì vậy, nguyên tắc xây dựng phương  
trình dự đoán là ưu tiên các mô hình ít biến dự  
đoán. Mức độ phù hợp của mô hình dự đoán  
được đánh giá theo hệ số xác định R2, căn bậc  
hai sai số bình phương trung bình (RMSE),  
tiêu chuẩn thông tin Akaike (AIC). Để kiểm  
nghiệm độ chính xác của các mô hình ở phần  
dữ liệu kiểm tra, nghiên cứu sử dụng 4 chỉ  
tiêu bao gồm: sai lệch trung bình (ME), sai số  
tuyệt đối trung bình (MAE), trung bình phần  
trăm sai số (ME%) và trung bình tương đối  
phần trăm sai số (MAE%), chi tiết ở bảng 3.  
Mô hình tăng trường cây rừng  
Nghiên cứu sử dụng tăng trưởng đường  
kính trung bình định kỳ 5 năm làm biến phụ  
thuộc, các chỉ tiêu điều tra cây riêng lẻ và chỉ  
số cạnh tranh làm biến độc lập để xây dựng  
mô hình dự đoán tăng trưởng cây cá thể:  
Ln(DGI)= a + b × SIZE + c × COMP (1)  
Trong đó: DGI là bình phương của tăng  
trưởng thường xuyên định kỳ 5 năm về đường  
kính; SIZE hàm số miêu tả kích thước lớn nhỏ  
cây rừng, COMP hàm số phản ánh khả năng  
cạnh tranh không gian dinh dưỡng của cây  
rừng; a, b, c là tham số của phương trình.  
Trong đó sử dụng đường kính ngang ngực (D)  
trong mô hình phản ánh kích thước lớn nhỏ  
của cây rừng: b × SIZE = b1 × lnD + b2 × D2.  
Ngoài ra, nghiên cứu cũng sử dụng  
phương pháp chọn biến từng bước để lựa chọn  
những biến dự đoán hữu ích đưa vào mô hình,  
kết hợp với yếu tố khuyếch đại phương sai  
(VIF) để loại bỏ những biến có quan hệ cộng  
tuyến tính mạnh với nhau.  
1
VIF i   
   
(1)  
1R2 i  
   
Hàm số chỉ sự cạnh tranh:  
5
Nguyen Thanh Tuan et al.  
Trong đó: R2(i) = hệ số tương quan giữa biến lớn. Nói khác đi, khi VIF(i) lớn thì hệ số hồi  
độc lập thứ i với các biến độc lập khác; VIF(i) quy thứ i biến động mạnh. Sự biến động mạnh  
là trị số nghịch đảo của độ chấp nhận, độ chấp của hệ số hồi quy thứ i cho biết biến này có ý  
nhận của biến thứ i được tính nhằm xác định nghĩa kém trong mô hình. VIF < 10, biến độc  
biến i có ý nghĩa hay không, hay nó có thể lập không tồn tại quan hệ cộng tuyến tính,  
được đưa vào mô hình hay không. VIF(i) VIF > 10 biến độc lập có quan hệ cộng tuyến  
được dùng để tính phương sai cho hệ số hồi tính mạnh. Toàn bộ xử lý thống kê sử dụng  
quy thứ i. Khi độ chấp nhận nhỏ thì VIF(i) sẽ phần mềm R với các gói Spatial và Mass.  
Bảng 3. Công thức tính toán một số chỉ tiêu đánh giá độ chính xác mô hình  
Công thức tính  
TT  
Công thức tính  
TT  
(7)  
n
2
y y  
i   
  
i1  
n
i
n
yi yi  
n
R2 1  
MAE   
(3)  
2
i1  
y y  
i
i1  
n
n
2
yi yi  
n
ME   
AIC nln  
y y  
2p  
(4)  
(5)  
(8)  
(9)  
i   
  
  
i
i1  
i1  
n
n
yi yi  
yi yi  
n
1n   
1
M %E   
100  
MA%E   
100  
n   
n
i1  
i1  
n
2
Ghi chú: yi là giá trị thực nghiệm, ŷi là giá trị lý  
(6) thuyết, n là số lượng mẫu kiểm tra, p là số lượng  
hệ số của mô hình.  
y y  
  
i   
i
i1  
RMSE   
n p  
tuyến tính nghịch rõ rệt (P < 0,05), nó phù  
hợp với quy luật cạnh tranh cây rừng, cường  
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
Chỉ số cạnh tranh trong nghiên cứu sinh  
trưởng cây đơn lẻ  
độ cạnh tranh giữa các cây rừng càng mạnh  
thì tăng trưởng càng chậm. Ở cả 3 cấp mật độ,  
chỉ số cạnh tranh phụ thuộc vào khoảng cách  
hệ số tương quan trung bình cao hơn 1,5 lần  
chỉ số cạnh tranh không phụ thuộc vào khoảng  
cách. Mặt khác, chỉ số cạnh tranh căn cứ vào  
đường kính hệ số tương quan luôn cao hơn chỉ  
số cạnh tranh sử dụng kích thước của tán cây.  
Xét về phương pháp lựa chọn cây cạnh tranh,  
chỉ số cạnh tranh sử dụng phương pháp cố  
định bán kính (M1) và cố định số cây (M2) hệ  
số tương quan luôn cao hơn phương pháp  
khoảng cách thay đổi M3, M4. Tóm lại, kết  
quả cho thấy chỉ số cạnh tranh CI1 với phương  
phương pháp xác định 4 cây lân cận gần nhất  
làm cây cạnh tranh có hệ số tương quan với  
tăng trưởng cây rừng lớn nhất và ổn định ở cả  
ba mật độ nghiên cứu. Vì vậy, chỉ số CI1-M2  
được lựa chọn để xây dựng mô hình tăng  
trưởng cây cá thể.  
Đối với mỗi chỉ số phương pháp xác định  
cây cạnh tranh khác nhau, trong đó chỉ số S, B,  
G sử dụng phương pháp giao tán (M3). Ngoài  
ra, chỉ số CI1, CV lần lượt sử dụng phương  
pháp 4 cây lân cận (M2) và phương pháp hình  
nón (M4) để xác định cây cạnh tranh không  
gian dinh dưỡng. Còn lại 4 chỉ số còn lại (H,  
M, CIa, CIb) sử dụng cả 4 phương phương  
pháp để xác định cây lân cận cạnh tranh, cuối  
cùng thêm 6 chỉ số không phụ thuộc vào  
khoảng cách SMD, CI1, CI3, CI4, GSI và  
GSCI tổng cộng 27 chỉ số cạnh tranh được  
thiết lập. Nghiên cứu tiến hành phân tích  
tương quan để lựa chọn chỉ số cạnh tranh có  
tương quan chặt với tăng trưởng trung bình ở  
định kỳ 5 năm của cây rừng để xây dựng mô  
hình hồi quy. Kết quả phân tích tương quan tại  
bảng 4 cho thấy, tăng trưởng đường kính và  
chỉ số cạnh tranh có mối quan hệ tương quan  
6
The impact of intraspecific competition on tree  
Bảng 4. Hệ số tương quan giữa tăng trưởng đường kính và chỉ số cạnh tranh  
Mật độ  
1.300  
cây/ha  
Mật độ  
500  
cây/ha  
Mật độ  
1.300  
cây/ha  
Mật độ  
900  
Mật độ  
500  
Chỉ số  
CI  
Mật độ  
900 cây/ha  
Chỉ số  
CI  
cây/ha  
-0,244*  
-0,233*  
-0,297**  
-0,352**  
-0,242*  
-0,293**  
-0,178  
0,277**  
0,359**  
-0,176  
-0,183  
-0,393**  
-0,159  
cây/ha  
-0,484**  
-0,497**  
-0,486**  
-0,399**  
-0,239**  
-0,356**  
-0,441**  
0,484**  
0,161  
H-M1  
H-M2  
H-M3  
-0,632**  
-0,606**  
-0,496**  
-0,615**  
-0,601**  
-0,562**  
-0,433**  
-0,437**  
-0,698**  
-0,511**  
-0,480**  
-0,453**  
-0,483**  
-0,526**  
-0,492**  
-0,438**  
-0,376**  
-0,455**  
-0,473**  
-0,447**  
-0,372**  
-0,420**  
-0,679**  
-0,217*  
-0,179  
-0,588** CIb-M2  
-0,625** CIb-M3  
-0,515** CIb-M4  
-0,484**  
-0,408**  
-0,489**  
-0,411**  
-0,240*  
-0,279**  
-0,462**  
0,305**  
0,280**  
-0,009  
H-M4  
-0,541**  
-0,563**  
-0,546**  
B-M3  
S-M3  
G-M3  
M-M1  
M-M2  
M-M3  
M-M4  
CI1-M2  
CIa-M1  
CIa-M2  
CIa-M3  
CIa-M4  
CIb-M1  
-0,494** CV-M4  
-0,513**  
-0,646**  
-0,538**  
-0,416**  
-0,506**  
-0,480**  
-0,550**  
SMD  
CI2  
CI3  
CI4  
GSI  
GSCI  
0,117  
-0,228**  
0,290**  
-0,269**  
-0,148  
0,075  
-0,195*  
-0,283**  
-0,244*  
-0,314**  
Ghi chú: “**” và “*” biểu thị tồn tại ở mức ý nghĩa 0,01 và 0,05.  
Trái ngược với quan điểm trước đây của đoán tăng trưởng cây riêng lẻ phụ thuộc vào  
một số tác giả cho rằng đối với rừng thuần phương pháp xác định cây lân cận và các biến  
loài đều tuổi do điều kiện môi trường tương điều tra được sử dụng trong công thức tính  
đồng thì ưu điểm của chỉ số cạnh tranh phụ toán.  
thuộc khoảng cách không vượt trội hơn với  
Ảnh hưởng của chỉ số cạnh tranh đến sinh  
chỉ số cạnh tranh không phụ thuộc khoảng  
trưởng của P. koraiensis  
cách (Lorimer, 1983; Daniels et al., 1986;  
Kết quả phân tích ảnh hưởng của chỉ số  
cạnh tranh đến các chỉ tiêu sinh trưởng cho  
thấy, đường kính (D), đường kính tán (CR),  
chiều cao dưới cành (HB), thể tích (V) cây và  
tiết diện ngang (G) đều tồn tại quan hệ tuyến  
tính. Ngược lại, chiều cao vút ngọn không tồn  
tại quan hệ với chỉ số cạnh tranh. Sau khi tiến  
hành phân tích hồi quy cho thấy các phương  
trình đều tồn tại và có hệ số tương quan thuận  
rất chặt với chỉ số cạnh tranh. Cụ thể, đường  
Corona & Ferrara, 1989). Kết quả bài báo cho  
thấy, chỉ số cạnh tranh phụ thuộc vào khoảng  
cách và nhân tố cấu thành công thức là đường  
kính có quan hệ tương quan với tăng trưởng  
đường kính cao hơn không phụ thuộc vào  
khoảng cách với nhân tố cấu thành công thức  
là hình thái tán cây. Đường kính là nhân tố dễ  
đo đếm và xác định, mặt khác nó có tương  
quan chặt chẽ với diện tích tán, sinh khối cành  
lá, rễ những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến  
tăng trưởng của cây rừng (Dong et al., 2013),  
vì vậy sử dụng đường kính để xác lập chỉ số  
cạnh tranh là phù hợp. Kết quả này đồng nhất  
với các nghiên cứu của Schroder (2004) và  
Edgaras et al. (2014) cho thấy sự vượt trội khi  
sử dụng vị trí không gian kết hợp với các nhân  
tố điều tra hình thái thân và tán khi miêu tả  
khả năng lợi dụng không gian dinh dưỡng của  
cá thể cây rừng. Tương tự với kết luận của  
kính (R2 = 0,77; F1 = 1261,65; P < 0,0001),  
1
thể tích (R2 = 0,68; F2 =786,34; P < 0,0001),  
2
tiết diện ngang (R2 = 0,73; F3 = 1292,74; P <  
3
0,0001). Trong khi đó kích thước tán, chiều  
cao dưới cành có tương quan tương đối yếu  
với chỉ số cạnh tranh, cụ thể đường kính tán  
(R2 = 0,48; F1 = 346,09; P < 0,0001), chiều  
1
cao dưới cành (R2 = 0,22; F2 = 50,93; P <  
2
0,0001). Chỉ số cạnh tranh tăng, đường kính,  
Freckleton & Watkinson (1999), kết quả của thể tích, tiết diện ngang, kích thước tán của  
nghiên cứu một lần nữa khẳng định mức độ cây có xu hướng giảm, ngược lại chiều cao  
chính xác khi dùng chỉ số cạnh tranh để dự dưới cành có xu hướng tăng lên (hình 1).  
7
Nguyen Thanh Tuan et al.  
-7 -6 -5 -4 -3 -2  
CI  
-7 -6 -5 -4 -3 -2  
CI  
-7 -6 -5 -4 -3 -2  
CI  
-7 -6 -5 -4 -3 -2  
CI  
-7 -6 -5 -4 -3 -2  
CI  
-7 -6 -5 -4 -3 -2  
CI  
Hình 1. Mối quan hệ giữa chỉ số cạnh tranh và các chỉ tiêu sinh trưởng  
Xây dựng mô hình tăng trưởng cây rừng  
tăng trưởng đường kính của các cá thể cây  
rừng trong mô hình (B). Trong khi đó ở  
Tiến hành phân tích hồi quy từng bước phương trình (A) chỉ có biến đường kính giải  
cho phương trình (2), kết quả cuối cùng chọn thích khoảng 72,8% sự biến động, điều đó có  
được 2 mô hình dự đoán tăng trưởng cây cá nghĩa là khi thêm biến CI vào thì hệ số này  
thể, trong đó phương trình (A) không sử dụng tăng lên 4,3% và sự tăng lên này có ý nghĩa  
chỉ số cạnh tranh và phương trình (B) sử dụng thống kê P < 0,001. Mặt khác, phương trình  
chỉ số cạnh tranh. Chỉ số cạnh tranh và đường (B) so với phương trình (A) hệ số RMSE và  
kính giải thích khoảng 77,1% độ dao động AIC giảm đi 7,98% và 9,18% (bảng 5).  
Bảng 5. Mô hình dự đoán tăng trưởng cây cá thể thông Hàn Quốc  
Tham số ước lượng  
Độ tối ưu mô hình  
Mô  
hình  
Loại mô hình  
k0  
k1  
k2  
R2  
RMSE  
AIC  
(A) LnDGI=k0+k1LnD  
(B) LnDGI=k0+k1LnD+k2CI  
-13,267*** 5,067***  
0,728 0,589 537,655  
-8,258*** 2,984*** -0,371*** 0,771 0,542 488,318  
Ghi chú: ***: Biểu thị tồn tại ở mức ý nghĩa (P < 0,001).  
Đồ thị phân tán giữa các phần dư chuẩn định quan hệ tuyến tính được chấp nhận. Tiến  
hóa và giá trị dự đoán chuẩn hóa giúp kiểm tra thêm một bước trong việc kiểm nghiệm độ  
giả định dữ liệu hiện tại có vi phạm giả định chính xác của mô hình tăng trưởng cây rừng  
liên hệ tuyến tính hay không (hình 2). Đồ thị xây dựng có và không có nhân tố CI, nghiên  
cho thấy các giá trị phân dư phân tán ngẫu cứu sử dụng dữ liệu của 76 cây để đánh giá độ  
nhiên trong một vùng giới hạn -1,5 đến 1,5 chính xác cho mô hình (A) và (B). Kết quả  
xung quanh đường hoành độ 0, cho nên giả bảng 6 cho thấy, so với mô hình (A) thì (B) có  
8
The impact of intraspecific competition on tree  
sai số tương đối trung bình khoảng giảm  
khoảng 11%, sai số tuyệt đối trung bình giảm  
từ 22−25%.  
khả năng đối mặt với sự cạnh tranh không  
gian dinh dưỡng của các cây lân cận càng ít.  
Zhang et al. (2005), Zhang et al. (2006), Yu et  
al. (2009) cũng đưa ra kết luận tương tự với  
loài Tsuga longibracteata và Cryptocarya  
concinna. Trước đây chỉ số Hegyi là biến  
quan trọng thường dùng để dự đoán tăng  
trưởng tiết diện ngang, thể tích, sinh khối và  
các chỉ tiêu khác của cây riêng lẻ rừng trồng  
thuần loài P. koraiensis (Shao, 1985; Huang et  
al., 2011; Dong et al., 2013). Kết quả của  
nghiên cứu này cho thấy so với chỉ số Hegyi,  
chỉ số cạnh tranh CI1-M2 càng phù hợp để sử  
dụng mô phỏng tăng trưởng của cây cá thể, do  
dễ đo đếm, tính toán sử dụng, và có tương  
quan chặt chẽ với các chỉ tiêu tăng trưởng.  
Mặt khác, khi đưa chỉ tiêu CI1-M2 vào mô  
hình dự đoán tăng trưởng của đường kính thì  
hệ số tương quan của mô hình tăng lên 6,8%,  
sai số tương đối trung bình khoảng giảm  
khoảng 11% và sai số tuyệt đối trung bình  
giảm từ 22−25%.  
Hình 2. Biểu đồ Scatter giữa phần dư chuẩn  
hóa và giá trị dự đoán  
Chỉ số cạnh tranh có tương quan nghịch  
với đường kính ngang ngực, đường kính tán,  
thể tích và tiết diện ngang thân cây. Nói một  
cách khác, những cây có thân lớn, tán rộng,  
Bảng 6. Kiểm nghiệm mô hình dự đoán tăng trưởng thông Hàn Quốc  
Mô hình Loại mô hình ME MAE ME% MA%E  
LnDGI=ko+k1LnD 0,053 0,545 -10,95  
LnDGI=ko+k1LnD+k2CI1 0,010 0,500 -10,05  
(A)  
(B)  
24,74  
22,70  
KẾT LUẬN  
Lời cảm ơn: Đây là một phần kết quả nghiên  
cứu của đề tài: Kỹ thuật nuôi dưỡng cây gỗ  
lớn rừng trồng thông Hàn Quốc, mã số  
(2017YFD0600601) thuộc chương trình  
nghiên cứu trọng điểm quốc gia của Trung  
Quốc (National Key R&D Program of China).  
Bài báo đã thử nghiệm 27 chỉ số cạnh  
tranh khác nhau để mô phỏng quá trình sinh  
trưởng của rừng trồng thông Hàn Quốc. Kết  
quả chỉ ra rằng, đối với mô hình dự đoán tăng  
trưởng với chỉ số CI1-M2 mang lại kết quả dự  
đoán tốt ưu. Tuy nhiên, cá thể cây rừng trong  
quá trình sinh trưởng chịu ảnh hưởng của rất  
nhiều yếu tố môi trường, nhưng trong nghiên  
cứu này chỉ dựa vào biểu hiện hình thái bên  
ngoài của cây rừng để giải thích mức độ canh  
tranh giữa các cá thể và dự đoán lượng tăng  
trưởng mà chưa đề cập được sự ảnh hưởng  
của những yếu tố trực tiếp đến tăng trưởng  
cây rừng như tốc độ quang hợp, cường độ ánh  
sáng, nhiệt độ, lượng mưa, nhiệt độ… Do vậy,  
để nâng cao độ chính xác của kết quả dự đoán  
thì cần có những nghiên cứu tiếp theo bổ sung  
biến số là các yếu tố môi vào các mô hình  
tăng trưởng.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Bella I. E., 1971. A new competition model  
for individual trees. Forest Science,  
17(17): 364–372.  
Coomes D. A., Allen R. B., 2007. Effects of  
size competition and altitude on tree  
growth. Journal of Ecology, 95 (5):  
1084−1097.  
Corona P, Ferrara A., 1989. Individual  
competition indices for conifer plantations.  
Agriculture, Ecosystems & Environment,  
27 (1-4): 429–443.  
9
Nguyen Thanh Tuan et al.  
Daniels R. F., Burkhart H. E., Clason T. R., Peet R. K., Christense N. L., 1987.  
1986. A comparison of competition  
measures for predicting growth of loblolly  
pine trees. Canadian Journal of Forest  
Research, 16(6): 1230−1237.  
Competitionand tree death. Bioscience,  
37(8): 586−595.  
Perot T, Goreaud F., Ginisty C., 2010. A  
model bridging distance-dependent and  
distance-independent tree models to  
simulate the growth of mixed forests.  
Annals of Forest Science, 67 (5): 501−511.  
Dong L. H., Li F. R., Gu W. W., 2013. Effects  
of tree competition on biomass and  
biomass models of Pinus koraiensis  
plantation. Journal of Beijing Forestry  
University, 35(6): 15−22 [in Chinese].  
Shainsky L., Radosevich S., 1992.  
Mechanisms of competition between  
Douglas-fir andred alder seedlings.  
Ecology, 73(1): 30−45.  
Edgaras L, Andrius K, Heinz R., 2014. The  
impact of Competition for growing space  
on diameter, basal area and height growth  
in pine trees. Baltic forestry, 20(2):  
301−313.  
Shao G. F., 1985. Study on individual tree  
growth model for Korean pine plantations.  
Journal of Northeast Forestry University,  
13(3): 38−46 [in Chinese].  
Freckleton R P, Watkinson A R., 1999. The  
mis-measurement of plant competition.  
Function Ecology, 13(2): 285−287.  
Schroder J., 2004. Modeling of growth and  
competition  
in  
pine/beech  
forest  
Huang X. F., Kang X. G., Sun L., 2011.  
Establishment of Individual Basal Area  
Growth Model of Korean Pine. Journal of  
Northwest Forestry University, 26(3):  
143−146 [in Chinese].  
conversion stands in Northwest Saxony.  
Germany:  
Dresden  
University  
of  
Technology.  
Zhang Q., Hong W., Wu C., 2005. Studies on  
intraspecific and interspecific competition  
in natural communities of Tsuga  
longibracteata. Guangxi Botany, 25(1):  
14−17 [in Chinese].  
Ledermann T., 2010. Evaluating the  
performance of semi distance independent  
competition indices in predicting the basal  
area growth of individual trees. Canadian  
Journal of Forest Research, 40(4):  
796‒805.  
Zhang C., Huang R. L, Li J., 2006.  
Quantitative relationships of intra-and  
interspecific competition in Cryptocarya  
concinna. Chinese Journal of Applied  
Ecology, 17(1): 22−26 [in Chinese].  
Lorimer C. G.,1983. Tests of age-independent  
competition indices for individual trees in  
natural hardwood stands. Forest Ecology  
and Management, 6(4): 343−360.  
Tilman D, 1982. Resource competition and  
community structure. Princeton, NJ:  
Princeton Univ, 296 pp.  
Nguyen, T. T., Tai, D. T., Zhang, P., Razaq,  
M., & Shen, H. L., 2019. Effect of  
thinning intensity on tree growth and  
temporal variation of seed and cone  
Yu H., Yang X. H., Ci L. J., 2009.  
Competition intensity of Mongolian pine  
forests in Hulun Buir sand region of Inter  
Mongolia, China. Chinese Journal of  
Applied Ecology, 20(2): 250−255 [in  
Chinese].  
production in  
a
Pinus koraiensis  
plantation. Journal of Forestry Research,  
30(3): 835−845.  
Nishimura N., Hara T., Miura M., 2002. Tree  
competition andspecies coexistence in a  
warm-temperate old growth evergreen  
broad-leaved forest in Japan. Plant  
Ecology, 164(2): 235−248.  
Zi L. B., Mai M. T., Yang H., 2012. A review  
on competition indices of individual trees.  
Journal of Northwest Forestry University,  
27(6): 152−158 [in Chinese].  
10  
pdf 10 trang yennguyen 12460 Free
Bạn đang xem tài liệu "The impact of intraspecific competition on tree growth in planted Korean pine forest", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthe_impact_of_intraspecific_competition_on_tree_growth_in_pl.pdf