Cơ sở khoa học cho lai giống tràm (Melaleuca sp;) bằng thụ phấn có kiểm soát

C«ng nghÖ sinh häc & Gièng c©y trồng  
CƠ SỞ KHOA HỌC CHO LAI GIỐNG TRÀM (Melaleuca sp;)  
BẰNG THỤ PHẤN CÓ KIỂM SOÁT  
Hoàng Vũ Thơ1  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu cơ sở khoa học cho lai giống tràm bằng thụ phấn có kiểm soát cho thấy, tốc độ hoa tràm nở khá nhanh,  
sau 4 giờ tăng thêm 4-5 bông hoa nở, sau 9 giờ số bông hoa nở đã tăng lên gấp gần 4 lần, sau khoảng 20 giờ, tất cả các  
bông hoa trên một hoa tự của M. cajuputi đã nở gần như hoàn toàn. Hoa tràm bầu có 3 ô, bên trong chứa nhiều noãn;  
Núm nhụy ở trạng thái tiếp nhận hạt phấn thường sưng phồng, ướt và dính. Hạt phấn tràm có cấu trúc hình tam giác, 3  
rãnh nổi rõ, bề rộng khoảng 16-25m. Trên môi trường M1 (30% đường mía+150ppm axic boric), hạt phấn của M.  
leucadendra có tỷ lệ nảy mầm đạt 81,59%, chiều dài ống phấn 500,24m và chỉ số nảy mầm 35641,7 phản ánh đúng  
nhất sức sống hạt phấn hay chất lượng hạt phấn tràm. Thụ phấn tự do có tỷ lệ đậu quả cao (80,23%), khử đực không  
thụ phấn và không khử đực để tự thụ phấn trong bao cách ly đều không có hiện tượng đậu quả (0%), và tự thụ phấn  
(cưỡng bức) phát hiện đậu quả với tỷ lệ thấp (4,17%). Hạt phấn LLA3 cất trữ 3 năm ở nhiệt độ -300C có tỷ lệ đậu quả  
18,47%; Hạt phấn LNB1 cất trữ 1 năm ở nhiệt độ 40C có tỷ lệ đậu quả đạt 40,29%; Hạt phấn tươi, mới LNB01 và  
LNB02, có tỷ lệ đậu quả đạt tương ứng là 42,75 và 47,04%. Thời điểm thích hợp thụ phấn cho tỷ lệ đậu quả cao đối  
với một số loài tràm là ngày thứ 3 sau khử đực, tương ứng núm nhụy ở trạng thái tiếp nhận hạt phấn.  
Từ khóa: Lai giống tràm, Nảy mầm của hạt phấn, Thụ phấn có kiểm soát, Tỷ lệ đậu quả.  
Tuy nhiên để lai giống cây rừng thành  
công, nghiên cứu thời kỳ nở hoa, cấu trúc và  
phát triển hoa, ảnh hưởng của hạt phấn,  
phương thức và thời điểm thụ phấn đến tỷ lệ  
đậu quả là đặc biệt quan trọng, có tính quyết  
định [1],[4]. Do đó, nghiên cứu cơ sở khoa học  
cho lai giống tràm bằng thụ phấn có kiểm soát  
là hết sức cần thiết, có ý nghĩa khoa học và  
thực tiễn, một bước đi quan trọng trong  
chương trình cải thiện giống tràm nhằm tăng  
năng suất gỗ, góp phần cung cấp giống cây  
rừng mới có năng suất cao, chất lượng tốt cho  
trồng rừng, nhất là trồng rừng sản xuất và  
trồng rừng phòng hộ ở nước ta.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Cho đến nay, hầu hết các giống cây trồng  
mới đem lại hiệu quả kinh tế cao trong sản  
xuất nông lâm nghiệp đều là các giống lai. Vì  
vậy, lai giống và sử dụng giống lai đang là sự  
quan tâm lớn của các nhà khoa học, các nhà  
quản lý trong nước và quốc tế, đặc biệt đối với  
những loài cây có giá trị, nhưng cần được cải  
thiện về năng suất, chất lượng.  
Tràm cajuputi (Melaleuca cajuputi) là loài  
cây bản địa, có khả năng thích ứng rộng và có  
giá trị nhiều mặt. Tuy nhiên, M.cajuputi sinh  
trưởng chậm, năng suất rừng tràm tự nhiên và  
rừng trồng rất thấp, chu kỳ kinh doanh dài,  
hiệu quả kinh tế không cao [2]. Do đó, sử dụng  
M.cajuputi làm vật liệu để tạo các giống lai có  
khả năng thích ứng cao rất có ý nghĩa thực tiễn  
trong sản xuất lâm nghiệp ở nước ta. Trong  
những năm 1990 qua khảo nghiệm xuất xứ các  
loài tràm đã chọn được một số xuất xứ Tràm lá  
dài (M.leucadendra), Tràm năm gân  
(M.quinquenervia) và Tràm lá rộng  
(M.viridiflora) cho sinh trưởng nhanh, thân cây  
thẳng, cho năng suất gỗ cao nhất trong các loài  
tràm hiện có ở Việt Nam [2],[4]. Đây là nguồn  
vật liệu quan trọng để tạo ra các giống tràm lai  
có năng suất gỗ cao ở nước ta.  
II.VẬTLIỆUVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
1. Vật liệu  
Vật liệu dùng trong nghiên cứu này là các  
mẫu hạt phấn được thu thập từ các nòi địa  
phương của Tràm lá dài tại Long An (LLA3)  
đã cất trữ 3 năm ở nhiệt độ -300C; tại Ninh  
Bình đã cất trữ 1 năm ở nhiệt độ 40C (LNB1),  
thu thập trước thụ phấn 3 ngày (LNB01;  
LNB02); và hạt phấn của Tràm cajuputi thu  
thập tại Hà Nội ngay trước khi thụ phấn  
(CaĐL11, CaĐL12) [3],[4].  
2. Phương pháp nghiên cứu  
Xác định thời kỳ nở hoa của một số loài  
tràm bằng quan sát trực tiếp 30 cây, ở hai dạng  
1TS. Trường Đại học Lâm nghiệp  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2012  
17  
C«ng nghÖ sinh häc & Gièng c©y trồng  
lập địa đồi núi Ba Vì (Hà Nội), và bán ngập  
Thạnh Hóa (Long An) và Gia Viễn (Ninh  
Bình) ở 3 mùa hoa liên tiếp nhau [4];  
Đo kích thước nụ và bầu hoa, chiều dài chỉ  
nhị và vòi nhụy bằng thước kẹp panme. Xác  
định các giai đoạn phát triển của hoa bằng ảnh  
chụp định kỳ thời gian, từ lúc xuất hiện nụ, bắt  
đầu hoa nở cho đến khi hoa tự nở hoàn toàn [4];  
Môi trường xác định nảy mầm hạt phấn  
thực hiện theo phương pháp của Shivanna,  
vào tháng 1-2 và tháng 5-6. Trong khi  
M.cajuputi, M.leucadendra và M.  
quinquenervia có thời kỳ nở hoa xuất hiện rải  
rác trong năm, song thường tập trung làm 2  
đợt: đợt 1 từ tháng 3-4; đợt 2 từ tháng 8-9  
[2],[4],[7],[8],[9],[11]. Thời kỳ nở hoa của  
tràm kéo dài khoảng 2-3 tuần, ở phía Nam hoa  
thường nở sớm hơn ở phía Bắc. Ở khu vực  
đồng bằng sông Cửu Long, M. leucadendra ra  
hoa gần như quanh năm. Trong khi, trên đất  
đồi ở Ba Vì (Hà Nội), cây tràm lại chỉ ra một  
lần vào tháng 11-12 2,[4]. Chứng tỏ, sống  
trong điều kiện đất đai ẩm ướt, cây tràm có số  
lần ra hoa nhiều hơn nơi khô hạn.  
Kết quả quan sát trực tiếp hoa trên cây mẹ  
cho thấy, nếu lấy thời điểm hoa tự có 1 bông  
nở làm mốc, thì sau 4 giờ phát hiện thêm 4-5  
bông hoa nở, sau 9 giờ số bông hoa nở đã tăng  
lên gấp gần 4 lần, và sau khoảng 20 giờ, thì tất  
cả các bông hoa trên một hoa tự của  
M. cajuputi đã nở gần như hoàn toàn. Chứng  
tỏ, tốc độ hoa tràm nở là khá nhanh, yêu cầu  
xác định đúng thời điểm để thực hiện các thao  
tác từ chụp bao cách ly, khử đực cho đến thụ  
phấn là hết sức quan trọng, giúp tăng cơ hội  
cho lai giống tràm thành công.  
K.R.and  
Rangaswamy,N.S.(1992)  
và  
Baskorowati, L.(2006) [5], [10] trên môi  
trường nhân tạo, gồm: ĐC (30% đường mía);  
M1 (30% đường mía+150ppm axic boric); M2  
(30% đường mía+300ppm nitrat canxi); và M3  
(30% đường mía+150ppm axit boric+300ppm  
nitrat canxi), trong điều kiện nhiệt độ phòng  
(20-300C), thời gian nuôi cấy: 12- 48 giờ [3];  
Thụ phấn được tiến hành theo phương  
pháp của Baskorowati, L.(2006) [5], các phép  
lai giữa các loài tràm được tiến hành theo từng  
công thức riêng biệt. Sau thụ phấn vẫn tiến  
hành chụp bao cách ly, tháo bỏ bao khi núm  
nhụy không còn khả năng tiếp nhận hạt phấn.  
Thu quả lai ở tràm thích hợp sau thụ phấn  
khoảng 12-14 tháng [4];  
Các số liệu thu thập được xử lý theo  
phương pháp thống kê sinh học thường dùng  
trong lâm nghiệp trên phần mềm ứng dụng  
Excel.  
Đối với nhiều loài tràm, hoa dạng hoa tự,  
gồm 1-3 trục mang hoa dài khoảng 10-15cm,  
nhị hợp 5 bó, lá đài 5, cánh tràng 5  
[2],[8],[9],[11]. Khi hoa nở, những chỉ nhị duỗi  
thẳng ra có hình dáng như chiếc bàn chải đánh  
răng, màu trắng đến màu kem. Trong nghiên  
cứu này, chiều dài chỉ nhị và vòi nhụy của một  
số loài tràm được đo đếm và được ghi nhận tại  
hình 1.  
III. KẾTQUẢNGHIÊNCỨUVÀTHẢOLUẬN  
1. Đặc điểm về hoa ở các loài tràm nghiên cứu  
Kết quả theo dõi 3 mùa hoa liên tiếp cho  
thấy, M. viridiflora có thời kỳ nở hoa tập trung  
mm  
18  
15,47  
16  
13,42  
14  
12  
10,20  
10  
8,62  
8
6
4
2
0
Chỉ tiêu  
Chỉ nhị  
vòi nhụy  
Chỉ nhị  
vòi nhụy  
M. cajuputi  
M. leucalendra  
Hình 1. Chiều dài chỉ nhị và vòi nhụy của M. cajuputi và M. leucadendra  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2012  
18  
C«ng nghÖ sinh häc & Gièng c©y trồng  
Cột trị số trên biểu đồ hình 1 cho thấy,  
chiều dài chỉ nhị và vòi nhụy của M. cajuputi  
đều ngắn và nhỏ hơn so với M. leucadendra.  
Tuy nhiên, chiều dài vòi nhụy của cả hai loài  
này đều dài hơn chiều dài chỉ nhị, hay cấu trúc  
hoa với núm nhụy nằm ở phía trên và bao phấn  
ở dưới. Như vậy, phấn của một bông hoa sẽ rất  
khó rơi vào núm nhụy để thụ phấn cho chính  
bông hoa đó, vì thế tránh được thụ phấn cùng  
hoa, nhưng lại thuận lợi cho thụ phấn chéo.  
Kết quả quan sát trên hiển vi trường cho thấy,  
vòi nhụy là thể xốp, gồm nhiều ống dẫn - nơi  
mà các ống phấn có thể trượt trên đó tới lỗ  
noãn đúng lúc để thụ tinh. Núm nhụy ở trạng  
thái tiếp nhận hạt phấn sưng phồng, ướt và  
dính, đặc biệt bề mặt có rất nhiều tế bào như  
những chiếc móc nhỏ nhô lên. Kiểu hình thái  
này, có thể giúp cho núm nhụy bắt giữ hạt  
phấn tương hợp được tốt hơn, nhưng đồng thời  
cũng là rào cản ngăn chặn những hạt phấn bất  
hợp do các tác nhân truyền phấn đưa tới.  
Ngoài ra, quan sát dưới hiển vi trường thấy  
hoa tràm bầu có 3 ô bên trong chứa rất nhiều  
noãn xếp sít nhau, bao phấn và bầu hoa của M.  
cajuputi có nhiều tuyến mật màu vàng. Điều  
này giúp cho thụ phấn khác hoa ở tràm có thể  
đạt hiệu quả cao hơn nhờ hấp dẫn côn trùng,  
đặc biệt là ong mật. Như vậy có thể cho phép  
nghĩ rằng, hoa tràm với hình thái, cấu trúc,  
núm nhụy sắp xếp nằm ở trên và bao phấn ở  
dưới, cùng với những tuyến mật có hương  
thơm, vị ngọt thu hút côn trùng, đều không  
ngoài mục đích tăng cường thụ phấn chéo.  
2. Môi trường xác định sức sống hạt phấn  
Thu thập và bảo quản hạt phấn là những  
khâu không thể thiếu trong lai giống, trong đó  
xác định sức sống hạt phấn trước khi thụ phấn  
là một yêu cầu bắt buộc [1],[2],[5],[10]. Sức  
sống hạt phấn có thể xác định trên những môi  
trường nuôi cấy khác nhau, đối với nhiều hệ  
thống hạt phấn, thành phần của môi trường  
nuôi cấy gồm: Đường mía, Boric acid và  
Calcium nitrate [10].  
Nảy mầm của hạt phấn và sinh trưởng của  
ống phấn là dấu hiệu phản ánh sức sống hạt  
phấn và chất lượng hạt phấn. Khả năng nảy  
mầm của hạt phấn trên môi trường nhân tạo  
phụ thuộc vào loại hạt phấn, điều kiện môi  
trường và thành phần dinh dưỡng, trong đó  
ngoài Đường mía, thì Ca và Bo là yếu tố  
đóng vai trò rất quan trọng. Khi Bo đầy đủ,  
giúp cải thiện việc cung cấp chất hữu cơ cho  
các khí quan của thực vật, làm tăng tỷ lệ đậu  
quả và chắc hạt, vì Bo xúc tiến hạt phấn nảy  
mầm nhanh, ống phấn nhanh chóng vươn dài  
tiến vào bầu (noãn), có lợi cho thụ tinh và  
hình thành hạt. Khi thiếu Bo, túi phấn và  
cuống chỉ nhị có thể bị teo lại, hạt phấn nảy  
mầm nhưng sinh trưởng của ống phấn thì rất  
khó khăn, nên tác dụng thụ tinh trở nên kém  
hiệu quả [1],[3],[4],[5],[10]. Trong nghiên  
cứu này, nảy mầm của hạt phấn tràm trên  
môi trường nuôi cấy khác nhau (sau 12 giờ)  
được tổng hợp tại hình 2.  
y = -14,935x2 + 84,915x - 38,055  
R2 = 0,8747  
%
90  
81,59  
80  
70  
60  
50  
40  
72,72  
65,83  
28,74  
30  
20  
10  
0
MD  
ĐC  
M1  
M2  
M3  
LLA3  
LNB1  
LNB02  
LNB01  
Poly. (LNB02)  
Hình 2. Nảy mầm của hạt phấn tràm trên các môi trường khác nhau  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2012  
19  
C«ng nghÖ sinh häc & Gièng c©y trồng  
2
phấn tràm cho thấy n = 144,17 > 052 = 7,81.  
Kết quả nuôi cấy hạt phấn trên các môi  
trường M1, M2 và M3 (có bổ sung Boric acid  
và Calcium nitrate), có sự khác nhau rõ rệt về  
tỷ lệ nảy mầm. Cụ thể, hạt phấn LLA3 cất trữ 3  
năm ở nhiệt độ -300C, nuôi cấy trên môi  
trường ĐC, tỷ lệ nảy mầm là 26,89%, bổ sung  
thêm Bo (M1), tỷ lệ nảy mầm đạt trị số  
54,71%, cao gấp 2,03 lần so với môi trường  
ĐC. Tương tự, hạt phấn LNB1 cất trữ 1 năm ở  
nhiệt độ 40C, nuôi cấy trên môi trường ĐC, tỷ  
lệ nảy mầm là 32,62%, bổ sung thêm Bo (M1),  
tỷ lệ nảy mầm là 52,10%, cao hơn ĐC là 1,59  
lần. Đối với hạt phấn tươi, mới LNB02, nuôi  
cấy trên môi trường M1, tỷ lệ nảy mầm là  
81,59%, cao gấp 2,83 lần so với ĐC. Chứng tỏ  
Bo đã xúc tiến hạt phấn nảy mầm và làm tăng  
tỷ lệ nảy mầm của hầu hết các mẫu hạt phấn  
tràm trong cùng thí nghiệm.  
Như vậy, có sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ nảy  
mầm khi sử dụng các môi trường nuôi cấy  
khác nhau trong quá trình xác định sức sống  
hạt phấn tràm.  
Từ kết quả trên có thể cho phép nhận xét sơ  
bộ rằng, môi trường ĐC chỉ có Đường mía, tỷ  
lệ nảy mầm của hạt phấn tràm không cao, môi  
trường bổ sung thêm Bo (M1) đã giúp cho hạt  
phấn nảy mầm tốt hơn, có thể coi là môi  
trường thích hợp nhất cho nảy mầm đối với hạt  
phấn tươi, mới. Hạt phấn cất trữ 1 năm ở nhiệt  
độ 40C (LNB1) lại tỏ ra thích hợp hơn với môi  
trường M3. Môi trường có thể thích hợp cho  
nảy mầm tối ưu những hạt phấn tươi mới,  
nhưng lại không phù hợp cho hạt phấn đã qua  
cất trữ. Việc áp dụng nhiều môi trường khác  
nhau cho một loại hạt phấn để tìm môi trường  
phản ánh đúng sức sống hạt phấn là hết sức  
cần thiết và có ý nghĩa.  
Xác định sức sống hạt phấn là khâu thiết  
yếu trước khi tiến hành thụ phấn, vì nảy mầm  
của hạt phấn và sinh trưởng của ống phấn là  
điều kiện tiên quyết cho thụ tinh và phát triển  
của hạt lai trong lai giống. Nảy mầm của hạt  
phấn chỉ có hiệu quả khi ống phấn mọc nhanh  
trong vòi nhụy, và tới đầu lỗ noãn của túi phôi  
đúng lúc để thụ tinh, giúp đậu quả và kết hạt,  
gọi là nảy mầm hữu hiệu và ngược lại. Thông  
thường hạt phấn được coi là nảy mầm khi  
chiều dài của ống phấn lớn hơn bề rộng (đường  
kính) của nó. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hạt  
phấn tràm có cấu trúc hình tam giác, với 3 rãnh  
nổi khá rõ, có một lỗ mở ở đầu hạt phẩn, bề  
rộng khoảng 16- 25m. Như vậy, hạt phấn  
tràm chỉ được coi là nảy mầm khi chiều dài tối  
thiểu của ống phấn phải lớn hơn 25m.  
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, Ca tuy  
có ảnh hưởng yếu hơn Bo đôi chút, nhưng  
cũng thể hiện khá rõ khả năng xúc tiến hạt  
phấn nảy mầm. Số liệu biểu đồ hình 2 cho  
thấy, với hạt phấn LNB02 trên môi trường M2  
bổ sung Ca, tỷ lệ nảy mầm 72,72%, cao hơn  
ĐC là 2,53 lần. Chứng tỏ Ca có khả năng xúc  
tiến và làm tăng tỷ lệ nảy mầm đối với hạt  
phấn tràm. Điều chú ý với hạt phấn LNB1 (cất  
trữ 1 năm ở nhiệt độ 40C) trên môi trường M3  
có bổ sung Bo và Ca có tỷ lệ nảy mầm là  
63,24%, cao hơn các môi trường ĐC; M1 và  
M2 tương ứng là 1,94; 1,21 và 1,56 lần. Chứng  
tỏ sự phối hợp của Bo và Ca đã xúc tiến hạt  
phấn nảy mầm và làm tăng tỷ lệ nảy mầm của  
hạt phấn, hay nói cách khác môi trường M3 tỏ  
ra thích hợp hơn cho nảy mầm đối với hạt phấn  
đã qua cất trữ. Kết quả kiểm tra thống kê ảnh  
hưởng của Ca và Bo đến tỷ lệ nảy mầm của hạt  
µm  
600  
500,24  
500  
406,92  
400  
338,67  
270,53  
300  
200  
100  
0
LNB02  
LNB01  
ĐC  
M1  
M2  
M3  
Hình 3. Chiều dài của ống phấn M. leucadendra trên các môi trường khác nhau  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2012  
20  
C«ng nghÖ sinh häc & Gièng c©y trồng  
Số liệu trên biểu đồ hình 3 cho thấy, chiều  
dài của ống phấn LNB02 và LNB01 (sau 12  
giờ) trên các môi trường khác nhau là khác  
nhau. Ví dụ, với môi trường M1 chiều dài  
trung bình của ống phấn LNB01 là 500,24m  
vượt ĐC; M2 và M3 tương ứng là 1,47; 1,85  
và 1,23 lần. Tương tự, chiều dài trung bình của  
ống phấn LNB02 trên môi trường M1 (tuy có  
kém LNB01 đôi chút) cũng vượt ĐC; M2 và  
M3 tương ứng là 1,76; 2,22 và 1,09 lần. Như  
vậy, M1 là môi trường thích hợp nhất cho sinh  
trưởng của ống phấn tràm, hay nói cách khác  
ống phấn sẽ mọc nhanh hơn trên môi trường có  
bổ sung thêm Bo. Chứng tỏ việc bổ sung Bo  
vào môi trường xác định sức sống hạt phấn của  
M. leucadendra là cần thiết và có ý nghĩa. Một  
lần nữa cho thấy, Bo có vai trò hết sức quan  
trọng không những xúc tiến hạt phấn nảy mầm  
mà còn giúp ống phấn vươn dài nhanh chóng,  
chắc chắn sẽ thuận lợi cho thụ tinh và đậu quả.  
Kiểm tra thống kê giữa hai môi trường có  
chiều dài trung bình của ống phấn lớn nhất  
(M1) và (M3) cho thấy t= 2,11 > 1,98 có  
nghĩa là cùng hạt phấn LNB01 nhưng ở hai  
môi trường khác nhau, thì ảnh hưởng đến sinh  
trưởng chiều dài của ống phấn là khác nhau,  
trong đó môi trường M1 có ảnh hưởng rõ rệt  
hơn, hay nói cách khác tác dụng làm tăng  
chiều dài ống phấn của Bo lớn hơn của Ca.  
Như vậy có thể cho phép nhận xét một cách  
đáng tin cậy rằng, trong nghiên cứu này, môi  
trường M1 thích hợp nhất cho nảy mầm của  
hạt phấn và sinh trưởng của ống phấn, hay nói  
cách khác là môi trường phản ánh đúng nhất  
sức sống hạt phấn tươi, mới của M.  
leucadendra.  
Chất lượng hạt phấn là hết sức quan trọng,  
có tính quyết định đến tỷ lệ đậu quả và kết hạt  
khi lai giống bằng thụ phấn có kiểm soát.  
Trong nghiên cứu này, chất lượng hạt phấn  
được phản ánh qua tiêu chí tổng hợp là: chỉ số  
nảy mầm của hạt phấn (tích số giữa tỷ lệ nảy  
mầm trung bình của hạt phấn và chiều dài  
trung bình của ống phấn), nghĩa là hạt phấn có  
chỉ số nảy mầm cao cũng phản ánh chất lượng  
hạt phấn cao và ngược lại.  
Kết quả kiểm tra ảnh hưởng của Ca và Bo  
đến sinh trưởng chiều dài của ống phấn cho  
thấy FA = 8,13 > F05 = 6,59, có nghĩa là hai  
chất Ca và Bo có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh  
trưởng chiều dài của ống phấn tràm, trong đó  
M1 là môi trường có ảnh hưởng rõ rệt nhất.  
Ig  
60.000  
50.000  
40.000  
30.000  
35654,8  
25882,4  
y = 927,76x2,8448  
R2 = 0,9744  
20.000  
8711,6  
10.000  
778,0  
0
LLA3  
LNB1  
LNB01  
LNB02  
Hình 4. Chỉ số nảy mầm của hạt phấn M. leucadendra trên môi trường M1  
Số liệu trên biểu đồ hình 4 cho thấy, cùng  
thời gian là 12 giờ trên môi trường M1, hạt  
phấn LLA3 cất trữ 3 năm mặc dù tỷ lệ nảy  
mầm khá (54,71%), nhưng chiều dài của ống  
phấn có trị số thấp (14,22m), nên có chỉ số  
nảy mầm thấp (778,0), hay nói cách khác hạt  
phấn đã giảm sức sống khi cất trữ lâu ngày;  
Hạt phấn LNB1 cất trữ 1 năm có chỉ số nảy  
mầm 8711,6, vượt chỉ số nảy mầm của hạt  
phấn LLA3 là 11,19 lần; Hạt phấn tươi, mới  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2012  
21  
C«ng nghÖ sinh häc & Gièng c©y trồng  
LNB02 có chỉ số nảy mầm cao nhất, vượt chỉ  
số nảy mầm của hạt phấn LNB1 và LLA3  
tương ứng là 4,09 và 45,82 lần.  
chất lượng hạt phấn M. leucadendra so với các  
môi trường khác trong cùng thí nghiệm  
Mặc dù, chỉ số nảy mầm của hạt phấn  
LNB02 và LNB01 trên môi trường M2 không  
cao bằng M1, nhưng vẫn vượt công thức đối  
chứng tương ứng là 2,7 và 1,6 lần. Điều này  
chứng tỏ, Ca có ảnh hưởng đáng kể tới nảy  
mầm của hạt phấn và sinh trưởng của ống phấn  
tràm, song với mức độ kém hơn so với Bo. Tuy  
nhiên, khi phối hợp cả Ca và Bo (M3), chỉ số  
nảy mầm được cải thiện và vượt M2 tương ứng  
là 1,3 và 1,6 lần. Như vậy, nếu chỉ có Canxi,  
sinh trưởng chiều dài của ống phấn chưa thể  
hiện rõ, nhưng phối hợp cả Bo thì chiều dài  
của ống phấn được tăng lên, do đó chỉ số nảy  
mầm của hạt phấn cao hơn.  
Ngoài ra, đường mô phỏng thể hiện quan hệ  
giữa chỉ số nảy mầm với các nguồn hạt phấn đã  
làm rõ hơn cho những gì đã phân tích ở trên.  
Chứng tỏ hạt phấn khác nhau, chỉ số nảy mầm  
cũng rất khác nhau, và giảm dần theo thời gian  
từ hạt phấn tươi, mới đến hạt phấn cất trữ lâu  
ngày. Đây là lý do mà trên thực tế lai giống,  
mặc dù trước khi thụ phấn, hạt phấn đã được  
kiểm tra với tỷ lệ nảy mầm cao, nhưng tỷ lệ  
đậu quả lại không cao, nhất là với hạt phấn cất  
trữ dài ngày, do chưa quan tâm tới chỉ số nảy  
mầm của hạt phấn. Mặt khác, môi trường khác  
nhau có chỉ số nảy mầm của hạt phấn cũng rất  
khác nhau. Cụ thể, trên môi trường M1, hạt  
phấn LNB02 có chỉ số nảy mầm cao nhất  
(35654,8), vượt chỉ số nảy mầm trên môi  
trường ĐC, M2 và M3 tương ứng là 5,1; 1,9 và  
1,4 lần. Thí nghiệm với hạt phấn LNB01 cũng  
cho kết quả tương tự. Chứng tỏ môi trường có  
Bo, chỉ số nảy mầm của hạt phấn cao hơn so  
với môi trường chỉ có Canxi, hay phối hợp cả  
Bo và Ca. Như vậy có thể nhận xét rằng, môi  
trường M1 phản ánh đúng nhất sức sống hay  
3. Ảnh hưởng của một số nhân tố đến tỷ  
lệ đậu quả  
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, tỷ lệ đậu quả  
trong lai giống thường phụ thuộc vào phương  
thức thụ phấn, sức sống hạt phấn, thời điểm  
thụ phấn, cây mẹ, điều kiện môi trường và thao  
tác kỹ thuật thụ phấn 1,[3],[4],[5],[8],[12].  
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phương  
thức thụ phấn khác nhau đến tỷ lệ đậu quả  
được tổng hợp tại hình 5.  
250  
210  
200  
177  
157  
150  
120  
100  
50  
80,23  
4,17  
0
0
0
phương thức  
Khử đực  
không thụ phấn  
Tự thụ phấn  
trong bao cách ly  
Tự thụ phấn  
(cưỡng bức)  
Thụ phấn  
tự do  
Số hoa thí nghiệm  
Tỉ lệ đậu quả (%)  
Hình 5. Ảnh hưởng của phương thức thụ phấn đến tỷ lệ đậu quả ở M. cajuputi  
Số liệu trên biểu đồ hình 5 cho thấy,  
phương thức thụ phấn khác nhau cho tỷ lệ đậu  
quả khác nhau. Cụ thể, thụ phấn tự do có tỷ lệ  
đậu quả là 80,23%, khử đực không thụ phấn và  
tự thụ phấn trong bao cách ly đều không đậu  
quả (0%). Như vậy, không có hiện tượng đậu  
quả ở phương thức khử đực không thụ phấn đã  
chứng tỏ rằng, việc khử đực là triệt để. Sử  
dụng bao cách ly trước và sau thụ phấn có  
kiểm soát là hoàn toàn có tác dụng ngăn ngừa  
nhiễm phấn lạ do côn trùng, nhất là ong mật.  
Mặt khác, vì thiếu tác nhân truyền hạt phấn  
nên khử đực không thụ phấn trong bao cách ly  
không có hiện tượng đậu quả. Tuy nhiên, tự  
thụ phấn trong bao cách ly không đậu quả đã  
chứng tỏ rằng, nhị và nhụy của hoa chín không  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2012  
22  
C«ng nghÖ sinh häc & Gièng c©y trồng  
trùng nhau, hay thời điểm tung hạt phấn không  
trùng với thời điểm núm nhụy chín. Nói cách  
khác, nhị và nhụy luôn phát triển lệch xa nhau  
với mục đích tránh thụ phấn cùng hoa.  
Kết quả nghiên cứu ở phần trên đã cho thấy,  
sức sống của hạt phấn giảm từ hạt phấn tươi,  
mới đến hạt phấn cất trữ lâu ngày. Theo đó, sử  
dụng hạt phấn tươi, mới để lai giống có thể thu  
được hiệu quả cao, dùng hạt phấn cất trữ lâu  
năm, hiệu quả có thể sẽ rất thấp. Tuy nhiên, tỷ  
lệ đậu quả trên thực tế khi lai giống từ chính  
nguồn hạt phấn nêu trên mới là kết quả phản  
ánh chính xác nhất. Trong nghiên cứu này, xác  
định ảnh hưởng của các nguồn hạt phấn đến tỷ  
lệ đậu quả trong quá trình lai giống tràm được  
tổng hợp tại hình 6. Kết quả cho thấy cùng cây  
mẹ (CaĐL12) nhưng nguồn hạt phấn khác  
nhau có tỷ lệ đậu quả khác nhau. Cụ thể, hạt  
phấn cất trữ 3 năm ở nhiệt độ -300C (LLA3),  
có tỷ lệ đậu quả 18,47%; Hạt phấn cất trữ 1  
năm ở nhiệt độ 40C (LNB1), có trị số đậu quả  
40,29%, vượt 2,18 lần so với hạt phấn LLA3;  
Hạt phấn tươi, mới LNB01 và LNB02, đậu quả  
có trị số lần lượt là 42,75 và 47,04%, vượt so  
với sử dụng hạt phấn đã cất trữ 1 năm và 3  
năm tương ứng là 1,16 và 2,54 lần. Chứng tỏ tỷ  
lệ đậu quả phụ thuộc chặt chẽ vào sức sống hạt  
phấn, giảm dần từ hạt phấn tươi, mới đến hạt  
phấn cất trữ lâu ngày.  
Trong nghiên cứu này đã sử dụng hạt phấn  
tươi, mới của Tràm cajuputi thu thập ngay  
trước khi thụ phấn của 2 cây mẹ (CaĐL11 và  
CaĐL12), đem đặt (bôi) lên núm nhụy đã chín  
cho những bông hoa khác (đã được chụp bao  
cách ly) của chính 2 cây mẹ tương ứng, kết quả  
phát hiện tỷ lệ đậu quả trung bình là 4,17%  
(Hình 5). Chứng tỏ, do cấu trúc, sự phát triển  
lệch nhau giữa nhị và nhụy hoa, và một cơ chế  
thụ phấn, thụ tinh riêng biệt, mà tự thụ phấn  
mặc dù có xảy ra ở M. cajuputi, nhưng đã được  
giảm thiểu. Từ kết quả nghiên cứu trên có thể  
cho phép nghĩ rằng, cả tự thụ phấn và thụ phấn  
chéo đều có thể cùng đồng thời xảy ra trong  
thực tế đối với M. cajuputi. Nói cách khác,  
tràm là cây tự thụ phấn (4,17%), nhưng hệ  
thống hoa của chúng cũng xúc tiến thụ phấn  
chéo với một tỷ lệ cao (trên 95%). Như vậy,  
gia tăng thụ phấn chéo để tạo ra các thể dị hợp  
tử đã giúp cho cây tràm có khả năng thích ứng  
rộng và sinh trưởng tốt.  
350  
300  
250  
304  
278  
y = 5,1809x1,5502  
R2 = 0,9301  
200  
157  
138  
150  
120  
100  
47,04  
42,75  
40,29  
50  
18,47  
4,17  
0
Tự thụ phấn  
Số hoa TN  
LLA3  
LNB1  
LNB01  
LNB02  
Tỉ lệ đậu quả (%)  
Power (Tỉ lệ đậu quả (%))  
Hình 6. Tỷ lệ đậu quả ở M.cajuputi với các nguồn hạt phấn khác nhau  
quá trình lai giống tràm. Chứng tỏ, sử dụng hạt  
phấn tươi, mới có chỉ số nảy mầm cao, thì  
cũng có tỷ lệ đậu quả cao. Ngược lại, sử dụng  
hạt phấn cất trữ lâu ngày, có chỉ số nảy mầm  
thấp, thì cũng thu được trị số đậu quả thấp.  
Kết quả kiểm tra thống kê ảnh hưởng của  
nguồn hạt phấn đến tỷ lệ đậu quả khi lai giống  
tràm cho thấy n = 95,55 > 05 = 9,49. Như  
vậy, có sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ đậu quả khi  
sử dụng các nguồn hạt phấn khác nhau trong  
2
2
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2012  
23  
C«ng nghÖ sinh häc & Gièng c©y trồng  
Nhiều nghiên cứu lai giống cây rừng cho  
thấy, khi núm nhụy đã chín thì tính lựa chọn  
thụ tinh là mạnh nhất, còn khi núm nhụy đã già  
hoặc non thì ngược lại [1],[4],[5],[7],[12]. Nói  
cách khác, núm nhụy ở trạng thái tiếp nhận hạt  
phấn hay đã chín, thụ phấn thường cho tỷ lệ  
đậu quả cao hơn. Kết quả quan sát dưới kính  
lúp tại hiện trường lai giống cho thấy, thời  
điểm sau khử đực 1 ngày núm nhụy còn nhỏ,  
màu xanh. Thời điểm sau khử đực 3 ngày, núm  
nhụy sưng phồng và ướt. Thời điểm sau khử  
đực 6 ngày, núm nhụy teo lại, màu nâu sẫm và  
khô héo, chắc chắn không thể tiếp nhận hạt  
phấn được. Kết quả ảnh hưởng của thời điểm  
thụ phấn đến tỷ lệ đậu quả khi lai giống tràm  
được tổng hợp tại hình 7.  
%
75,5  
80  
70  
60  
50  
40  
30  
20  
10  
0
37,0  
19,8  
17,6  
0
1
0
-10  
-20  
2
3
4
5
6
Ngày  
Ca x L  
L x Ca  
V x L  
Poly. (V x L)  
Hình 7. Tỷ lệ đậu quả theo số ngày thụ phấn sau khử đực  
Số liệu trên biểu đồ hình 7 cho thấy, cùng  
một phép lai nhưng tại các thời điểm thụ phấn  
khác nhau có tỷ lệ đậu quả cũng rất khác nhau.  
Cụ thể, phép lai giữa M. viridiflora với M.  
leucadendra tại thời điểm 1 ngày sau khử đực  
không có tỷ lệ đậu quả (0%), tỷ lệ đậu quả tăng  
dần từ ngày thứ 2 (17,6%) và đạt đỉnh ở ngày  
thứ 3 (75,5%), vượt trước và sau đó 1 ngày  
tương ứng 4,28 và 2,04 lần. Ở các phép lai  
khác trong cùng thí nghiệm cũng cho kết quả  
tương tự. Chứng tỏ, ngày thứ 3 sau khử đực,  
núm nhụy ở giai đoạn thành thục, hay ở trạng  
thái tiếp nhận hạt phấn, thời điểm tốt nhất cho  
thụ phấn đạt tỷ lệ đậu quả cao.  
Ngoài ra, cùng nguồn hạt phấn nhưng cây  
mẹ khác nhau, tỷ lệ đậu quả cũng khác nhau.  
Cụ thể, cùng nguồn hạt phấn thu từ cây bố của  
M. leucadendra, thụ phấn cho cây mẹ của M.  
cajuputi có tỷ lệ đậu quả chỉ đạt thấp (31,4%),  
trong lúc đem thụ phấn cho cây mẹ của M.  
viridiflora thu được tỷ lệ đậu quả cao  
(75,5%), vượt 2,4 lần so với thụ phấn cho cây  
mẹ của M. cajuputi trong cùng thí nghiệm.  
Chứng tỏ, ngoài hạt phấn, phương thức và  
thời điểm thụ phấn, cây mẹ cũng có ảnh  
hưởng rất lớn đến tỷ lệ đậu quả. Nói cách  
khác, khả năng lai giống phụ thuộc vào từng  
cặp bố mẹ và thời điểm cụ thể.  
IV. KẾT LUẬN  
1. Tốc độ hoa tràm nở khá nhanh, sau 4 giờ  
tăng thêm 4-5 bông hoa nở, sau 9 giờ số bông  
hoa nở đã tăng lên gấp gần 4 lần, và sau  
khoảng 20 giờ, tất cả các bông hoa trên một  
hoa tự của M. cajuputi đã nở gần như hoàn  
toàn. Hoa tràm bầu có 3 ô, bên trong chứa  
nhiều noãn; Núm nhụy ở trạng thái tiếp nhận  
hạt phấn thường sưng phồng, ướt và dính.  
2. Hạt phấn tràm có cấu trúc hình tam giác,  
3 rãnh nổi rõ, bề rộng khoảng 16-25m. Trên  
môi trường M1 (30% đường mía+150ppm axic  
boric), hạt phấn của M. leucadendra có tỷ lệ  
nảy mầm đạt 81,59%, chiều dài ống phấn  
500,24m và chỉ số nảy mầm 35641,7 phản  
ánh đúng nhất sức sống hạt phấn hay chất  
lượng hạt phấn tràm.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2012  
24  
C«ng nghÖ sinh häc & Gièng c©y trồng  
tràm”, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn  
(11), tr.91 - 96.  
5. Baskorowati, L.(2006), Controlled Pollination  
Methods for Melaleuca alternifolia (Maiden & Betch)  
Cheel, Canberra, ACIAR Technical Reports No.63,  
3/ Thụ phấn tự do có tỷ lệ đậu quả cao  
(80,23%), khử đực không thụ phấn và không  
khử đực để tự thụ phấn trong bao cách ly đều  
không đậu quả (0%), và tự thụ phấn (cưỡng  
bức) phát hiện đậu quả với trị số thấp (4,17%).  
6. Chahal,G.S.and Gosal,S.S.(2002), Principle and  
Procedures of Plant Breeding Biotechnology and  
Conventional Approches, Narasa Publishing House,  
New Delhi Chennai Mumbai Kolkata.  
Hạt phấn LLA3 cất trữ 3 năm ở nhiệt độ -  
300C có tỷ lệ đậu quả 18,47%; Hạt phấn LNB1  
cất trữ 1 năm ở nhiệt độ 40C có tỷ lệ đậu quả  
đạt 40,29%; Hạt phấn tươi, mới LNB01 và  
LNB02, có tỷ lệ đậu quả đạt tương ứng là  
42,75 và 47,04%.  
7. Doran, J.C., Baker, G.R., Williams, E.R. and  
Southwell, I.A. (2002), Improvement Australia Tea Tree  
through Selection and Breeding (1996-2001), Project  
DAN 151A, Publishcation No. 02/017 RIRDC.  
8. Munger, Gregory T. (2005), Melaleuca  
quinquenervia. In: Fire Effects Information System,  
U.S. Department of Agriculture, Forest Service, Rocky  
Mountain Research Station, Fire Sciences Laboratory.  
9. Serbesoft-king Kristina (2003), “Melaleuca in  
Florida: A Litterature Review on the Taxonomy,  
Distribution, Biology, Ecology, Economic Impertance  
and Control Measures”, J. Aqual. Plant Manage (41),  
pp. 98 -112, South Florida Water Management District.  
10. Shivanna, K.R. and Rangaswamy, N.S. (1992),  
Pollen biology A Laboratory Manual, Springer-Verlag  
Berlin Heideberg New York London Paris Tokyo  
Hongkong Barcelona Budapest.  
Thời điểm thích hợp thụ phấn cho tỷ lệ đậu  
quả cao đối với một số loài tràm là ngày thứ 3  
sau khử đực, tương ứng núm nhụy ở trạng thái  
tiếp nhận hạt phấn.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Lê Đình Khả (2006), Lai giống cây rừng  
(Hybridization of Forest Tree), Nxb Nông nghiệp, Hà  
Nội.  
2. Hoàng Vũ Thơ (2008), Tổng quan về cây tràm,  
Báo cáo chuyên đề tiến sĩ, Viện Khoa học Lâm nghiệp  
Việt Nam, Hà Nội.  
3. Hoàng Vũ Thơ, Trần Bình Đà, Phạm Đức Tuấn  
(2009), “Nghiên cứu môi trường nảy mầm hạt phấn tràm  
lá dài”, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn,  
(3), tr.95 - 100.  
4. Hoàng Vũ Thơ, Nguyễn Việt Cường (2009), “Ảnh  
hưởng của một số nhân tố đến tỷ lệ đậu quả khi lai giống  
11. Turnbull, J.W. (1986), Multipurpose Australian  
Tree and Shrubs Lesser-kmown Species for Fuelwood  
and Agroforestry, Australian Centre for International  
Agricultural Research Canberra.  
12. Zobel, B. and J. Talbert (1984), Applied Forest  
Tree Improvement, John Wiley and Sons, New York.  
SCIENTIFIC BASES FOR CROSSING THE Melaleuca sp;  
BY CONTROLLED POLLINATION  
Hoang Vu Tho  
SUMMARY  
Research scientific bases for crossing the Melaleuca sp; by controlled pollination show that, the blossoming rate of  
Melaleuca is pretty fast, during some 4 hours increased 4-5 blossomed out, during 9 hour the flowers doubled 4 times,  
and during some 20 hours, all the flowers of a blossom cluster of M. cajuputi have completely blossomed out. The  
flower of Melaleuca is 3 ovarium, its containing many ovulate, the stigma at accepting state or has matured is  
swelling, wet and sticky. The pollen grain has triangular structure, 16 to 25m wide. The best one among the culture  
medium for pollen germination of M.leucadendra is M1 (30% sucrose +150 ppm boric acid). In this medium after 12  
hours, the pollen could get a germination rate of 81.59% with pollen tube length 500.24m and its index of 35641.7.  
Different patterns of pollination obtained different rates of setting fruit, natural pollination obtained these high figures  
(80.23%). The flowers emasculated without pollination as well as self-pollination in isolated bag even without  
emasculating failed utterly setting fruit (0%). Compulsory self-pollination obtained the figures by 4.17%. Setting fruit  
rate depends closely on pollen vitality; e.g. the pollen grains LLA3 after 3 year-storage at low temperature -300C  
remained the rate of setting fruit by 18.47%; the pollen grains LNB1after 1 year-storage at temperature 40C remained  
by 40,29%; while for the fresh pollen grains LNB01 and LNB02 that of by 42.75% and 47.04% respectively. The time  
fit for pollination of high setting fruit for those species involved in the hybridization is at 3 days after emasculated,  
corresponding to the time at which stigmas have matured or being well at accepting state.  
Keywords: Crossing the Melaleuca, Controlled Pollination, Fruit Setting Rate, Pollen Germination.  
Người phản biện: PGS.TS. Nguyễn Hữu Vĩnh, ThS. Hồ Văn Giảng  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2012  
25  
pdf 9 trang yennguyen 9540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Cơ sở khoa học cho lai giống tràm (Melaleuca sp;) bằng thụ phấn có kiểm soát", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfco_so_khoa_hoc_cho_lai_giong_tram_melaleuca_sp_bang_thu_phan.pdf