Nhận diện các trở ngại trong phát triển rừng gỗ lớn của nông hộ trên địa bàn huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế

HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 4(3)-2020:2160-2169  
NHẬN DIỆN CÁC TRỞ NGẠI TRONG PHÁT TRIỂN RỪNG GỖ LỚN  
CỦA NÔNG HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NAM ĐÔNG,  
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ  
Lê Chí Hùng Cường*, Lê Thị Hoa Sen, Trần Thị Quỳnh Tiến,  
Nguyễn Duy Ngọc Tân, Trần Thị Phương Nhi  
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế.  
*Tác giả liên hệ: [email protected]  
Nhận bài:13/03/2020  
Hoàn thành phản biện: 19/05/2020  
Chấp nhận bài: 02/10/2020  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm nhận diện các vấn đề trong phát triển rừng gỗ lớn (RGL)  
trên địa bàn huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế. Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ 90 hộ trồng rừng  
ở 03 xã đại diện, phỏng vấn người am hiểu, thảo luận 03 nhóm nông dân. Dữ liệu thứ cấp được tổng  
hợp từ báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế, UBND các cấp,…Kết quả cho thấy, việc  
phát triển rừng gỗ lớn ở Nam Đông còn gặp phải các trở ngại sau: (i) Diện tích canh tác manh mún, độ  
dốc lớn, tầng đất mỏng; (ii) Nguồn gốc đất đa dạng gây khó khăn cho công tác quản lý; (iii) Nguồn  
giống và kỹ thuật canh tác không đồng nhất; (iv) Chi phí đầu tư thấp, nhân lực và cơ sở hạ tầng phục  
vụ nghề rừng còn hạn chế; (v) Bị động trong tìm đầu ra sản phẩm rừng trồng; (vi) Tâm lý sợ rủi ro của  
người dân khi sản xuất rừng gỗ lớn; (vii) Vai trò của hiệp hội chủ rừng còn mờ nhạt. Từ đó, định hướng  
03 nhóm giải pháp để giải quyết các vấn đề trên: Quy hoạch vùng sản xuất rừng gỗ lớn của nông hộ;  
Xây dựng kỹ thuật và nâng cao năng lực kỹ thuật sản xuất rừng gỗ lớn; Chính sách hỗ trợ hiệp hội chủ  
rừng và sản xuất rừng gỗ lớn của nông hộ.  
Từ khóa: Rừng sản xuất, Rừng gỗ lớn, Chuyển hóa rừng, Nam Đông  
IDENTIFICATION OF ISSUES IN DEVELOPING LARGE TIMBER  
FORESTS IN NAM DONG DISTRICT, THUA THIEN HUE PROVINCE  
Le Chi Hung Cuong*, Le Thi Hoa Sen, Tran Thi Quynh Tien,  
Nguyen Duy Ngoc Tan, Tran Thi Phuong Nhi  
University of Agriculture and Forestry, Hue University.  
ABSTRACT  
This study was conducted to identify problems in developing large timber forests in Nam Dong  
district, Thua Thien Hue province. Primary data was collected from 90 reforestation households in 03  
representative communes: Huong Phu, Huong Loc, Thuong Quang, by conducting in-depth interviews  
with experts and knowledgeable people as well as discussion with 3 groups of farmers. Secondary data  
was compiled from reports of Thua Thien Hue Forest Protection Department, People's Committees at  
all levels, ...The results of the study indicated that the development of large timber forests in Nam Dong  
district has faced the following issues: (i) Small and fragmented cultivated area with large slope and  
thin soil layer; (ii) Diverse origins of production land causing difficulties for management; (iii)  
Heterogeneous seed sources and farming techniques; (iv) Low investment costs, limited manpower and  
infrastructure for forestry activities; (v) Passivity in finding output for planted forest products; (vi)  
Farmers' fear of risks in producing large timber forests; (vii) The limited role of forest owners'  
associations. Since then, the study has orientated 03 solution groups for the above problems: planning  
fields for large timber production households; developing techniques and improving large timber forest  
production capacity; developing policies to support the activities of the forest owners' association and  
the production of large timber households.  
Keywords: Production forest, Large timber forest, Forest conversion, Nam Dong  
2160  
Lê Chí Hùng Cường và cs.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 4(3)-2020:2160-2169  
1. MỞ ĐẦU  
Lim, Gõ, Kiền, Kim giao và các động vật  
hoang dã, nhiều loại lâm sản ngoài gỗ có giá  
trị kinh tế cao. Tổng diện tích đất có rừng  
trong năm 2018 là 55.680,58 ha chiếm  
85,96% diện tích tự nhiên, trong đó rừng tự  
nhiên có 48.770,34 ha chiếm 87,6 % diện  
tích đất có rừng, chủ yếu thuộc đối tượng  
rừng đặc dụng và rừng phòng hộ. Rừng  
trồng có 6.910,24 ha chiếm 12,4% diện tích  
đất có rừng và chủ yếu thuộc đối tượng rừng  
sản xuất, đây là nguồn cung cấp gỗ nguyên  
liệu chủ yếu cho công nghiệp chế biến gỗ  
rừng trồng, hàng mộc dân dụng (UBND  
huyện Nam Đông, 2019).  
Theo Kế hoạch số 204/KH-UBND  
ngày 28/12/2016 của Ủy ban Nhân dân tỉnh  
Thừa Thiên Huế về việc phát triển rừng  
trồng gỗ lớn trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên  
Huế, phấn đấu đến năm 2020 xây dựng  
13.000 ha rừng trồng gỗ lớn, trong đó tỷ lệ  
rừng được cấp chứng chỉ FSC là 40% so với  
diện tích rừng gỗ lớn, tương đương 5.000 ha  
rừng trồng sản xuất sử dụng giống lâm  
nghiệp thân thiện với môi trường (Quốc  
Việt, 2017). Gỗ lớn trong đề tài này được  
hiểu là sản phẩm gỗ tròn khi khai thác, có  
đường kính từ 25 centimét trở lên và chiều  
dài sản phẩm tối thiểu là 03 mét (Bộ Khoa  
học và Công nghệ, 2016).  
Trong giai đoạn hiện nay, rừng trồng  
sản xuất, đặc biệt là sản xuất gỗ lớn có vị trí  
rất quan trọng trong chiến lược phát triển  
lâm nghiệp bền vững tại Việt Nam. Quyết  
định 38/2016/QĐ-TTg của Chính phủ nhấn  
mạnh việc hỗ trợ kinh phí cho trồng rừng gỗ  
lớn và các hoạt động hỗ trợ liên quan, kể cả  
hỗ trợ 70% chi phí cấp chứng chỉ quản lý  
rừng bền vững. Ngoài ra, các tổ chức Phi  
Chính phủ, các nguồn vốn viện trợ bên  
ngoài đầu tư cho phát triển rừng luôn chú  
trọng vào việc trồng rừng gỗ lớn có nguồn  
gốc hợp pháp, kinh doanh có trách nhiệm.  
Nhưng thay đổi được tư duy và phương thức  
sản xuất của người dân trồng rừng thực sự  
là một vấn đề khó cho ngành Lâm nghiệp.  
Lý do là hiện nay cộng đồng trồng rừng ở  
Việt Nam đã quá phụ thuộc vào thị trường  
gỗ dăm giấy từ Trung Quốc, một thị trường  
được đánh giá là rủi ro và khó bền vững.  
Chính vì vậy, muốn có thị trường bền vững  
thì chính cộng đồng trồng rừng cần thay đổi  
tư duy kinh doanh từ trồng rừng nguyên liệu  
cho mục đích sản xuất dăm giấy sang trồng  
rừng gỗ lớn.  
Trong năm 2016, được sự hỗ trợ kinh  
phí và kỹ thuật từ Dự án Mây Tre Keo bền  
vững (thuộc Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên  
nhiên - WWF), các nhóm hộ và doanh  
nghiệp tham gia chứng chỉ rừng FSC đã  
vượt qua kỳ đánh giá đầu tiên của Tổ chức  
Tư vấn Quốc tế (GFA), trong đó 14 nhóm  
hộ (241 hộ thành viên) tại 11 xã, phường  
thuộc 04 địa phương (huyện Phong Điền,  
Phú Lộc và thị xã Hương Trà, Hương Thủy)  
được cấp chứng chỉ FSC với diện tích là  
950,96 ha, Công ty TNHH Nhà nước MTV  
Lâm nghiệp Tiền Phong được cấp chứng chỉ  
FSC với diện tích là 3.096,4 ha. Bằng nguồn  
vốn hỗ trợ từ Chương trình Khuyến lâm  
Quốc gia, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thừa  
Thiên Huế phối hợp với Tổng cục Lâm  
nghiệp tổ chức trồng mô hình rừng thâm  
canh gỗ lớn trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên  
Huế với diện tích là 55,0 ha, gồm 34 hộ  
tham gia thuộc 03 xã khó khăn: Hồng Hạ,  
Hương Nguyên (huyện A Lưới), Hồng Tiến  
(thị xã Hương Trà); 02 xã miền núi: Bình  
Thành, Bình Điền (thị xã Hương Trà) và 01  
xã đồng bằng: Phường Hương Hồ (thị xã  
Hương Trà) (Quốc Việt, 2017).  
Với các lý do trên, đề tài này tập  
trung tìm hiểu hiện trạng và đặc điểm phát  
triển sản xuất rừng trồng và nhận diện các  
yếu tố cản trở làm cơ sở để đề xuất giải pháp  
hỗ trợ sản xuất rừng gỗ lớn của nông hộ.  
Với 87,5% diện tích đất tự nhiên,  
rừng Nam Đông có nhiều loại gỗ quý như  
2161  
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 4(3)-2020:2160-2169  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
giá trị trung bình, tần suất, tỷ lệ phần trăm  
(%) các nhóm ý kiến. Đối chiếu đặc điểm  
sản xuất rừng trồng với tiêu chí cấp chứng  
chỉ rừng gỗ lớn để xác định các yếu tố trở  
ngại.  
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là  
hoạt động trồng rừng sản xuất của nông hộ.  
03 xã: Hương Phú, Hương Lộc, Thượng  
Quảng được chọn làm địa bàn nghiên cứu.  
Nghiên cứu được tiến hành trong giai đoạn  
2018 - 2019 với phạm vi thời gian nghiên  
cứu 04 năm 2016 - 2019.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Hiện trạng và tiềm năng diện tích  
rừng trồng và sản xuất rừng gỗ lớn ở  
Nam Đông  
Thông tin thứ cấp gồm các báo cáo  
nông nghiệp, kinh tế xã hội của huyện, xã,  
đề án phát triển lâm nghiệp tỉnh, Báo cáo  
thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thừa  
Thiên Huế, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế.  
Thông tin sơ cấp gồm thông tin về thực  
trạng trồng rừng sản xuất của hộ, nhận thức  
của người dân về rừng gỗ lớn, các khó khăn  
và nhu cầu người dân khi phát triển theo  
định hướng rừng gỗ lớn được thu thập thông  
qua sử dụng bảng hỏi phỏng vấn hộ, thảo  
luận nhóm nông dân và phỏng vấn người  
am hiểu. Phỏng vấn hộ được tiến hành với  
90 hộ trồng rừng chọn ngẫu nhiên ở 03 xã.  
Phỏng vấn sâu tiến hành với 08 cán bộ Chi  
cục Kiểm lâm, cán bộ phụ trách nông  
nghiệp huyện, lãnh đạo xã, thôn và 03 thảo  
luận nhóm với nông dân trồng rừng nhiều  
kinh nghiệm, mỗi nhóm từ 6 - 8 nông dân.  
Nam Đông là một huyện miền núi  
thuộc phía Tây Nam tỉnh Thừa Thiên Huế.  
Tổng diện tích tự nhiên 65.194,6 ha trong  
đó, diện tích đất nông nghiệp có 62.455,6  
ha. Tổng diện tích đất có rừng trong năm  
2018 là 55.680,58 ha chiếm 85,96% diện  
tích tự nhiên, trong đó, rừng tự nhiên có  
48.770,34 ha chiếm 87,6 % diện tích đất có  
rừng, chủ yếu thuộc đối tượng rừng đặc  
dụng và rừng phòng hộ, trữ lượng rừng giàu  
thuộc đối tượng rừng sản xuất thấp, điều đó  
phù hợp với quy luật tất yếu của việc khai  
thác lợi dụng tài nguyên rừng dẫn đến giảm  
diện tích và trữ lượng rừng của trạng thái  
rừng giàu. Rừng trồng có 6.176 ha chiếm  
12,4% diện tích đất có rừng và chủ yếu  
thuộc đối tượng rừng sản xuất, đây là nguồn  
cung cấp gỗ nguyên liệu chủ yếu cho công  
nghiệp chế biến gỗ rừng trồng, hàng mộc  
dân dụng.  
Thông tin thu thập được phân tích  
bằng phương pháp phân tích thực trạng và  
phương pháp phân tích thống kê mô tả, gồm  
Bảng 1. Một số chỉ tiêu chủ yếu về phát triển lâm nghiệp của huyện Nam Đông  
giai đoạn 2018 - 2019  
Năm 2018  
Kế hoạch Ước thực hiện  
Kế hoạch  
năm 2019  
Chỉ tiêu  
Đơn vị tính  
năm 2018  
56.045  
6.176  
6.300  
6.000  
250  
năm 2018  
56.045  
6.176  
6.300  
6.000  
250  
- Tổng diện tích rừng hiện có  
- Diện tích rừng trồng  
- Chăm sóc rừng  
ha  
ha  
ha  
56.045  
6.176  
5.300  
5.000  
250  
+ Trong đó: rừng trồng  
ha  
- Làm giàu rừng (rừng đã giao cho Cộng đồng)  
- Quản lý rừng cộng đồng, hộ gia đình  
- Sản lượng khai thác gỗ rừng trồng  
- Gía trị thu hoạch 1 ha rừng trồng/chu kỳ  
- Tỷ lệ che phủ rừng  
ha  
ha  
6.756  
72  
80  
6.756  
73,2  
80  
6.756  
80  
80  
1.000 m3  
Tr. đồng  
%
83,3  
83,3  
83,4  
Nguồn: UBND huyện Nam Đông (2018)  
2162  
Lê Chí Hùng Cường và cs.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 4(3)-2020:2160-2169  
Trong những năm trở lại đây, việc  
giao đất giao rừng lâm nghiệp trên địa bàn  
được các cấp các ngành hết sức quan tâm  
nhằm mục tiêu đất đai phải có chủ thực sự,  
thực hiện việc khai thác sử dụng tài nguyên  
rừng và đất đai bền vững. Đặc biệt, công tác  
trồng rừng nhất là trồng rừng sản xuất đang  
được chính quyền địa phương cũng như  
ngành lâm nghiệp trong tỉnh coi trọng.  
Nguồn thu nhập từ hoạt động trồng rừng đã  
mang lại hiệu quả thiết thực cho người dân.  
được coi trọng.  
Sản lượng khai thác rừng trồng tăng  
đều trong những năm gần đây trên địa bàn  
tỉnh huyện, kế hoạch năm 2018 ước tính đạt  
73,2 nghìn m3, năm 2019 ước tính đạt trên  
80 nghìn m3. Giá trị sản xuất lâm nghiệp  
năm 2018 là 164,2 tỷ đồng, chiếm 30,7% tỷ  
trọng ngành nông nghiệp. Huyện đã xây  
dựng vùng sản xuất rừng gỗ lớn ở 2 xã  
Hương Phú (113,89 ha) và Thượng Nhật  
(31,61 ha).  
Công tác phát triển rừng cơ bản đã đi  
vào ổn định trong những năm qua. Công tác  
khoanh nuôi tái sinh rừng năm 2018 và kế  
hoạch năm 2019 ước tính đạt 33.000 ha.  
Công tác giao khoán rừng và cấp giấy  
chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp  
3.2. Đặc điểm đất đai và quy hoạch rẫy  
sản xuất rừng trồng của nông hộ  
Hình thức tiếp nhận quản lý đất đai  
các hộ trồng rừng bao gồm thừa kế, phân  
chia đất đai, khai hoang và các hình thức  
khác.  
Bảng 2. Đặc điểm đất trồng rừng của nông hộ  
Khả năng đáp ứng tiêu chí  
rừng gỗ lớn  
Chỉ tiêu  
Đơn vị tính Kết quả nghiên cứu  
Số rẫy rừng trồng của hộ  
Diện tích rẫy rừng trồng  
Khoảng cách đến rẫy  
Có chứng nhận sở hửu (sổ đỏ)  
Độ dốc đất từ trung bình trở lên  
Độ phì đất trung bình trở lên  
Thoát nước trung bình trở lên  
Xói mòn trung bình trở lên  
Rẫy  
Ha  
km  
% hộ  
% hộ  
% hộ  
% hộ  
% hộ  
1,4  
2,72  
1,97  
97,9  
73,1  
70  
Có thể đáp ứng  
Có thể đáp ứng  
Có thể đáp ứng  
Đáp ứng tốt  
Có thể đáp ứng  
Có thể đáp ứng  
Có thể đáp ứng  
Có thể đáp ứng  
80,6  
70,2  
Nguồn: Phỏng vấn hộ (2018-2019)  
Mặc dù đã thực hiện tốt chính sách  
giao đất giao rừng, cấp giấy chứng nhận  
quyền sử dụng đất cho các hộ, tuy nhiên,  
quy mô diện tích đất được giao để trồng  
rừng manh mún, thậm chí đan xen giữa các  
chủ rừng Nhà nước và hộ gia đình cũng như  
giữa các loại rừng với nhau, đặc biệt là ở các  
xã chưa được quy hoạch vùng trồng gỗ lớn.  
Địa bàn trồng rừng không thuận lợi về đất  
đai. Đất trồng rừng còn có độ dốc, mức độ  
đá lẫn lớn, tầng đất mỏng, nhiều loại đất có  
mức độ đá lẫn lên tới 60 - 70%.  
tích rừng do phục vụ các dự án phát triển cơ  
sở hạ tầng, bao gồm việc xây dựng các nhà  
máy thủy điện, hồ thủy lợi (Thượng Lộ -  
Hương Phú), đường dây điện và xây dựng  
đường giao thông (La Sơn - Túy Loan).  
Diện tích trồng mới đa phần ở các vùng xa.  
Các khu vực trồng này thường nằm trong  
vùng dễ tác động đến rừng tự nhiên.  
Khí hậu địa bàn huyện có hai mùa rõ  
rệt: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 2 năm  
sau, mùa nắng từ tháng 3 đến tháng 8. Nhiệt  
độ trung bình là 24,200C, thấp nhất là  
16,40C và cao nhất là 28,20C phù hợp với  
phát triển rừng gỗ lớn. Lượng mưa trung  
bình lớn (1.900 - 4.200 mm/năm) làm tăng  
nguy cơ xói mòn và gây khó khăn trong việc  
trồng, chăm sóc, khai thác rừng.  
Đặc điểm này sẽ làm tăng chi phí đầu  
tư sản xuất do tăng chi phí làm đường khai  
thác, tăng công bảo vệ rừng và phòng chống  
cháy, đồng thời việc quản lý sản xuất lâm  
nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn.  
Một số địa phương bị suy giảm diện  
2163  
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 4(3)-2020:2160-2169  
3.3. Đặc điểm sản xuất rừng trồng của nông hộ  
Bảng 3. Đặc điểm sản xuất rừng trồng của nông hộ  
Khả năng đáp ứng tiêu chí  
Chỉ tiêu  
Đơn vị tính Kết quả nghiên cứu  
rừng gỗ lớn  
Diện tích rừng trồng của hộ  
Mật độ trồng  
Chu kỳ sản xuất  
ha  
Cây/ha  
năm  
2,7  
3.570  
4,3  
Có thể đáp ứng  
Đáp ứng thấp  
Có thể đáp ứng  
Năng suất gỗ thu hoạch  
Giá bán  
Tổng thu  
Chi vật tư toàn chu kỳ  
Chi công toàn chu kỳ  
Tổng chi toàn chu kỳ  
Tấn/ha  
Tr/tấn  
Tr/ha  
Tr/ha  
Tr/ha  
Tr/ha  
101,4  
1,05  
102,4  
11,03  
5
-
-
-
Đáp ứng thấp  
Đáp ứng thấp  
Đáp ứng thấp  
16,03  
Nguồn: Phỏng vấn hộ (2018-2019)  
Tại Hương Phú, nơi đã được quy  
hoạch vùng trồng rừng gỗ lớn, diện tích  
trồng phổ biến từ 3 - 5 ha, còn các địa  
phương khác có diện tích nhỏ, xa khu dân  
cư, giao thông không thuận lợi. Điều này đã  
gây ảnh hưởng đến giá cả của rừng keo.  
do điều kiện không thuận lợi nên đa số  
người dân tập trung thu hoạch trước thời  
điểm xảy ra mưa lũ (trước tháng 9). Ở  
Thượng Quảng, thời gian thu hoạch tập  
trung từ tháng 10 đến tháng 12 dương lịch,  
một phần do điều kiện khai thác tương đối  
thuận lợi cũng như tâm lý người dân muốn  
khai thác vào mùa mưa để tăng khối lượng  
gỗ. Chu kỳ sản xuất keo phổ biến vẫn từ 4  
đến 5 năm. Giá bán keo giao động từ  
900.000 đồng/ tấn đến 1.100.000 đồng/ tấn.  
Trong các hộ trồng rừng, chủng loại  
gỗ khá đơn điệu. Thiếu giống tốt, năng suất  
cao đủ chất lượng làm gỗ lớn. Công tác  
quản lý giống còn xô bồ. Người dân đa số  
tự chủ động nguồn giống, nguồn gốc không  
rõ ràng, chạy theo lợi nhuận dẫn đến giống  
không đảm bảo chất lượng, cây sinh trưởng  
nhanh nhưng xốp, dễ gãy đổ, sâu bệnh,  
không phù hợp để kéo dài tuổi rừng.  
Về chi phí giống, trung bình mỗi cây  
keo có giá từ 600 - 700 đồng/ cây và tùy vào  
số lượng mua. Phần lớn người dân thường  
ít bón phân cho cây và loại phân bón chủ  
yếu là phân NPK và phân vi sinh. Để gieo  
trồng trung bình 01 hecta thuê từ 5 - 7 công  
với mỗi công có giá từ 200.000 - 250.000  
đồng. Còn lại là công lao động trong gia  
đình. Các chi phí khác bao gồm chi phí mua  
thêm cây giống để gieo trồng khi cây bị chết  
đi, chi phí thuốc bảo vệ thực vật…  
Riêng cây keo, người dân sử dụng là  
loại keo tai tượng và keo giâm hom (chiếm  
phần lớn). Với mật độ chuẩn để trồng keo là  
từ 2.000 cây đến 2.500 cây/ha, từ 1.300 cây  
đến 1.600 cây/ha đối với rừng gỗ lớn nhưng  
người dân lại muốn tăng thêm thu nhập nên  
đã tự ý trồng với mật độ dày hơn, mật độ  
trung bình có nơi lên tới là 3.810 cây trên 1  
ha cho nên chất lượng cây keo giảm đi đáng  
kể.  
Chu kỳ sản xuất rừng gỗ lớn thường  
từ 4 - 5 năm, một số hộ có chu kì từ 7 - 8  
năm nhưng với tâm lý lo sợ rủi ro xảy ra nên  
phần lớn các hộ gia đình thường chỉ sản xuất  
với chu kỳ 04 năm.  
Không thống nhất trong lịch thời vụ  
dẫn đến mâu thuẫn trong khai thác và gieo  
trồng thời vụ mới. Việc bố trí lịch thời vụ  
các hoạt động nông nghiệp, trong đó có  
trồng keo có sự khác biệt giữa các vùng.  
Thời điểm làm đất tập trung vào tháng 1,  
tháng 2 dương lịch; gieo trồng từ tháng 3  
đến tháng 5. Ở Hương Phú và Hương Lộc,  
Đối với hộ vùng núi có tính tự cung  
tự cấp cao, sử dụng lao động gia đình và  
không thuê mướn nhân công phục vụ trồng  
rừng, các khoản chi phí trồng rừng của các  
hộ này cũng không cao. Ví dụ như: không  
bón phân, công chăm sóc ít, đến chu kỳ khai  
2164  
Lê Chí Hùng Cường và cs.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 4(3)-2020:2160-2169  
thác các hộ này đa số bán cáp/ trụm nên  
không có chi phí khai thác. Nguồn nhân lực  
tham gia trồng rừng ngày càng “già hóa”,  
điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng  
tiếp thu các kiến thức mới, tham gia liên kết  
chuỗi, tuân thủ các yêu cầu về chứng chỉ  
bền vững, tiếp cận thị trường…  
đơn vị chức năng, chủ rừng nhà nước và một  
số dụng cụ thủ công của nhân dân sống ven  
rừng.  
Đối với địa phương có 03 kênh tiêu  
thụ sản phẩm phổ biến: Kênh thứ nhất:  
người sản xuất, hộ gia đình trồng rừng sản  
xuất tự khai thác bán lâm sản tại nhà máy;  
Kênh thứ hai: hộ gia đình trồng rừng bán  
cây đứng cho thương lái nhỏ, những thương  
lái nhỏ này tổ chức thuê dịch vụ khai thác,  
thuê dịch vụ vận chuyển về nhà máy bán;  
Kênh thứ ba: hộ gia đình trồng rừng bán cây  
đứng cho thương lái lớn, thương lái lớn này  
thuê công lao động khai thác và tự vận  
chuyển về nhà máy bán, đây là kênh tiêu thụ  
chính của các nông hộ trồng rừng.  
Trang thiết bị, vật chất kỹ thuật phục  
vụ hoạt động trồng rừng của các hộ khá đơn  
giản và thô sơ như: cuốc, rựa, rìu và một số  
hộ có máy cắt cỏ. Việc đầu tư trang thiết bị  
phục vụ trồng rừng là khá tốn kém, nhất là  
các trang thiết bị cho hoạt đồng trồng rừng  
quy mô lớn như: máy xúc, máy ủi, cưa máy,  
xe tải. Thêm vào đó, hoạt động trồng rừng  
trên địa bàn vẫn chưa tạo dựng được các  
vùng thâm canh rừng trồng lớn, quy mô  
diện tích vẫn còn thấp, đời sống người dân  
còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, trang thiết  
bị phục vụ cho trồng rừng còn hạn chế. Hệ  
thống đường giao thông chưa đồng bộ dẫn  
tới khó khăn trong khâu vận chuyển vật tư,  
cây giống, sản phẩm. Tuy nhiên, việc mở  
các đường lâm sinh phục vụ công tác trồng  
và chăm sóc rừng tạo cơ hội cho người dân  
tiếp cận dễ hơn với rừng tự nhiên, gây khó  
khăn cho công tác quản lý bảo vệ rừng tự  
nhiên, tăng nguy cơ lấn chiếm rừng tự  
nhiên, ảnh hưởng đến các loài động vật sống  
trong rừng. Hầu hết chính quyền các xã và  
chủ rừng tư nhân chưa đầu tư đúng mức cho  
công tác phòng cháy chữa cháy rừng nên  
hạn chế về phương tiện, dụng cụ tại chỗ; chủ  
yếu dựa vào phương tiện, dụng cụ của các  
3.4. Đánh giá của nông hộ về chuyển đổi  
sản xuất rừng trồng sang phát triển rừng  
gỗ lớn  
Mặc dù có rất nhiều tiềm năng, thế  
mạnh để phát triển lâm nghiệp và có sức  
cạnh tranh lớn về kinh tế rừng, nhưng hiện  
nay, rừng trồng ở huyện Nam Đông phần  
lớn là rừng sản xuất kinh doanh gỗ nhỏ. Sản  
phẩm gỗ chủ yếu cung cấp nguyên liệu sản  
xuất dăm giấy, hiệu quả lại không cao. Kết  
quả thảo luận nhóm ở 03 xã cho thấy, người  
dân đã có nhận thức được các lợi ích cũng  
như những khó khăn bất lợi sẽ gặp phải khi  
kéo dài độ tuổi rừng keo để khai thác gỗ lớn,  
trong đó vấn đề lo ngại và mang yếu tố  
quyết định nhất vẫn là kinh tế và rủi ro trong  
thời gian kéo dài.  
Bảng 4. So sánh lợi ích/bất lợi khi kéo dài tuổi thọ rừng keo  
Tăng/kéo dài tuổi thọ rừng keo (hơn 7 - 8 năm để bán gỗ lớn)  
Các chi phí tăng thêm/thiệt hại Các lợi ích có được  
Tăng sản lượng lên gấp đôi  
Tốn thêm công chăm sóc  
Không có tiền chi phí trước mắt  
Nguy cơ thiệt hại do thiên tai  
Nguy cơ bệnh nhiều hơn  
Thị trường tiêu thụ chưa đảm bảo  
Chưa có giống tốt, phù hợp  
Giảm diện tích sản xuất  
Tăng thu nhập (gấp 3)  
Có thể tận dụng thu keo nhỏ  
Giảm công trồng và giống  
Có lợi về môi trường  
Chống xói mòn  
Tăng độ phì cho đất  
Gặp khó khăn trong xử lý thực bì  
Không bố trí cây xen được với keo  
Lợi công khai thác  
Giảm thiệt hại do gia súc lớn phá hại  
Nguồn: Thảo luận nhóm (2019)  
2165  
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 4(3)-2020:2160-2169  
Với 01 ha rừng trồng, bình thường  
sau 05 năm cho thu hoạch được 100 - 105  
m3 gỗ và chỉ bán được khoảng 100 triệu  
đồng. Tuy nhiên, nếu cải tạo thành rừng gỗ  
lớn, sau 05 đến 07 năm nữa sẽ thu về từ 350  
- 500 m3 gỗ và giá trị tăng lên rất nhiều lần.  
Gỗ keo, tràm có thể làm các vật dụng trong  
nhà tốt như một số loại gỗ trong rừng tự  
nhiên. Thêm vào đó, hiện nay, nguyên liệu  
chế biến dăm giấy lại dư thừa, thị trường và  
giá thành tiêu thụ có xu hướng giảm, dẫn  
đến đời sống người làm rừng khó khăn...  
Hơn thế nữa, phát triển rừng gỗ lớn không  
chỉ mang lại mục tiêu lợi ích về kinh tế cao  
mà còn tăng tính phòng hộ của rừng, như:  
giảm xói mòn, chống sạt lở, rửa trôi đất...,  
góp phần bảo vệ môi trường sinh thái và  
chống biến đổi khí hậu. Hiệu quả là vậy, tuy  
nhiên, vì điều kiện kinh tế của hộ gia đình  
còn thấp và tâm lí sợ rủi ro khi để keo lên từ  
07 đến 08 năm nên người dân vẫn chưa thực  
sự mặn mà gì đến việc phát triển rừng gỗ  
lớn.  
Bảng 5. Nhận thức và khả năng của người dân khi tham gia phát triển rừng gỗ lớn (%)  
Sản xuất rừng gỗ lớn cần kéo dài chu kỳ sản xuất lên  
Không đồng ý  
Đồng ý  
Rất đồng ý  
7 - 8 năm  
Tăng độ tuổi rừng keo sẽ cho lợi nhuận cao hơn  
Tăng độ tuổi rừng keo sẽ tăng chất lượng gỗ  
Tăng độ tuổi rừng keo sẽ tăng rủi ro sâu bệnh hại  
Hộ có khả năng chi trả để kéo dài tuổi rừng  
Hộ sẽ mua thêm máy móc để phát triển rừng keo  
Rừng gỗ lớn sẽ bán cùng tác nhân gỗ dăm  
Hộ phải tìm thị trường khác để bán gỗ keo lớn  
Kéo dài tuổi rừng không tốn thêm chi phí lao động  
0,00  
0,00  
46,67  
63,33  
21,00  
31,00  
4,33  
29,00  
50,11  
32,22  
53,33  
36,67  
23,33  
1,11  
0,00  
7,78  
33,44  
59,33  
71,22  
46,56  
23,22  
54,45  
4,44  
0,00  
Nguồn: Phỏng vấn hộ (2018 - 2019)  
nên các hộ dân vẫn tiếp tục trồng rừng theo  
hướng truyền thống từ xưa đến nay.  
Nhận thức của người dân về các quan  
điểm như tăng độ tuổi rừng keo sẽ cho lợi  
nhuận cao hơn, tăng độ tuổi rừng keo sẽ  
tăng chất lượng gỗ. Tất cả dung lượng mẫu  
điều tra đều đồng ý 100 % với 02 quan điểm  
trên. Tuy nhiên, người dân không sẵn sàng  
trả thêm chi phí và đầu tư thêm máy móc để  
phát triển rừng gỗ lớn. Qua đó, ta thấy nhận  
thức của người dân về rừng gỗ lớn là rất tốt,  
tuy nhiên, vì nhiều lý do và tâm lý sợ rủi ro  
ảnh hưởng đến thu nhập kinh tế của gia  
đình, điều kiện kinh tế hộ không cho phép  
Một yếu tố nữa ảnh hưởng đến việc  
phát triển rừng gỗ lớn trên địa bàn là vai trò  
của các hiệp hội chủ rừng còn mờ nhạt. Tính  
đến nay trên địa bàn toàn tỉnh đã hình thành  
được 35 hiệp hội, trong đó, Nam Đông có 2  
hiệp hội đã thành lập được Hợp tác xã Phát  
triển bền vững ở Hương Phú và Thượng  
Nhật, theo đó người dân cũng thay đổi nhận  
thức về vai trò và lợi ích khi tham gia các  
hiệp hội chủ rừng.  
Bảng 6. Nhận thức của người dân khi tham gia hiệp hội chủ rừng  
Lợi ích  
Bất lợi  
Kiểm soát được giá bán  
Lợi công bảo quản, chăm sóc, quản lý  
Giảm chi phí đầu vào: giống, phân bón  
Một số hộ không muốn tham gia  
Không được tự do sản xuất, mua bán  
Mất thời gian hội họp, tập huấn  
Mở rộng thị trường, tiết kiệm chi phí vận chuyển Vướng mắc thủ tục pháp lý (quyền sử dụng đất)  
Thống nhất được quy trình kỹ thuật, lịch thời vụ Phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định, điều lệ, kỹ thuật  
Tăng đoàn kết cộng đồng  
Được chia sẻ kinh nghiệm sản xuất  
Khó khăn trong duy trì và vận hành hiệp hội  
Thiếu kinh nghiệm quản lý điều hành  
Nguồn: Thảo luận nhóm (2019)  
Các hộ dân khi tham gia Hiệp hội chủ  
rừng - Hội trồng rừng gỗ lớn thường sẽ có  
rất nhiều lợi ích như: Khi tham gia hiệp hội  
thì chủ hiệp hội sẽ có trách nhiệm tìm thị  
trường tiêu thụ, ban quản lý hiệp hội chủ  
rừng sẽ chia sẻ kinh nghiệm sản xuất cho  
2166  
Lê Chí Hùng Cường và cs.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 4(3)-2020:2160-2169  
người dân về cách thức trồng, quản lý và  
chăm sóc rừng keo một cách hiệu quả và  
thuận lợi nhất. Các chi phí như phân bón,  
giống được hiệp hội quản lý và hỗ trợ một  
phần cho những hộ khó khăn. Thống nhất  
được thời gian thu hoạch của keo, thời gian  
trồng mới rồi từ đó có thể liên kết với nhau  
về thời gian thu gom sản phẩm. Đồng thời  
gia tăng tính đoàn kết cộng đồng, dân cư và  
họ cùng nhau quản lý, bảo vệ tài sản của  
quốc gia nói chung và của bản thân nói  
riêng.  
Triển khai thực hiện quy hoạch đối  
với các diện tích nhỏ lẻ, nằm xen kẽ với các  
loại đất khác và khu dân cư nên giao cho  
dân để trồng rừng; đối với các vùng đất có  
khả năng trồng rừng tập trung thì nên có kế  
hoạch triển khai theo hình thức cuốn chiếu,  
trồng vùng nào xong vùng đó, tạo điều kiện  
thuận lợi trong việc đầu tư thâm canh, xây  
dựng hệ thống giao thông để thuận lợi cho  
việc chăm sóc và thu hoạch; đối với những  
vùng gần dân thì ưu tiên giao cho dân; đối  
với những vùng xa dân cư nên giao cho các  
tổ chức, các doanh nghiệp có điều kiện để  
đầu tư thuê khoán lao động theo từng công  
đoạn.  
Phần lớn ý kiến cho rằng cải thiện lợi  
nhuận rừng keo là lợi ích quan trọng nhất  
khi tham gia hiệp hội. Lợi ích tiếp theo là  
được hỗ trợ, trang bị thêm máy móc để sản  
xuất, đồng thời được bán chung gỗ với mọi  
người và được cán bộ tập huấn kỹ thuật  
trồng rừng sao cho đạt lợi nhuận cao nhất.  
Tuy vậy, một số hộ vẫn không muốn tham  
gia vì dòng tiền thu nhập của hộ bấp bênh  
theo từng tháng, từng năm. Mất tự do khi  
canh tác trên mảnh đất của chính họ nên họ  
cảm giác bị rào cản, khó khăn.  
Tiến hành quy hoạch đồng bộ, xây  
dựng các vùng nguyên liệu tập trung gắn  
với các nhà máy chế biến lâm sản. Đồng  
thời, các cơ quan chức năng cần có chính  
sách và phối hợp với các tổ chức đoàn thể  
vận động các hộ gia đình “dồn điền đổi  
thửa” nhằm tiết kiệm chi phí trồng.  
Xây dựng kế hoạch triển khai thực  
hiện thay thế các diện tích rừng trồng sản  
xuất trước đây có năng suất thấp. Quan tâm  
công tác quy hoạch phát triển mạng lưới chế  
biến lâm sản quy mô nhỏ và các trang trại  
lâm nghiệp. Tăng cường công tác giám sát,  
đánh giá thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát  
triển trồng rừng sản xuất, công khai các quy  
hoạch phát triển nông lâm nghiệp.  
3.5. Định hướng giải quyết trở ngại phát  
triển rừng gỗ lớn tại Nam Đông  
3.5.1. Quy hoạch vùng và rẫy sản xuất rừng  
gỗ lớn của nông hộ  
Rà soát lập quy hoạch và kế hoạch  
chi tiết cho từng vùng, từng loài cây. Hoàn  
thiện việc giao đất, giao rừng cho cá nhân,  
tổ chức theo Đề án giao đất giao rừng tại các  
địa phương đồng thời quy định rõ ràng các  
quyền sử dụng đất, sở hữu rừng, có thể  
chuyển nhượng, mua bán và thừa kế.  
3.5.2. Xây dựng kỹ thuật và nâng cao năng  
lực kỹ thuật sản xuất rừng gỗ lớn  
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 131 cơ  
sở sản xuất kinh doanh giống cây lâm  
nghiệp, trong đó 43 cơ sở có giấy phép đăng  
ký kinh doanh (05 cơ sở ở Nam Đông), 170  
vườn ươm, trong đó với khoảng 30 vườn  
ươm lâu dài, cung cấp 56 nguồn giống được  
công nhận (Nam Đông có 06 nguồn giống),  
01 cơ sở nuôi cấy mô. Từ những thuận lợi  
đó, cần tuyên truyền vận động nhân dân về  
vai trò công tác giống trong trồng rừng; kịp  
thời khuyến cáo để nhân dân sử dụng các  
giống mới có năng suất, chất lượng và hiệu  
quả kinh tế cao, nguồn gốc rõ ràng, được  
chứng nhận; từng bước sử dụng giống giâm  
hom hoặc cấy ghép mô để đưa vào sản xuất,  
Cần quy hoạch diện tích rừng trồng  
gỗ lớn với bao gồm đất của các công ty lâm  
nghiệp, các cộng đồng và các hộ gia đình  
mong muốn trồng rừng gỗ lớn theo lộ trình  
cho từng giai đoạn, có thể điều chỉnh tăng  
dần hướng tới diện tích lớn hơn và ổn định  
diện tích trồng rừng hàng năm. Bên cạnh đó,  
cần đưa vào Luật Bảo vệ phát triển rừng sửa  
đổi quy định việc chuyển đổi rừng trồng sản  
xuất gỗ lớn cho các mục đích phi lâm  
nghiệp phải theo quy định cho rừng đặc  
dụng để tránh chuyển đổi mục đích sử dụng  
tràn lan.  
2167  
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 4(3)-2020:2160-2169  
dần thay thế các giống ươm bằng hạt để rút  
ngắn thời gian sinh trưởng và cho năng suất  
cao hơn. Tăng cường công tác kiểm tra,  
kiểm định chất lượng giống trước khi đem  
trồng; kiểm tra giám sát chặt chẽ quy trình  
sản xuất và phối hợp với cơ quan quản lý  
nhà nước kiểm định chất lượng giống trước  
khi xuất vườn nhằm đảm bảo cung ứng đầy  
đủ số lượng, chất lượng.  
rừng sản xuất kinh doanh gỗ lớn kết hợp với  
chế biến gỗ. Rà soát các thủ tục về tiêu thụ,  
lưu thông gỗ và lâm sản theo hướng đơn  
giản hóa, loại bỏ các thủ tục không cần thiết.  
Khuyến khích hợp tác, liên kết sản xuất gắn  
với tiêu thụ gỗ được cấp chứng chỉ FSC chế  
biến phục vụ cho xuất khẩu.  
Cần xây dựng hướng dẫn kỹ thuật  
điều tra lập địa và trồng rừng thâm canh,  
chuyển hóa rừng trồng cung cấp nguyên  
liệu gỗ lớn; miễn hoặc giảm tiền thuê đất và  
thuế sử dụng đất đối những diện tích trồng  
rừng gỗ lớn, chuyển hóa rừng kinh doanh  
gỗ lớn; thí điểm chính sách bảo hiểm đối với  
rừng trồng kinh doanh gỗ lớn để người  
trồng rừng yên tâm đầu tư kinh doanh. Đặc  
biệt, cần sửa đổi các chính sách hiện hành  
về vay vốn tín dụng ưu đãi, thuận tiện cho  
các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân vay vốn  
đầu tư trồng rừng sản xuất gỗ lớn.  
Điều tra khảo sát quy hoạch chi tiết  
trồng rừng nguyên liệu, đánh giá thành phần  
cơ giới của đất, lập bản đồ thổ nhưỡng, làm  
căn cứ để khi tổ chức sản xuất sẽ có cơ sở  
để áp dụng chăm sóc, bón phân thích hợp,  
đưa lại hiệu quả cao; xác định loại cây trồng  
phù hợp với từng điều kiện lập địa cụ thể.  
Đưa vào sử dụng những giống cây bản địa  
thích nghi tốt, nhiều tiềm năng phát triển  
rừng gỗ lớn như Keo lưỡi liềm, Lim xanh,  
Sến trung, Sao đen, Lát hoa,… Điều kiện tự  
nhiên nơi trồng (khí hậu, đất đai) tốt thì nên  
trồng mật độ thưa, ngược lại thì nên trồng  
mật độ dày. Trong trường hợp sử dụng các  
giống giâm hom hoặc cấy ghép mô thì có  
thể tăng mật độ trồng lên 2.500 cây/ha và áp  
dụng tỉa thưa theo giai đoạn.  
Vận dụng và lồng ghép nguồn vốn  
của các chương trình, dự án trên địa bàn để  
hỗ trợ thực hiện trồng rừng sản xuất có hiệu  
quả hơn. Ưu tiên hỗ trợ nông dân khó khăn  
bằng các hình thức hỗ trợ kỹ thuật, giống,  
cho vay không lãi hoặc bù lãi suất tạo điều  
kiện ban đầu để phát triển trồng rừng sản  
xuất.  
Địa phương cần xây dựng quy trình  
kỹ thuật trồng, chăm sóc, trồng dặm rừng  
đối với từng loại cây cụ thể, hướng dẫn,  
khuyến cáo nông dân tuân thủ quy trình  
trồng đảm bảo kỹ thuật, nâng cao hiệu quả  
trồng rừng.  
Ưu tiên hỗ trợ kinh phí cho các hộ  
nghèo, hộ cận nghèo và phụ nữ trên địa bàn  
không có điều kiện trồng rừng sản xuất  
tham gia các hoạt động bảo vệ rừng, chế  
biến lâm sản quy mô nhỏ, tạo việc làm và  
tăng thu nhập ổn định cho họ.  
Cần thiết phải đầu tư thêm phân bón  
theo quy trình kỹ thuật của từng loài cây,  
tạo điều kiện cho cây sinh trưởng và phát  
triển tốt. Sau khi trồng phải tiến hành chăm  
sóc, bảo vệ rừng hạn chế cỏ dại và cây bụi  
chèn lấn cây trồng và hạn chế người và gia  
súc ra vào rừng tác động xấu đến cây trồng.  
Tăng ngân sách cho đầu tư xây dựng  
cơ sở hạ tầng phục vụ trồng rừng sản xuất,  
đặc biệt là đường giao thông và quy hoạch  
lại các vùng dân cư kinh tế mới; cung cấp  
các dịch vụ công như khuyến nông, hỗ trợ  
kỹ thuật, khuyến lâm. Đồng thời, tạo cơ chế  
áp dụng các định mức chuyên ngành phù  
hợp với tình hình thực tế và giá cả thị trường  
theo từng thời điểm trong lập các dự án đầu  
tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ lâm sinh.  
3.5.3. Chính sách hỗ trợ hoạt động hiệp hội  
chủ rừng và sản xuất rừng gỗ lớn của nông  
hộ  
Tiếp tục quan tâm ban hành các cơ  
chế, chính sách để các tổ chức, cá nhân  
thuận lợi tiếp cận các nguồn vốn vay. Có cơ  
chế hỗ trợ, ưu đãi đối với các chủ rừng quản  
lý rừng bền vững và được cấp chứng chỉ  
rừng. Khuyến khích, thu hút đầu tư trồng  
Tăng cường và nâng cao hiệu quả  
hoạt động của hiệp hội chủ rừng, các hợp  
tác xã phát triển rừng bền vững.  
2168  
Lê Chí Hùng Cường và cs.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 4(3)-2020:2160-2169  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Tài liệu tiếng Việt  
4. KẾT LUẬN  
Nam Đông có điều kiện tự nhiên  
tương đối thuận lợi cho việc trồng rừng sản  
xuất, tuy nhiên, diện tích canh tác của các  
nông hộ trên địa bàn huyện tương đối nhỏ  
và manh mún; người dân trồng rừng chủ yếu  
dựa vào kinh nghiệm và tập quán canh tác  
truyền thống. Mức độ đầu tư sản xuất không  
cao; nguồn giống không rõ ràng, kỹ thuật  
canh tác thiếu đồng nhất dẫn đến năng suất  
và thu nhập từ trồng rừng vẫn còn hạn chế.  
Bên cạnh đó, tâm lý sợ rủi ro trong giai đoạn  
kéo dài tuổi rừng và sinh kế còn kém đa  
dạng nên phần lớn người dân chưa mặn mà  
và không sẵn sàng cho việc chuyển hóa  
rừng sản xuất gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn.  
Báo ảnh Dân tộc miền núi, Thông tấn xã Việt  
Nam. (03/12/2018). Thừa Thiên - Huế tăng  
hiệu quả từ trồng rừng gỗ lớn. Khai thác từ:  
hue-tang-hieu-qua-tu-trong-rung-go-  
lon/204037.html  
Báo điện tử Nông nghiệp Việt Nam.  
(16/04/2019). Trồng rừng FSC ở TT-Huế  
được đánh giá cao. Khai thác từ:  
hue-duoc-danh-gia-cao-d240103.html  
Bộ Khoa học và Công nghệ. (2016). Tiêu chuẩn  
quốc gia TCVN 11567-1:2016 về Rừng  
trồng - Rừng gỗ lớn chuyển hóa từ rừng  
trồng gỗ nhỏ - Phần 1: Keo lai.  
Chi cục kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế. (2018,  
2019). Biểu mẫu Diễn biến diện tích rừng và  
đất quy hoạch phát triển Rừng, Biểu mẫu  
tổng hợp độ che phủ rừng.  
IUCN. (2018). Một số ghi nhận và khuyến nghị  
Hội thảo “Cải thiện chính sách và tài chính  
cho phát triển trồng rừng gỗ lớn ở Việt  
Nam”. Đà Nẵng.  
Sở Nông nghiệp và Phát triên nông thôn Thừa  
Thiên Huế. Đề án nâng cao chất lượng giống  
cây trồng lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa  
thiên Huế giai đoạn 2018 - 2025.  
Để thúc đẩy việc phát triển rừng gỗ  
lớn trên địa bàn, địa phương cần quy hoạch  
vùng sản xuất rừng gỗ lớn cụ thể, thực hiện  
dồn điền đổi thửa; lựa chọn chủng loại và  
nguồn giống phù hợp với điều kiện lập địa.  
Cần thống nhất quy trình kỹ thuật và chú  
trọng đầu tư phân bón, chăm sóc đặc biệt là  
những năm đầu chu kỳ sản xuất. Quan tâm  
đến chính sách tín dụng cho các hộ trồng  
rừng; khuyến khích, thu hút đầu tư trồng  
rừng sản xuất kinh doanh gỗ lớn kết hợp với  
chế biến gỗ; nâng cao vai trò và hiệu quả  
hoạt động của các hiệp hội chủ rừng và các  
hợp tác xã phát triển rừng bền vững.  
2. Tài liệu tiếng nước ngoài  
Forest Stewardship Council®. The FSC  
National Forest Stewardship Standard of  
Vietnam National Standard (NS) V(1-0).  
(2018).  
centre/documents/resource/426  
Khai  
thác  
từ  
2169  
pdf 10 trang yennguyen 9400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nhận diện các trở ngại trong phát triển rừng gỗ lớn của nông hộ trên địa bàn huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhan_dien_cac_tro_ngai_trong_phat_trien_rung_go_lon_cua_nong.pdf