Thực trạng và giải pháp cho quản lý rừng dựa vào cộng đồng tại xã Đạ Tông, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

Lâm học  
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHO QUẢN LÝ RỪNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG  
TẠI XÃ ĐẠ TÔNG, HUYỆN ĐAM RÔNG, TỈNH LÂM ĐỒNG  
Trần Việt Hà1, Nguyễn Trọng Mận2, Phạm Thị Quỳnh1  
1Trường Đại học Lâm nghiệp  
2Ban Quản lý rừng phòng hộ Sêrêpôk  
TÓM TẮT  
Sự tham gia của người dân vào hoạt động quản lý rừng dựa vào cộng đồng (QLRDVCĐ) đóng vai trò cực kỳ  
quan trọng trong công tác bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt đối với những địa phương có diện tích rừng tự  
nhiên lớn và có nhiều đồng bào dân tộc ít người như xã Đạ Tông, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng. Kết quả  
đánh giá thực trạng quản lý rừng dựa vào cộng đồng tại xã Đạ Tông cho thấy: Sự tham gia của người dân và  
cộng đồng vào công tác quản lý rừng (QLR) ở địa bàn xã Đạ Tông phổ biến ở 2 hình thức đó là đóng góp lao  
động và chia sẻ trách nhiệm; Mức độ của sự tham gia là do tác động của thuyết phục, giáo dục mà có. Kết quả  
nghiên cứu cũng chỉ ra rằng QLRDVCĐ đã tạo được nguồn sinh kế cho các hộ gia đình, đặc biệt là với nhóm  
hộ nghèo, thu nhập từ khoán bảo vệ rừng chiếm tới 54% so với tổng thu nhập của các hộ gia đình thuộc nhóm  
này. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy cơ chế chính sách thiếu đồng bộ, sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích  
và trình độ nhận thức hạn chế của người dân địa phương đang là những cản trở chính đối với sự tham gia của  
người dân vào QLR tại địa bàn nghiên cứu. Do vậy, xác lập rõ ràng quyền sử dụng đất và nghĩa vụ của chủ  
rừng; xây dựng cơ chế đặc thù của địa phương để khuyến khích các chủ rừng tăng cường cung ứng các dịch vụ  
công cộng; đẩy mạnh sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp, chính quyền địa phương  
và cộng đồng là những giải pháp ưu tiên hàng đầu để thu hút sự tham gia của người dân vào QLR.  
Từ khóa: Huyện Đam Rông, lâm nghiệp cộng đồng, quản lý rừng cộng đồng, xã Đạ Tông.  
trọng. Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác  
bảo về rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn xã  
Đạ Tông, các cơ quan quản lý rừng phòng hộ  
và rừng đặc dụng đã thực hiện nhiều giải pháp  
lôi kéo sự tham gia của cộng đồng vào QLR,  
đặc biệt là đã triển khai khoán bảo vệ rừng cho  
cộng đồng.  
Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu  
thực trạng quản lý rừng dựa vào cộng đồng tại  
xã Đạ Tông làm cơ sở để đề xuất một số giải  
pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý bền  
vững tài nguyên rừng và phát triển sinh kế tại  
địa phương.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Thực tế cho thấy tại Việt Nam thì cộng  
đồng dân cư là đối tượng thích hợp để quản lý  
các diện tích rừng phòng hộ xa dân cư nơi mà  
các tổ chức, cơ quan Nhà nước gặp khó khăn  
trong các hoạt động quản lý bảo vệ rừng. Điểm  
tích cực của hình thức quản lý rừng này thể  
hiện ở sự tham gia có hiệu quả của cộng đồng  
vào các hoạt động quản lý bảo vệ những diện  
tích rừng không thuộc quyền sử dụng của họ  
(Nguyễn Hồng Quân và cộng sự, 2015). Trong  
thời gian qua, một số diện tích rừng đã được  
Nhà nước thử nghiệm giao cho cộng đồng  
thôn, buôn quản lý đều thu được kết quả tốt,  
chất lượng rừng ngày càng được nâng lên rõ  
rệt. Do đó, QLRDVCĐ đang trở thành phương  
thức quản lý rừng có hiệu quả được quan tâm,  
khuyến khích phát triển (Trần Việt Hà và cộng  
sự, 2015).  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Đối tượng  
Hoạt động quản lý rừng dựa vào cộng đồng  
trên địa bàn xã Đạ Tông, huyện Đam Rông,  
tỉnh Lâm Đồng.  
2.2. Nội dung  
Xã Đạ Tông, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm  
Đồng là nơi đồng bào các dân tộc Chil;  
M`Nông và người Kinh sinh sống xen kẽ, đây  
còn là khu vực tiếp giáp với rừng phòng hộ đầu  
nguồn Sêrêpôk và VQG Bidoup Núi Bà. Vì  
vậy, sự tham gia của người dân vào các hoạt  
động QLR, là vấn đề khá nhạy cảm và quan  
- Thực trạng công tác QLRDVCĐ tại xã Đạ  
Tông;  
- Sự tham gia của người dân vào  
QLRDVCĐ tại xã Đạ Tông;  
- Thuận lợi và khó khăn trong phát triển  
QLRDVCĐ tại xã Đạ Tông.  
2.3. Phương pháp nghiên cứu  
44  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020  
Lâm học  
a. Tổng hợp và phân tích tài liệu thứ cấp:  
Kế thừa các nguồn tài liệu tại địa phương,  
các kết quả đã có trước đây của các công trình  
khoa học trên cơ sở phân tích có chọn lọc,  
gồm: các tài liệu về điều kiện tự nhiên, dân  
sinh kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu;  
những kết quả nghiên cứu đã công bố về lâm  
nghiệp cộng đồng tại khu vực nghiên cứu; các  
báo cáo kết quả hoạt động QLR của các  
chương trình, dự án và các cơ quan quản lý  
lâm nghiệp tại địa phương.  
về tình hình sử dụng đất đai, quản lý tài  
nguyên rừng tại địa phương; các chủ trương,  
chính sách, chương trình, dự án liên quan đến  
QLR của chính quyền cơ sở; Các hình thức  
QLRDVCĐ đã và đang triển khai; Vai trò của  
người dân và cộng đồng trong các hoạt động  
QLRDVCĐ; Đánh giá hiệu quả các hoạt động  
QLRDVCĐ tại địa phương.  
Thảo luận nhóm: Mỗi nhóm thảo luận gồm  
từ 5 - 7 người, có tuổi đời từ 25 đến 60 tuổi, là  
những người có uy tín trong cộng đồng và có  
kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất nông, lâm  
nghiệp. Mỗi thôn điểm tiến hành 1 cuộc thảo  
luận nhóm. Nội dung thảo luận bao gồm: Các  
qui ước, thể chế của địa phương liên quan đến  
quản lý tài nguyên rừng và sự ảnh hưởng của  
chúng tới việc ra quyết định của người dân và  
cộng đồng; Các kiến thức địa phương và kinh  
nghiệm liên quan đến QLR; Các giải pháp tiềm  
năng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động  
QLRDVCĐ tại địa phương.  
b. Phương pháp thu thập thông tin hiện  
trường:  
Số liệu điều tra được thu thập tại 3 thôn (Mê  
Ka, Đa Nhinh 1, Đa Nhinh 2) dựa vào tiêu chí  
chọn thôn điểm bao gồm: (i)- khu vực tiếp giáp  
với rừng phòng hộ đầu nguồn Sêrêpôk; (ii)-  
Đại diện cho các nhóm dân tộc thiểu số đặc  
trưngở địa phương; (iii)- Có các hộ gia đình  
tham gia thực hiện các hoạt động quản lý rừng.  
Phỏng vấn hộ gia đình: Sử dụng công cụ  
phân loại hộ gia đình (Lê Hưng Quốc và công  
sự, 1998) chia toàn thể các hộ thành 3 nhóm  
(nghèo, trung bình, khá). Với mỗi nhóm hộ,  
lập danh sách các hộ gia đình có tham gia các  
hoạt động QLRDVCĐ, sau đó chọn ngẫu nhiên  
3 - 5 hộ để phỏng vấn.  
Phỏng vấn cá nhân: Sử dụng phương pháp  
phỏng vấn bán định hướng, áp dụng với 2  
nhóm đối tượng: Nhóm 1 gồm 3 - 5 cá nhân là  
cán bộ của Ban QLRPH đầu nguồn Sêrêpôk,  
nhóm 2 gồm các cá nhân là cán bộ xã (2  
người) và cán bộ thôn bản (mỗi thôn 2 người).  
Nội dung phỏng vấn gồm: Các thông tin chung  
c. Phương pháp xử lý số liệu:  
Thông tin thu thập được được phân loại và  
tổng hợp bằng phương pháp thống kê thông  
dụng trên phần mềm Excel 2017. Kết quả xử lý  
thông tin được thể hiện ở dạng liệt kê, mô tả và  
mô phỏng bằng biểu đồ, hình ảnh và bảng.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Thực trạng công tác quản lý rừng dựa  
vào cộng đồng tại xã Đạ Tông  
3.1.1. Các hình thức QLRDVCĐ tại xã Đạ  
Tông  
Số liệu chi tiết về diện tích rừng tại địa bàn  
xã Đạ Tông được trình bày tại bảng 1.  
Bảng 1. Diện tích rừng phân theo chủ thể quản lý tại xã Đạ Tông  
Diện tích các loại rừng (ha)  
Tổng  
TT  
Chủ rừng  
diện tích  
(ha)  
1.080,00  
10.630,94  
462,06  
Rừng  
đặc dụng  
1.080,00  
Rừng  
phòng hộ  
0
8.016,62  
351,38  
Rừng  
sản xuất  
0
2.614,32  
110,68  
1
2
3
Vườn Quốc gia Bidoup Núi Bà  
Ban QLRPH Sêrêpôk  
Doanh nghiệp (05DN)  
0
0
Tổng  
12.173,00  
1.080,00  
8.368,00  
2.725,00  
Nguồn: Hạt Kiểm lâm huyện Đam Rông (2017)  
Kết quả tại bảng 1 cho thấy toàn bộ diện  
tích rừng trên địa bàn xã Đạ Tông là 12.173,00  
ha, chia theo mục đích sử dụng gồm 1.080,00  
ha rừng đặc dụng; 8.368,00 ha rừng phòng hộ  
và 2.725,00 ha rừng sản xuất. Các diện tích  
rừng kể trên hiện đang thuộc quyền quản lý  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020  
45  
Lâm học  
của 02 nhóm chủ rừng gồm các chủ rừng là tổ  
chức nhà nước và nhóm chủ rừng là các doanh  
nghiệp. Cộng đồng dân cư thôn và các hộ gia  
đình không phải là đối tượng được giao rừng  
để quản lý, ngoài những diện tích đất lâm  
nghiệp hiện đang sử dụng để trồng Cà phê.  
Thực tế cho thấy các hộ gia đình ở xã Đạ  
Tông đang tham gia vào công tác quản lý rừng  
(QLR) dưới các hình thức khác nhau, nhưng về  
cơ bản thì họ chỉ tham gia vào QLR của các  
đơn vị chủ rừng khác thông qua các hợp đồng  
thuê nhân công hoặc khoán bảo vệ rừng. Các  
đơn vị chủ rừng gồm Vườn Quốc gia Bidoup  
Núi Bà; Ban QLRPH Sêrêpôk và các doanh  
nghiệp đã tiến hành khoán bảo vệ rừng cho các  
nhóm hộ gia đình dưới hình thức ký hợp đồng  
thỏa thuận giữa bên chủ rừng và bên nhận  
khoán, thời hạn hợp đồng là 01 năm và thanh  
toán tiền công theo quý.  
3.1.2. Kết quả các hoạt động quản lý rừng tại  
xã Đạ Tông  
Đam Rông là một trong những huyện là điểm  
nóng về vi phạm luật BV&PTR. Tình trạng phá  
rừng, lấn chiếm đất và đốt rẫy gây cháy rừng vẫn  
diễn ra thường xuyên, gây nhiều khó khăn trong  
công tác quản lý Nhà nước về lâm nghiệp. Diễn  
biến tình hình phá rừng và làm cháy rừng tại xã  
Đạ Tông giai đoạn 2015 - 2018 được trình bày  
tại hình 1.  
Hình 1. Diễn biến tình hình phá và làm cháy rừng tại xã Đạ Tông giai đoạn 2015 – 2018  
Kết quả cho thấy tình trạng vi phạm Luật  
BV&PTR tại Đạ Tông phổ biến ở các hành vi  
phá rừng, khai thác trái phép và làm cháy rừng.  
Đặc biệt là tình trạng phá rừng, trong những  
năm qua vẫn diễn ra thường xuyên, cá biệt là  
năm 2016 trên địa bàn xã đã để xảy ra 17 vụ  
phá rừng, gây thiệt hại 9,04 ha rừng, với 13,65  
m3 lâm sản bị phát hiện. Tình trạng khai thác  
trái phép trong hai năm trở lại đây cũng có  
chiều hướng gia tăng về mức độ thiệt hại lâm  
sản, năm 2018 đã phát hiện 15,93 m3 lâm sản  
bị khai thác trộm mặc dù số vụ vi phạm có  
giảm nhẹ. Tình trạng gây cháy rừng gồm cả có  
chủ ý và vô ý vẫn diễn ra hàng năm và chưa có  
dấu hiệu thuyên giảm. Năm 2017 đã để xảy ra  
2 vụ cháy rừng, thiệt hại lên tới 17,93 ha rừng.  
3.1.3. Thu nhập của người dân từ QLRDVCĐ  
Nghiên cứu đã điều tra thu nhập của các hộ  
dân tham gia nhận khoán bảo vệ rừng tại 3  
thôn: Mê Ka, Đa Nhinh 1, Đa Nhinh 2 theo 3  
đối tượng khá, trung bình và nghèo. Kết quả  
xác định tỷ lệ thu nhập trung bình theo cơ cấu  
nguồn thu được trình bày tại hình 2.  
Kết quả cho thấy cơ cấu thu nhập ở các  
nhóm hộ phân theo khả năng kinh tế ở các thôn  
có sự khác biệt. Các nhóm hộ nghèo và trung  
bình chỉ có 2 nguồn thu nhập chính là thu từ  
trồng Cà phê và nguồn nhận khoán bảo vệ  
rừng. Trong khi đó nhóm hộ khá lại có các  
nguồn thu nhập khác bao gồm trồng trọt, kinh  
doanh, buôn bán, tiền lương, dịch vụ... ngoài  
hai nguồn thu kể trên.  
Cơ cấu thu nhập từ nguồn khoán bảo vệ  
rừng có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm hộ  
46  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020  
Lâm học  
nghiên cứu. Cụ thể: Đối với nhóm hộ khá,  
nguồn thu từ nhận khoán bảo vệ rừng chỉ  
chiếm 11% tổng thu nhập, trong khi đó con số  
này tăng lên 34% đối với nhóm hộ trung bình  
và đạt tới 54% đối với nhóm hộ nghèo. Như  
vậy, đối với nhóm hộ nghèo nguồn thu nhập từ  
nhận khoán bảo vệ rừng có vai trò hết sức quan  
trọng trong việc duy trì cuộc sống.  
Hình 2. Cơ cấu thu nhập trung bình của nhóm hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng  
(Ghi chú: Các khoản thu nhập khác bao gồm dịch vụ, kinh doanh buôn bán,  
tiền lương hàng tháng)  
HGĐ, các chủ rừng đã phối hợp với các cơ  
quan chuyên trách và chính quyền địa phương  
xây dựng các Tổ BVR để hình thành lên một  
lực lượng QLBVR tại địa phương.  
3.2. Sự tham gia của người dân vào  
QLRDVCĐ  
3.2.1. Hình thức tham gia của người dân vào  
QLRDVCĐ  
Trên địa bàn xã Đạ Tông hiện các đơn vị chủ  
rừng đang quản lý một diện tích rừng rất lớn,  
phân bố chủ yếu ở các vùng sâu, vùng xa, lại  
chưa có mốc ranh giới rõ ràng nên việc tổ chức  
hình thức QLRDVCĐ là phù hợp và có tiềm  
năng phát triển tốt. Tuy nhiên, hình thức và mức  
độ tham gia của người dân vào QLR ở các đơn  
vị chủ rừng khác nhau là không giống nhau. Kết  
quả điều ra sự tham gia của người dân trong các  
hoạt động quản lý rừng của các đơn vị được  
trình bày tại bảng 2.  
Đối với VQG Bidoup Núi Bà và Ban  
QLRPH Sêrêpôk thì các hộ gia đình và cộng  
đồng đang tham gia dưới 2 hình thức phổ biến.  
Thứ nhất là cung cấp nhân công theo hợp đồng  
thời vụ; thứ hai là tham gia nhận khoán BVR  
với các đơn vị chủ rừng thông qua hợp đồng  
thuê khoán, với vai trò là bên cung cấp nhân  
công. Tuy nhiên, về cách tổ chức thực hiện  
nhiệm vụ thì ngoài việc khoán BVR cho các  
Kết quả phỏng vấn cho thấy các thành viên  
của Tổ BVR được tập huấn nghiệp vụ, tham  
gia vào việc lập kế hoạch với sự hướng dẫn  
của cán bộ Kiểm lâm và cùng các cán bộ địa  
phương và Kiểm lâm viên triển khai các hoạt  
động tại hiện trường. Do đó có thể sơ bộ đánh  
giá rằng các HGĐ người dân ở Đạ Tông tham  
gia vào QLR với hình thức đóng góp lao động  
và chia sẻ trách nhiệm.  
Các doanh nghiệp đang quản lý rừng trên  
địa bàn hoạt động cũng giống như với các đơn  
vị chủ rừng là tổ chức Nhà nước. Người dân  
cũng đang tham gia vào các hoạt động bảo vệ,  
phòng cháy chữa cháy và trồng rừng của các  
doanh nghiệp. Tuy nhiên về cách tổ chức hoạt  
động thì có sự khác biệt. Với các doanh nghiệp  
thì người dân đơn thuần là bên cung cấp lao  
động theo hợp đồng thời vụ.  
Tóm lại, với sự phân chia hình thức của sự  
tham gia dựa trên sự đóng góp của người dân  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020  
47  
Lâm học  
thành 4 loại gồm: 1) Đóng góp lao động; 2)  
Chia sẻ chi phí; 3) Chia sẻ trách nhiệm và 4)  
Chia sẻ quyền quyết định thì sự tham gia của  
người dân và cộng đồng vào công tác QLR ở  
địa bàn xã Đạ Tông phổ biến ở 2 hình thức đó  
là: 1) Đóng góp lao động và 2) Chia sẻ trách  
nhiệm.  
Bảng 2. Sự tham gia của người dân trong các hoạt động quản lý rừng  
VQG Bidoup Núi Bà và  
Ban QLRPH Sêrêpôk  
Doanh nghiệp  
Hoạt động  
Sự tham gia của  
người dân và  
cộng đồng  
Sự tham gia của  
người dân và  
cộng đồng  
Cách thức tổ chức  
hoạt động  
Cách thức tổ  
chức hoạt động  
Bảo vệ rừng  
- Tuần tra, kiểm tra - Chủ rừng giao khoán - Tuần tra, kiểm - Doanh nghiệp  
BVR. BVR cho các nhóm hộ tra BVR. thuê nhân công  
- Phát hiện, ngăn theo hợp đồng và trả - Phát hiện, ngăn theo hợp đồng.  
chặn, báo cáo các lương theo quí. chặn, báo cáo các  
hành vi vi phạm luật - Tổ chức các nhóm hành vi vi phạm  
BV & PTR. BVR để phối hợp Luật BV & PTR.  
- Tham gia giải tỏa cùng triển khai hoạt  
các diện tích đât lâm động với các lực  
nghiệp bị lấn chiếm; lượng chức năng khác.  
các vị trí khai thác  
khoáng sản trái phép.  
Phòng chống  
cháy rừng  
- Nhận khoán xây - Hợp đồng thuê nhân - Tham gia chữa - Doanh nghiệp  
dựng Pa Nô tuyên công theo tổ, nhóm, cá cháy rừng.  
truyền; làm đường nhân.  
huy động nhân  
công theo thời vụ.  
PCCCR, làm chòi - Tập huấn kỹ thuật  
canh lửa, thu gom cho người dân.  
vật liệu cháy.  
- Chữa cháy rừng.  
- Chủ rừng giám sát  
thi công và nghiệm thu  
công trình.  
Trồng rừng  
- Cung cấp nhân - Khoán gọn theo diện - Cung cấp nhân - Giao khoán cho  
công để thực hiện tích cho người dân. công để thực hiện người dân.  
các công trình lâm - Chủ rừng cung cấp các công trình lâm - Cung cấp cây  
sinh. cây giống và hướng sinh. giống, vật tư và  
- Nhận khoán chăm dẫn kỹ thuật. Nhận khoán thiết bị.  
sóc rừng trồng 3 năm - Chủ rừng giám sát chăm sóc rừng - Hướng dẫn kỹ  
-
đầu.  
thi công và nghiệm thu trồng 3 năm đầu.  
thuật, giám sát và  
- Nhận khoán BVR công trình.  
mới trồng.  
-
Nhận khoán nghiệm thu công  
BVR mới trồng.  
trình.  
thành 5 cấp khác nhau từ thấp lên cao, cụ thể  
như sau: (1) -Tham gia vì nghĩa vụ mang tính  
hành chính; (2) - Tham gia từ động lực lợi ích  
trước mắt; (3) - Tham gia do thuyết phục, giáo  
dục; (4) - Tham gia do nhu cầu học tập và (5) -  
Tham gia do nhu cầu hợp tác.  
Nếu áp dụng cách phân chia kể trên thì mức  
độ tham gia của người dân Đạ Tông vào QLR  
đang ở mức độ thấp, cụ thể là tham gia từ động  
lực lợi ích trước mắt (động lực tài chính) vì rõ  
3.2.2. Mức độ tham gia của người dân vào  
QLRDVCĐ  
Mức độ tham gia có thể được đánh giá ở các  
cấp độ khác nhau. Việc đánh giá này thường  
dựa trên mức độ kiểm soát của người trong  
cộng đồng, tiềm lực để hành động và quyền sở  
hữu của người trong trong cộng đồng trước  
những vấn đề về quản lý tài nguyên nói chung  
(Nguyễn Bá Ngãi và cộng sự, 2005). Dựa trên  
cách đánh giá đó có thể chia mức độ tham gia  
48  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020  
Lâm học  
ràng rằng các HGD nhận khoán BVR chắc  
chắn phải đặt ra yêu cầu về số tiền nhận được  
từ các hợp đồng nhận khoán và trước khi tham  
những hoạt động QLR sẽ đặt ra yêu cầu được  
hưởng lợi ích gì.  
chú trọng nên khi giải toả đất lâm nghiệp của các  
hộ dân phá rừng, lấn chiếm đất rừng để sản xuất  
đều được diễn ra theo kế hoạch, các hộ đều tự  
nguyện trả lại đất cho nhà nước để trồng lại rừng  
mà không có phản ứng hay chống đối lực lượng  
giải tỏa.  
b. Sự hỗ trợ mạnh mẽ từ các tổ chức cộng đồng:  
QLRDVCĐ phải lấy các tổ chức cộng đồng  
làm nòng cốt, hiện tại ở từng thôn đã có những tổ  
chức cộng đồng sẵn có, phát huy được vai trò  
của các tổ chức này đã đem lại nhiều thuận lợi  
cho công tác QLR ở địa phương. Chi tiết về vai  
trò của các tổ chức cộng đồng liên quan đến  
QLR ở cấp thôn cụ thể như sau:  
Già làng: trong các thôn ở Đạ Tông đều có  
Già làng hay Trưởng làng là người đứng đầu bộ  
máy tự quản của mỗi làng. Già làng là người  
có uy tín nhất trong làng nên tiếng nói của Già  
làng rất có giá trị trong điều hành công việc  
chung của làng và đặc biệt là trong việc xây  
dựng, tuyên truyền và vận dụng Qui ước,  
hương ước BVR của các thôn.  
Cũng có thể đặt vấn đề rằng sự tham gia của  
người dân và cộng đồng chịu nhiều ảnh hưởng  
của công tác vận động, tuyên truyền về pháp  
luật của Nhà nước liên quan đến BV&PTR,  
cũng như ảnh hưởng từ các qui định trong Qui  
ước cộng đồng về BVR. Kết quả này tương  
đồng với nhận định của tác giả Nguyễn Thị  
Phương (2003). Đây có thể coi là mức độ tham  
gia do thuyết phục, giáo dục là cấp độ tham gia  
cao hơn so với tham gia từ động lực tài chính  
trước mắt, những người tham gia được học tập,  
tuyên truyền về lợi ích nhiều mặt của rừng vai  
trò của chính họ trong công tác QLBV, từ đó  
nhận thức của họ về vai trò và trách nhiệm của  
mình đối với rừng và với cộng đồng ngày một  
nâng cao.  
3.3. Tiềm năng phát triển QLRDVCĐ  
Trưởng thôn: Trưởng thôn là người đại  
diện, chịu trách nhiệm với chính quyền địa  
phương trực tiếp quản lý các vấn đề về hành  
chính trong thôn, được tham gia các khóa tập  
huấn về chuyên môn, nghiệp vụ liên quan đến  
QLBVR. Trưởng thôn là người tham gia và các  
hoạt động tổ chức, thực hiện và giám sát toàn  
bộ các hoạt động BVR, tuyên truyền giáo dục  
pháp luật, xây dựng các tổ BVR, vận động  
quần chúng nhân dân tham gia PCCCR…  
trong địa bàn của thôn mình.  
Trưởng họ: là người đứng đầu mỗi dòng họ,  
chịu trách nhiệm quản lý gia đình, dòng họ,  
tham gia hòa giải các mâu thuẩn, trong dòng  
họ, đưa ra quyết định xử phạt, răn đe trong  
dòng họ khi có thành viên sai phạm. Đây là  
người có uy tín nhất đại diện cho một nhóm  
người có huyết thống gần nhau, rất thích hợp  
để làm trưởng các Tổ BVR.  
3.3.1. Thuận lợi trong QLRDVCĐ tại xã  
Đạ Tông  
a. Sự quan tâm của chính quyền địa phương:  
Hàng năm Đảng ủy xã đã xây dựng Nghị  
quyết chuyên đề về công tác QLBVR và tài  
nguyên khoáng sản, trên cơ sở đó UBND xã đã  
xây dựng được Phương án bảo vệ rừng cụ thể  
làm căn cứ thực hiện; thường xuyên chỉ đạo ban  
lâm nghiệp xã phối hợp với các chủ rừng, các  
ban ngành tăng cường tuần tra, kiểm tra truy  
quét, đặc biệt là các khu vực trọng điểm như các  
tiểu khu 67, 72, 105, 106, 108 và 109. Kiên  
quyết thu hồi diện tích rừng bị phá, lấn chiếm để  
tổ chức trồng lại rừng hoặc xúc tiến tái sinh tự  
nhiên. Đối với khu vực giáp ranh với huyện Lạc  
Dương, tỉnh Đắc Lắc đã thường xuyên bố trí lực  
lượng QLK BVR để tuần tra, canh gác nhằm  
phát hiện các hành vi xâm hại rừng của những kẻ  
lợi dụng khu vực giáp ranh.  
Chính quyền địa phương và các chủ rừng đã  
thực hiện tốt công tác rà soát, bình bầu đối với  
các hộ được nhận khoán BVR, chú trọng tới các  
đối tượng là hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đồng  
bào dân tộc thiểu số, công tác tuyên truyền được  
Tổ trưởng Tổ BVR: Tổ trưởng là người vừa  
trực tiếp tham gia công tác BVR, vừa chịu  
trách nhiệm quản lý tổ viên, điều động, phân  
công, sắp xếp tổ viên theo yêu cầu công việc,  
tham mưu, đề xuất cho chính quyền và chủ  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020  
49  
Lâm học  
rừng về nhu cầu nhận khoán, thanh lý hợp  
đồng và các vấn đề về BVR.  
và sự nỗ lực hơn nữa của các bên liên quan  
trong cơ chế cùng tham gia QLR.  
Các tổ chức đoàn thể như: Hội cựu chiến  
binh; Hội phụ nữ; Đoàn thanh niên: là những  
lực lượng đi tiên phong trong các hoạt động  
PCCCR và là lực lượng bổ sung cho các Tổ  
BVR.  
3.3.2. Các khó khăn trong QLRDVCĐ tại xã  
Đạ Tông  
a. Cơ chế chính sách thiếu đồng bộ  
Do sự bất cập trong chủ trương giao đất,  
giao rừng trong thời gian trước và hiện tại cơ  
chế bồi thường khi thu hồi rừng và đất rừng đã  
giao chưa rõ ràng nên việc điều chỉnh giấy  
chứng nhận quyền sử dụng đất của các đơn vị  
chủ rừng tại khu vực nghiên cứu chưa được  
thực hiện kịp thời, hợp lý, dẫn đến sự chồng  
lấn giữa đất của các HGĐ và của chủ rừng  
khác. Mặt khác, việc cắm mốc ranh giới phân  
định giữa diện tích của VQG, Ban QLRPH với  
đất của công đồng dân cư chưa được thực hiện  
do chưa bố trí được kinh phí nên đã tạo kẽ hở  
cho một số đối tượng lấn chiếm đất.  
Việc thu hút cộng đồng dân cư tham gia  
QLR trên thực tế vẫn còn gặp rất nhiều khó  
khăn và vướng mắc về cách làm, về cơ chế,  
chính sách cũng như hiệu quả thực tế của  
những mô hình lâm nghiệp cộng đồng chưa rõ  
ràng, đòi hỏi sự hoàn thiện hơn về chính sách  
Nguồn kinh phí phục vụ cho các hoạt động  
QLRDVCĐ đang chủ yếu phụ thuộc vào  
nguồn ngân sách nhà nước hàng năm. Các  
nguồn thu khác thường chỉ đủ chi phục vụ cho  
hoạt động bộ máy và hoạt động chuyên môn,  
không thể đủ để phục vụ cho những hoạt động  
xây dựng cơ bản, di dân hoặc đền bù để giải  
quyết chồng lấn... làm ảnh hưởng không nhỏ  
đến các hoạt động BV&PTR.  
b. Sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích  
Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất để  
phát triển các diện tích trồng Cà phê được cho  
là vấn đề nhạy cảm và có chiều hướng diễn  
biến phức tạp ở các xã trong huyện Đam Rông  
nói chung và ở Đạ Tông nói riêng.  
Các HGĐ đang sử dụng toàn bộ cả diện tích  
đất lâm nghiệp và đất nông nghiệp để trồng Cà  
phê. Như vậy, rõ ràng là đã có sự thay đổi về  
bản chất mục đích sử dụng đất ở Đạ Tông.  
Trước sức hấp dẫn của cây Cà phê thì việc mở  
rộng diện tích trồng trọt của các HGD là  
nguyên nhân chính dẫn đến các hành động phá  
rừng và lấn chiếm đất của các đơn vị chủ rừng  
trên địa bàn nghiên cứu.  
c. Trình độ nhận thức của người dân hạn chế  
Kết quả phỏng vấn về trình độ văn hóa của  
người dân Đạ Tông được thống kê ở bảng 3.  
Bảng 3. Thống kê trình độ văn hóa của người dân tại các thôn là điểm nghiên cứu  
Thôn  
Thôn  
Thôn  
Đa Nhinh 1  
Đa Nhinh 2  
Mê Ka  
Trình độ văn hóa  
Mù chữ  
Số  
Tỷ lệ  
(%)  
Số  
Tỷ lệ  
(%)  
Số  
Tỷ lệ  
(%)  
người  
260  
39  
người  
180  
20  
người  
180  
21  
76,69  
11,51  
6,49  
5,31  
100  
78,26  
8,70  
6,08  
6,96  
100  
76,92  
8,98  
6,41  
7,69  
100  
Tiểu học  
Trung học cơ sở  
Trung học phổ thông  
Tổng  
22  
18  
14  
16  
15  
18  
234  
339  
230  
Từ số liệu ở bảng 3 cho thấy tỷ lệ mù chữ ở  
khu vực nghiên cứu đặc biệt cao, chiếm tỷ lệ từ  
76,69 (thôn Đa Nhinh 1) đến 78,26 (thôn Đa  
Nhinh 2), trong khi đó số người có trình độ  
trung học phổ thông chỉ đạt từ 5,31% (thôn Đa  
Nhinh 1) đến 7,69% (thôn Mê Ka), còn lại là  
trình độ tiểu học và trung học cơ sở. Do trình độ  
văn hóa thấp nên việc tiếp cận với tiến bộ khoa  
học gặp nhiều hạn chế dẫn đến tình trạng canh  
tác lạc hậu, đói ngèo làm giảm động lực tham  
gia bảo vệ rừng của người dân trong khu vực.  
Nhận thức về vai trò của rừng thấp, không ý  
thức được giá trị của tài nguyên thiên nhiên  
dẫn đến các hành vi phá rừng rất nguy hiểm và  
nghiêm trọng, điển hình là hiện tượng người  
dân ken, khoanh gốc cây làm cây chết đứng rất  
50  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020  
Lâm học  
nhanh nhưng lại rất khó phát hiện để bắt quả  
tang đối tượng vi phạm. Việc sử dụng hóa chất  
tràn lan để diệt cây, cỏ làm giảm khả năng tái  
sinh của rừng và ảnh hưởng đến môi trường  
sinh thái là những điểm yếu ảnh hưởng nghiêm  
trọng tới ĐDSH và QLRBV.  
Đạ Tông đã hình thành lên một lực lượng  
QLR. Cơ cấu tổ chức bộ máy để thực hiện  
nhiệm vụ QLR trên địa bàn nghiên cứu. Sự  
tham gia của người dân và cộng đồng vào công  
tác QLR ở địa bàn xã Đạ Tông phổ biến ở 2  
hình thức đó là đóng góp lao động và chia sẻ  
trách nhiệm, ở mức độ của sự tham gia là do  
tác động của thuyết phục, giáo dục mà có.  
QLRDVCĐ đã tạo được nguồn sinh kế cho  
các HGĐ. Trong cơ cấu thu nhập của các  
nhóm HGĐ, ngoài nguồn thu chính từ Cà phê  
thì thu nhập từ khoán BVR cũng có tỷ trọng  
lớn. Đặc biệt thu nhập từ khoán BVR có ảnh  
hưởng mạnh nhất đối với các HGĐ nhóm  
nghèo, chiếm tỷ trọng tới 54% trong cơ cấu thu  
nhập của các HGĐ nhóm này.  
Cơ chế chính sách thiếu đồng bộ, sử dụng  
đất lâm nghiệp sai mục đích và trình độ nhận  
thức hạn chế của người dân đang là những hạn  
chế gây nhiều cản trở đối với sự tham gia của  
người dân vào QLR ở địa bàn nghiên cứu. Vì  
vậy, xác lập rõ ràng quyền sử dụng đất và  
nghĩa vụ của chủ rừng để tạo hành lang pháp  
lý; xây dựng cơ chế đặc thù của địa phương để  
khuyến khích các chủ rừng tăng cường cung  
ứng các dịch vụ công cộng; đẩy mạnh sự phối  
hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về lâm  
nghiệp, chính quyền địa phương và cộng đồng  
là những giải pháp ưu tiên hàng đầu để thu hút  
sự tham gia của người dân vào QLR.  
3.3.3. Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy tiềm  
năng QLRDVCĐ  
Trên cơ sở các kết quả thu được từ thực trạng  
QLRDVCĐ tại xã Đạ Tông, nghiên cứu đề xuất  
một số giải pháp thúc đẩy sự tham gia của  
người dân vào QLRDVCĐ tại khu vực như sau:  
- Xây dựng cơ chế khuyến khích cho cả hai  
phía, dựa trên nguyên tắc cùng có lợi, cụ thể là  
nếu chủ rừng tích cực phối hợp với cộng đồng để  
cùng quản lý rừng thì rừng của họ sẻ được bảo  
vệ rừng hiệu quả hơn, trong khi đó nếu cộng  
đồng hưởng ứng tích cực và tham gia các hoạt  
động quản lý rừng cùng với chủ rừng sẽ đem lại  
nguồn thu nhập ổn định và có cơ hội phát triển  
sinh kế dựa vào dịch vụ môi trường rừng.  
- Có cơ chế đặc thù của địa phương để  
khuyến khích các chủ rừng tăng cường cung  
ứng các dịch vụ công cộng như du lịch sinh  
thái, nghỉ dưỡng... với sự tham gia của cộng  
đồng để kết hợp vừa bảo tồn môi trường sinh  
thái vừa tạo nguồn thu nhập ổn định cho người  
dân địa phương.  
- Củng cố các tổ chức cộng đồng hiện có tại  
các thôn để nâng cao năng lực của cộng đồng.  
Rà soát, bổ sung các qui định trong Qui ước đã  
xây dựng để Qui ước thực sự gần gũi với người  
dân, tránh tính hình thức, dễ dàng đi vào cuộc  
sống của họ, tạo điều kiện để phát huy vai trò  
đích thực của cộng đồng địa phương.  
- Đẩy mạnh sự phối hợp giữa các cơ quan  
quản lý nhà nước về lâm nghiệp, chính quyền  
địa phương và cộng đồng trong việc xây dựng  
kế hoạch, thực thi và giám sát các hoạt động  
QLBVR để thu hút sự tham gia của cộng đồng  
vào QLBVR.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Lê Hưng Quốc, Đỗ Văn Nhuận, Chu Thị Hảo,  
Phạm Đức Tuấn, Nguyễn Văn Nghiêm, 1998. Phương  
pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân  
trong hoạt động khuyến nông khuyến lâm. Bộ NN và  
PTNT - Dự án Tăng cường khả năng tư vấn cấp bộ.  
NXB Nông nghiệp, Hà Nội.  
2. Nguyễn Bá Ngãi, Đinh Đức Thuận, Phạm Tùng  
Hoa, 2005. Lâm nghiệp xã hội đại cương. NXB. Nông  
nghiệp, Hà Nội.  
3. Nguyễn Hồng Quân, Phạm Xuân Phương, Vũ  
Long, 2006. Cẩm nang ngành Lâm nghiệp, Chương Lâm  
nghiệp cộng đồng. NXB Nông nghiệp, Hà Nội.  
4. Nguyễn Thị Phương, 2003. Nghiên cứu tác động  
của cộng đồng địa phương vùng đệm đến tài nguyên  
rừng Vườn quốc gia Ba Vì - Hà Tây. Báo cáo kết quả đề  
tài NCKH, Trường Đại học Lâm nghiệp.  
4. KẾT LUẬN  
QLRDVCĐ đang tồn tại ở khu vực nghiên  
cứu là mô hình khoán BVR theo nhóm HGĐ  
thông qua hợp đồng có thời hạn giữa các đơn  
vị chủ rừng với các HGĐ. Trên cơ sở đó, tại xã  
5. Trần Việt Hà, Phạm Quang Vinh, Kiều Trí Đức,  
Vũ Tiến Hưng, Phạm Xuân Phương, Trần Văn Châu,  
2015. Sổ tay hướng dẫn thực hiện mô hình quản lý rừng  
dựa vào cộng đồng cho các Ban quản lý rừng phòng hộ  
tại tỉnh Nghệ An. Dự án USAID – Leaf.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020  
51  
Lâm học  
STATUS AND SOLUTIONS FOR COMMUNITY-BASED FOREST  
MANAGEMENT IN DA TONG COMMUNE, DAM RONG DISTRICT,  
LAM DONG PROVINCE  
Tran Viet Ha1, Nguyen Trong Man2, Pham Thi Quynh1  
1Vietnam National University of Forestry  
2Serepok Protection Forest Management  
SUMMARY  
People's participation in community-based forest managementwhich play an extremely important role in forest  
protection and development, especially for some localities with large areas of natural forests and many ethnic  
minorities such as Da Tong commune, Dam Rong district, Lam Dong province. The assessment results in the  
status of forest management based on communities in Da Tong commune has shown that the two common  
methods using by the participation of people and communities in forest management in Da Tong commune are  
labor contribution and sharing responsibilities; the participation level is the results of persuasion and education.  
The study result has shown that community-based forest management has created livelihood sources for  
households, especially for poor households with 54% income by forest protection in the total income of  
households belong to this group. The research result also has shown that the lack of synchronous policy, using  
forest land with the wrong aim and limited awareness of local people are the main obstacles to people's  
participation in forest management in the study area. Therefore, the establishment of land use rights and  
obligations of forest owners; local's specific mechanisms is to encourage forest owners to increase the  
provision of public services; promoting coordination between state management agencies in forestry, local  
authorities, and communities, which are the top priority solutions to attract people's participation in forest  
management.  
Keywords: Community forestry, community forest mamagement, Da Tong commune, Dam Rong district.  
Ngày nhận bài  
Ngày phản biện  
Ngày quyết định đăng  
: 25/11/2019  
: 25/02/2020  
: 02/3/2020  
52  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020  
pdf 9 trang yennguyen 17220 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng và giải pháp cho quản lý rừng dựa vào cộng đồng tại xã Đạ Tông, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_va_giai_phap_cho_quan_ly_rung_dua_vao_cong_dong_t.pdf