Đánh giá tình hình phát triển một số loài lâm sản ngoài gỗ ở huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế

HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 4(1)-2020:1766-1775  
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN MỘT SỐ LOÀI LÂM SẢN NGOÀI GỖ Ở  
HUYỆN A LƯỚI, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ  
Lê Quang Vĩnh*, Hoàng Huy Tuấn, Nguyễn Duy Phong,  
Hoàng Dương Xô Việt, Lê Thị Phương Thảo,  
Trường Đại học Nông lâm, Đại học Huế  
*Tác giả liên hệ: [email protected]  
Nhận bài:07/10/2019 Hoàn thành phản biện: 23/12/2019  
Chấp nhận bài: 05/01/2020  
TÓM TẮT  
Trên địa bàn huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế có nhiều chương trình, dự án và các  
mô hình trồng lâm sản ngoài gỗ (LSNG) của người dân đã góp phần không nhỏ cho việc  
phát triển LSNG của huyện. Tuy nhiên hiện nay chưa có đề tài nghiên cứu nào làm rõ thực  
trạng phát triển LSNG ở huyện A Lưới, do vậy đề tài đã tiến hành đánh giá hiện trạng và đề  
xuất các giải pháp phát triển bền vững LSNG ở huyện A Lưới. Từ việc thu thập các thông tin  
có liên quan, sử dụng các phương pháp điều tra xã hội học (thảo luận nhóm, điều tra hộ gia  
đình, phỏng vấn các bên liên quan) đánh giá sinh trưởng, phát triển và hiệu quả của các cây  
trồng trong các mô hình LSNG, nghiên cứu này đã chỉ ra rằng: Các mô hình trồng Mây  
nước, Bời lời đỏ, Đoác sinh trưởng và phát triển tốt; các mô hình trồng LSNG không những  
tạo công ăn việc làm (hàng trăm công lao động/ha), tăng thu nhập cho hộ gia đình (lãi ròng  
có thể lên đến 120 triệu đồng/ha/năm), mà còn góp phần bảo tồn đa dạng sinh học. Trên cơ  
sở phân tích những thuận lợi, khó khăn, nghiên cứu này cũng đã đề xuất được các giải pháp  
nhằm phát triển bền vững LSNG trên địa bàn.  
Từ khóa: A Lưới, Hiệu quả, Lâm sản ngoài gỗ, Mô hình, Sinh trưởng  
EVALUATION ON DEVELOPMENT OF SOME NON-TIMBER FOREST  
PRODUCTS IN A LUOI DISTRICT, THUA THIEN HUE PROVINCE  
Le Quang Vinh, Hoang Huy Tuan, Nguyen Duy Phong,  
Hoang Duong Xo Viet, Le Thi Phuong Thao,  
University of Agriculture and Forestry, Hue University  
ABSTRACT  
Many programs, projects and models of Non-Timber Forest Products (NTFPs)  
implemented by local people/households in A Luoi district, Thua Thien Hue province,  
significantly contributing to the NTFPs’ development. However, there have not been any  
research projects to clarify the actual situation of NTFPs’ development yet. Therefore, this  
study was conducted to evaluate the current situation and propose solutions to the NTFPs’  
sustainable development. The study carried on collecting relevant information, using  
sociological survey methods (groups discussion, households survey, relevant stakeholder  
interviews), and investigating the growth and efficiency of NTFP models. The research  
results showed that NTFP planting models such as Rattan species (Daemonorops poilanei J.  
Dransf and Daemonorops jenkinsiana (Griff)), Litsea glutinosa (Lowr.) C.B.rob, Arenga  
pinnata (Wurmb) Merr have grown and developed well. NTFP planting models not only  
create jobs (hundreds working-days/ha) for local people, increase households income (net  
profit can be up to 120 millions VND/ha/year), but also contribute to biodiversity  
conservation. Based on the analysis of advantages and disadvantages, this study has also  
proposed solutions to NTFPs’ sustainable development in the district.  
Keywords: A Luoi, Effectiveness, Growth, Model, Non-Timber Forest Products  
1766  
Lê Quang Vĩnh và cs.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 4(1)-2020:1766-1775  
1. MỞ ĐẦU  
trình nghiên cứu nào đi sâu khảo sát, đánh  
giá tình hình phát triển LSNG nói chung và  
các mô hình LSNG của dự án và người dân  
nói riêng làm cơ sở cho việc nhân rộng các  
mô hình. Vì vậy việc đánh giá được hiện  
trạng phát triển LSNG, phân tích làm rõ  
những thuận lợi và khó khăn (từ các mô  
hình và qua thử nghiệm) nhằm đề xuất giải  
pháp phát triển bền vững các mô hình lâm  
sản ngoài gỗ ở huyện A Lưới, tỉnh Thừa  
Thiên Huế đang là vấn đề cấp thiết hiện  
nay.  
Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) có một  
vai trò to lớn cung cấp cho người dân  
những sản phẩm đa dạng phục vụ cho đời  
sống như: lương thực, thực phẩm, dược  
liệu, vật liệu xây dựng (Cục Lâm nghiệp,  
2007). Ngoài ra việc khai thác, mua bán  
các loại LSNG cũng mang lại việc làm và  
nâng cao thu nhập đáng kể cho người dân.  
Trong định hướng của ngành Lâm nghiệp  
đến năm 2020, lâm sản ngoài gỗ trở thành  
một phân ngành sản xuất trong lâm nghiệp,  
đưa giá trị lâm sản ngoài gỗ xuất khẩu tăng  
bình quân 10-15% và đến năm 2020 đạt  
700-800 triệu USD/năm, bằng 30-40% giá  
trị xuất khẩu gỗ (Bộ Nông nghiệp và Phát  
triển nông thôn, 2006).  
2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
2.1. Nội dung nghiên cứu  
1) Điều tra tình hình phát triển một  
số loại lâm sản ngoài gỗ ở huyện A Lưới.  
A Lưới là huyện vùng cao của tỉnh  
Thừa Thiên Huế, có diện tích tự nhiên  
122.464 ha, trong đó diện tích rừng tự  
2) Đánh giá hiệu quả các mô hình  
lâm sản ngoài gỗ phát triển trên địa bàn.  
3) Phân tích những thuận lợi, khó  
khăn về phát triển các mô hình lâm sản  
ngoài gỗ ở huyện A Lưới.  
nhiên  
là  
86.647,16  
ha  
sống của đồng bào dân tộc thiểu số ở đây  
vẫn còn nhiều khó khăn nên các sản phẩm  
khai thác LSNG từ rừng đã góp phần nhiều  
trong giải quyết lương thực, thực phẩm và  
tăng thêm thu nhập cho người dân. Tuy  
nhiên việc khai thác tự phát quá mức đã  
khiến cho nguồn lâm sản ngoài gỗ bị suy  
giảm nhiều cả về số lượng lẫn chất lượng  
sản phẩm (Lê Quang Vĩnh và cs., 2017).  
4) Đề xuất các giải pháp phát triển  
bền vững lâm sản ngoài gỗ ở huyện A  
Lưới  
2. 2. Phương pháp nghiên cứu  
2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ  
cấp  
Thu thập số liệu về điều kiện tự  
nhiên, kinh tế, xã hội từ các cơ quan chính  
quyền của huyện A Lưới và thu thập thông  
tin các mô hình LSNG từ các tổ chức, dự  
án lâm nghiệp, người dân, trên Internet và  
các cơ quan liên quan.  
Trong tình hình thực tế hiện nay  
việc phát triển kinh tế bằng LSNG là một  
hướng đi mà các cấp chính quyền chú  
trọng nhằm cải thiện đời sống một bộ phận  
lớn người dân, đồng thời góp phần bảo tồn  
các loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị. Trước  
tình hình đó chính quyền các cấp, các tổ  
chức phi chính phủ đã triển khai các  
chương trình, dự án trồng LSNG và nhiều  
gia đình trên địa bàn đã mạnh dạn phát  
triển các mô hình LSNG và bước đầu đã  
mang lại những hiệu quả thiết thực. Tuy  
nhiên trong thời gian qua chưa có công  
2.2.2. Thu thập số liệu sơ cấp và xử lý số  
liệu  
- Sử dụng phương pháp đánh giá  
nông thôn có sự tham gia (PRA) thông qua  
phỏng vấn bán cấu trúc để thu thập thông  
tin đối với các đối tượng: Phỏng vấn cán  
bộ các ban ngành về cách thức quản lý và  
phát triển LSNG; Phỏng vấn cán bộ các xã  
1767  
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 4(1)-2020:1766-1775  
(12 xã trồng LSNG), người dân (30 hộ) và  
cán bộ quản lý dự án LSNG về tình hình  
phát triển LSNG trên địa bàn.  
Trong đó a là độ dày của vỏ cây Bời  
lời đỏ (được trích dẫn bởi Lê Quang Vĩnh  
và cs., 2016 . Trong qua trình điều tra,  
)
chúng tôi tính số cây thực tế trên các ÔTC,  
sau đó áp dụng các công thức nêu trên để  
tính trữ lượng vỏ.  
- Lựa chọn các mô hình LSNG để  
nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát  
triển của LSNG:  
+ Mô hình trồng cây Đoác: Do mô  
hình trồng Đoác ở các vườn hộ thường có  
diện tích nhỏ (500-1.000 m2) nên chúng tôi  
lập 3 ô mẫu ở 3 vườn hộ, mỗi ô mẫu chỉ  
lập 1ÔTC có diện tích 500 m2, đo đếm các  
chỉ tiêu sinh trưởng của tất cả các cây (Do,  
D1.3 m, số lá/cây, chiều cao vút ngọn).  
Thông qua các hộ gia đình, thu thập thông  
tin về số lượng rượu thu được tính trên 1  
ha theo công thức:  
+ Mô hình Mây nước: Chúng tôi  
tiến hành trên 3 xã đại diện (Hồng Trung,  
Hồng Kim, Hương Phong), lập 30 ô mẫu,  
mỗi ô mẫu lập 3 ÔTC diện tích 500 m2 (20  
m x 25 m) sau đó đo đếm các chỉ tiêu sinh  
trưởng của mây trong ÔTC: đường kính  
gốc (D0), chiều dài vút ngọn (Hvn), số lá  
trên cây. Riêng mô hình thử nghiệm chúng  
tôi tính thêm tỷ lệ sống. Để tính hiệu quả  
kinh tế của các mô hình Mây nước chúng  
tôi dựa vào các chỉ tiêu sau: Hệ số nhân  
giống của cây mây, cây khai thác phải có  
chiều dài thân ≥ 5,0 m, số cây/ha (N) có  
khả năng khai thác và tính trữ lượng (M)  
cây khai thác trung bình (kg/ha) nhân với  
đơn giá (Lê Quang Vĩnh và Hoàng Công  
Phúc, 2014).  
Vdd MH (L/ha) = V’dd cây TB x N  
Trong đó: Vdd MH: thể tích dung dịch  
từ buồng trái của cây trong mô hình  
(L/ha), V’dd cây TB: thể tích dung dịch từ buồng  
trái trung bình của cây trong mô hình  
(L/cây), N: mật độ (cây/ha) (Lê Quang  
Vĩnh và Hoàng Công Phúc, 2014).  
+ Mô hình Bời lời đỏ: Căn cứ vào  
diện tích trồng cụ thể qua các năm để lập  
tỷ lệ các ô mẫu cho phù hợp, mỗi ô mẫu  
lập 3 ÔTC diện tích 500m2 (20m x 25m)  
cho mỗi độ tuổi để thu được các chỉ tiêu  
sinh trưởng trong mô hình. Tính trữ lượng  
vỏ/ha áp dụng theo công thức:  
- Phương pháp tính hiệu quả kinh tế  
của các mô hình phát triển lâm sản ngoài  
gỗ: Sử dụng công thức: NPV = BPV -  
CPV, trong đó NPV là giá trị hiện tại  
thuần, BPV là giá trị hiện tại của thu nhập,  
CPV là giá trị hiện tại của chi phí; đồng  
thời tính tỷ lệ thu nhập trên chi phí: BCR =  
BPV/CPV (Lê Quang Vĩnh, 2013). Để tiện  
so sánh, chúng tôi tính hiệu quả kinh tế cho  
cả chu kỳ, sau đó tính ra hàng năm (chia  
cho số năm của chu kỳ sản xuất).  
Vvỏ/ha = N*Vvỏ/cây  
Trong đó: Vvỏ/ha là trữ lượng của vỏ  
Bời lời đỏ/ha (m3/ha); N: mật độ trồng  
(cây/ha) và Vvỏ/cây là thể tích vỏ/cây  
(m3/cây). Thể tích vỏ/cây được tính theo  
công thức:  
Các số liệu điều tra, đo đếm được xử  
lý bằng phần mềm EXCEL 2010, đối với  
các mô hình LSNG khảo sát điều tra,  
Vvỏ/cây = Vcây – Vgỗ/cây  
ꢁ
chúng tôi tính giá trị trung bình (ꢀ), độ  
Trong đó: Vvỏ: Thể tích của phần vỏ  
cây (m3); Vcây: Thể tích thân cây đứng (m3)  
và Vgỗ: Phần thể tích gỗ lõi sau khi đã tính  
trừ phần vỏ. Công thức tính  
lệch chuẩn (S), hệ số biến động (S%). Đối  
với mô hình thử nghiệm trồng Mây nước,  
chúng tôi tính thêm tiêu chuẩn t của  
Student để so sánh các chỉ tiêu sinh trưởng  
của mô hình thử nghiệm gồm công thức có  
bón phân và không bón phân.  
Vgỗ = [π*(D1.3 – 2a)2/4]*H*f  
1768  
Lê Quang Vĩnh và cs.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 4(1)-2020:1766-1775  
2.2.3. Các phương pháp phân tích  
* Tổng hợp một số kết quả về phát triển  
lâm sản ngoài gỗ ở huyện A Lưới  
- Phân tích hiệu quả xã hội: Thông  
qua các tiêu chí về giải quyết việc làm (số  
công lao động/ha/năm), mức độ tự lan rộng  
của các mô hình (số hộ tham gia/xã đại  
diện) và khả năng đáp ứng nhu cầu sản  
phẩm cho thị trường cao hay thấp (Lê  
Quang Vĩnh, 2013).  
Huyện A Lưới được nhiều tổ chức  
quốc tế quan tâm và được hưởng các chính  
sách của nhà nước nhằm bảo tồn và phát  
triển LSNG:  
- Dự án Mây bền vững do Tổ chức  
bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF) triển  
khai từ năm 2009 cho đến nay: Tổ chức hai  
lớp tập huấn và hình thành một số nhóm sở  
thích mây từ cộng đồng dân cư, đồng thời  
trồng thí điểm mô hình Mây nước thành  
công tại xã Hương Nguyên với diện tích 20  
ha và tiếp tục phối hợp lồng ghép với dự án  
147 trồng Mây nước tại 20/21 xã thuộc  
huyện A Lưới.  
- Phân tích hiệu quả bảo vệ tài  
nguyên, môi trường: Thông qua các tiêu  
chí về khả năng che phủ đất (diện tích  
trồng cây LSNG/diện tích đất rừng thực  
tế), bảo tồn đa dạng sinh học (số loài  
LSNG gây trồng) và cải thiện môi trường  
(khả năng hạn chế xói mòn đất, giữ nước,  
hấp thu khí cacbonic) (Lê Quang Vĩnh,  
2013).  
- Dự án Hành lang bảo tồn đa dạng  
sinh học Tiểu vùng Mê Kông mở rộng -  
Giai đoạn 2 (BCC): Từ năm 2014 – 2017  
đã hỗ trợ thực hiện trồng được 1.100 ha  
LSNG (Bảng 1). Trong đó năm 2014 và  
2015 trồng được 540 ha Mây nước, năm  
2016 và 2017 trồng được 504 ha Mây nước  
và 56 ha Ba kích (theo tỷ lệ 90% cây Mây  
nước và 10% cây Ba kích) cho 8 xã của  
huyện A Lưới.  
- Vận dụng phương pháp phân tích  
SWOT để phân tích những thuận lợi, khó  
khăn trong việc phát triển các mô hình  
LSNG làm cơ sở để đề xuất các giải pháp  
(https://xuhuongtiepthi.com).  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Phát triển lâm sản ngoài gỗ ở huyện  
A Lưới  
3.1.1. Các chương trình, dự án về phát  
triển lâm sản ngoài gỗ ở huyện A Lưới  
Bảng 1. Kết quả trồng LSNG của dự án BCC từ năm 2014 – 2017 tại huyện A Lưới  
Đơn vị tính: ha  
Hạng  
mục  
Hồng  
Kim  
17,5  
70,0  
50,0  
0,0  
Hồng  
Trung  
17,5  
50,0  
60,0  
Hồng  
Vân  
17,5  
50,0  
60,0  
0,0  
A
Hương Hương Hồng  
Hương  
Nguyên  
17,5  
50,0  
40,0  
Tổng  
Roàng Phong Lâm  
Hạ  
2014  
2015  
2016  
2017  
Tổng  
17,5  
60,0  
0,0  
0,0  
77,5  
17,5  
30,0  
40,0  
30,0  
117,5  
17,5  
50,0  
60,0  
70,0  
197,5  
17,5  
40,0  
50,0  
50,0  
157,5  
140,0  
400,0  
360,0  
200,0  
1.100,0  
50,0  
177,5  
0,0  
107,5  
137,5  
127,5  
Nguồn: Hạt Kiểm lâm A Lưới (2017)  
- Chính sách hỗ trợ trồng rừng sản  
đỏ và 220,20 ha Mây nước, trồng phân tán  
được 37,0 ha Bời lời đỏ và 215,11 ha Mây  
nước.  
xuất theo quyết định 147: Đã trồng được  
800,77 ha Bời lời đỏ và Mây nước. Trong  
đó trồng tập trung được 328,46 ha Bời lời  
1769  
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 4(1)-2020:1766-1775  
Bảng 2. Diện tích trồng các loại cây lâm sản ngoài gỗ thuộc dự án 147  
Đơn vị tính: ha  
Tăm vị tính:  
ha  
Tăm vị tín  
Mây  
0,00  
20,00  
0,00  
Phân tán  
Bời lời  
0,00  
37,00  
0,00  
Năm  
Bời lời  
130,20  
68,28  
Tổng số  
130,20  
88,28  
Mây  
0,00  
0,00  
0,00  
Tổng số  
0,00  
37,00  
0,00  
2010  
2011  
2012  
130,20  
125,28  
84,48  
84,48  
84,48  
2013  
2014  
2015  
274,56  
111,75  
74,50  
0,00  
0,00  
45,50  
328,46  
94,70  
83,50  
22,00  
220,20  
94,70  
83,50  
67,50  
548,66  
179,86  
28,25  
7,00  
0,00  
0,00  
0,00  
179,86  
28,25  
7,00  
Tổng số  
800,77  
215.11  
37,00  
252,11  
Nguồn: Ban quản lý rừng phòng hộ A Lưới (2017)  
trồng là 1650 hốc/ha (2 cây /hốc) với  
khoảng cách 2x3m và trồng vào đầu tháng  
5 năm 2016. Việc trồng và chăm sóc cây  
Mây nước do các nhóm hộ tại 2 xã tiến  
hành theo đúng quy trình đề ra.  
* Tình hình sinh trưởng của lâm sản ngoài  
gỗ ở các chương trình, dự án  
* Mô hình trồng cây Mây nước  
+ Mô hình thử nghiệm trồng Mây  
nước dưới tán rừng tự nhiên (đề tài nghiên  
cứu cấp Đại học Huế): Qua trao đổi, thảo  
luận với lãnh đạo chính quyền địa phương,  
kiểm lâm địa bàn, chúng tôi tiến hành mô  
hình thử nghiệm trồng cây Mây nước mỡ  
(Daemonorops poilanei J.Dransf) dưới tán  
rừng tự nhiên ở hai xã Hồng Bắc và Hồng  
Thượng với quy mô mỗi mô hình 1,0 ha,  
độ tàn che khoảng 0,3 – 0,4. Do đất dốc  
nhiều và xấu nên chúng tôi bố trí mật độ  
Qua theo dõi chúng tôi nhận thấy cả  
hai mô hình đều có tỷ lệ sống trên 95%. Về  
khả năng sinh trưởng (Bảng 3) cho thấy:  
Mây nước trồng ở hai xã đều sinh trưởng  
tốt dưới tán rừng. So sánh giữa cây Mây  
nước có bón phân và không bón phân (theo  
tiêu chuẩn t của Student) cho thấy có bón  
phân cây sinh trưởng tốt hơn.  
Bảng 3. Tình hình sinh trưởng của Mây nước ở xã Hồng Thượng và Hồng Bắc  
Khu vực bón phân  
Do (cm) Hvn (m) số lá  
Khu vực không bón phân  
Chỉ  
tiêu  
Ghi chú  
Do  
Hvn (m)  
số lá  
Xã Hồng Thượng  
xꢂ  
0,8  
0,1  
11,6  
1,5  
0,2  
10,6  
0,37  
0,05  
13,2  
0,45  
0,05  
11,7  
2,9  
0,6  
20,9  
4,3  
0,8  
0,1  
11,6  
1,3  
0,1  
10,4  
0,37  
0,05  
13,2  
0,42  
0,05  
13,0  
2,9  
Đo ngày  
19/5/2016  
S
S%  
xꢂ  
S
S%  
0,6  
20,9  
4,0  
0,5  
12,8  
Đo ngày  
18/5/2017  
0,5  
12,4  
Xã Hồng Bắc  
2,8  
xꢂ  
S
S%  
xꢂ  
S
S%  
0,8  
0,1  
11,6  
1,4  
0,2  
12,4  
0,36  
0,05  
13,1  
0,44  
0,05  
12,0  
0,8  
0,1  
11,6  
1,2  
0,2  
13,0  
0,36  
0,05  
13,1  
0,40  
0,05  
11,7  
2,8  
0,1  
17,3  
3,9  
0,5  
13,4  
Đo ngày  
19/5/2016  
0,1  
17,3  
4,1  
0,5  
12,1  
Đo ngày  
18/5/2017  
trước đây, chúng tôi tiến hành đo đếm một  
số chỉ tiêu sinh trưởng của cây Mây nước  
trồng ở các xã Hồng Trung, Hồng Kim,  
Hương Phong của huyện A Lưới.  
+ Các mô hình trồng cây Mây nước  
của các chương trình, dự án: Kết hợp  
theo dõi sinh trưởng của cây Mây nước ở  
các chương trình, dự án trồng những năm  
1770  
Lê Quang Vĩnh và cs.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 4(1)-2020:1766-1775  
Bảng 4. Sinh trưởng của cây Mây nước ở các xã thuộc các chương trình, dự án  
Xã  
Dự án  
Chỉ tiêu  
D0 (cm)  
2,3  
0,32  
13,9  
2,7  
Hvn(m)  
1,38  
27,23  
19,7  
1,30  
0,3  
Số lá  
6,3  
1,0  
15,9  
6,2  
Ghi chú  
Đo tháng  
4/2017  
xꢂ  
S
S%  
xꢂ  
S
Hồng Trung  
Dự án BCC  
(trồng năm 2014)  
Đo tháng  
5/2017  
Hồng Kim  
Dự án BCC  
0,5  
1,1  
(trồng năm 2014)  
S%  
xꢂ  
S
18,5  
1,7  
0,4  
23,1  
1,00  
0,3  
17,7  
5,5  
0,9  
Đo tháng  
5/2017  
Chương trình 147  
(trồng năm 2013)  
Hương Phong  
S%  
25,0  
30,0  
16,4  
* Mô hình trồng Bời lời đỏ: Khi tìm  
hiểu việc trồng Bời lời đỏ tại địa bàn  
huyện A Lưới, chúng tôi nhận thấy xã  
Hồng Thủy là xã có diện tích trồng Bời  
lời đỏ lớn nhất với diện tích 188 ha nhờ  
sự hỗ trợ của Dự án 147 (từ năm 2012 –  
2016). Để làm rõ tình hình sinh trưởng  
của Bời lời đỏ ở các mô hình, chúng tôi  
đã tiến hành khảo sát mô hình trồng  
Bời lời đỏ xen sắn ở hộ ông Nguyễn  
Hải Sơn ở thôn Ba Kê 1, xã Hồng  
Thủy, huyện A Lưới (diện tích 2,0 ha,  
mật độ trồng 2.000 cây/ha).  
Cây giống Mây nước do các chương  
trình, dự án hỗ trợ có hai loại: Mây nước  
mỡ (Daemonorops poilanei J. Dransf), loại  
gai đỏ và Mây nước nghé (Daemonorops  
jenkinsiana (Griff)), loại gai màu đen. Qua  
khảo sát cho thấy sinh trưởng của Mây  
nước ở xã Hồng Trung và Hồng Kim (dự  
án BCC) khá đồng đều về chiều cao,  
đường kính gốc và số lượng lá, riêng Mây  
nước ở xã Hương Phong các chỉ tiêu thấp  
hơn (mặc dù trồng trước một năm).  
Nguyên nhân là do độ che phủ của rừng ở  
xã Hương Phong lớn, che bóng nhiều, nên  
phần lớn không đảm bảo được ánh sáng  
cho mây sinh trưởng nên độ biến động về  
các chỉ tiêu lớn.  
Bảng 5. Tình hình sinh trưởng của Bời lời đỏ trồng năm 2013  
Do (cm) D1.3 (cm) Hvn (m) Dt (m)  
Chỉ tiêu  
xꢂ  
7,1 4,8 4,3 1,8  
Đo ngày  
28.8.2016  
S
S%  
xꢂ  
1,4  
2,3  
1,2  
24,8  
9,6  
0,6  
1,0  
5,1  
0,4  
2,6  
2,0  
11,6  
Đo ngày  
27.8.2017  
S
S%  
3,1  
26,5  
2,8  
29,4  
1,6  
3,3  
0,3  
1,6  
Từ Bảng 5 cho thấy sinh trưởng của  
Bời lời đỏ có sự tăng trưởng rất rõ các chỉ  
tiêu về chiều cao vút ngọn (Hvn), đường  
kính gốc (Do), đường kính ngang ngực  
(D1.3), đường kính tán (Dt) qua các năm.  
Qua theo dõi chúng tôi nhận thấy ở xã  
Hồng Thủy đất khá tốt và khí hậu phù hợp  
nên cây Bời lời đỏ sinh trưởng rất tốt, có  
thể phát triển rộng trên địa bàn nếu hiệu  
quả kinh tế cao.  
1771  
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 4(1)-2020:1766-1775  
3.1.2. Các mô hình tự phát trồng lâm sản  
ngoài gỗ của người dân  
dân thường hay vào rừng khai thác cây  
Đoác và cây Đùng đình để lấy rượu,  
nhưng nay các loại cây này khan hiếm  
dần, bởi vậy một số hộ gia đình đã lấy  
cây con về trồng và phát triển trong  
vườn hộ của mình. Qua điều tra chúng  
tôi thấy xã A Ngo có số lượng hộ trồng  
và phát triển rất mạnh mô hình này,  
còn xã A Roàng chủ yếu khai thác từ  
rừng tự nhiên.  
* Mô hình trồng cây Đoác và cây Đùng  
đình: Xã A Ngo và xã A Roàng thuộc  
huyện A Lưới có tập quán chế biến  
rượu trích từ dịch đường của buồng hoa  
chưa nở của cây Đoác (Arenga  
pinnata) và cây Đùng đình (Caryota  
mitis) qua lên men với một ít vỏ cây  
chuồn (một loài cây gỗ trong họ Bứa)  
gọi là rượu Tà vạt. Trước đây người  
Bảng 6. Diện tích trồng cây Đoác và cây Đùng đình ở xã A Ngo  
Thôn  
Diên Mai  
A Ngo  
Số hộ  
4
3
3
2
Diện tích (m2)  
4.500  
Số cây  
45  
117  
130  
60  
Số cây/ha  
100  
524  
619  
1.000  
3.000  
1.049  
2.232  
2.100  
600  
500  
Tà Roi  
Pâr Nghi  
Bình Sơn  
Tổng số  
1
13  
150  
502  
9.932  
Như vậy tổng diện tích trồng Đoác và  
Đùng đình ở xã A Ngo gần 1,0 ha. Qua  
khảo sát cho thấy các cây Đoác và cây Đùng  
đình trồng thuần trong vườn của các hộ với  
mật độ khác nhau (do các hộ gia đình tự  
thiết kế trồng, không có quy trình chung) đều  
sinh trưởng và phát triển tốt, sau 5 năm đã có  
thể lấy rượu. Hiện tại người dân đã tiến hành  
khai thác các cây trồng trong vườn qua nhiều  
năm sau khi trồng. Cây Đoác và cây Đùng  
đình khai thác lấy được nước làm rượu  
ngon lúc đã có buồng (ra quả) và trong 1  
năm có thể lấy rượu trong khoảng thời gian  
2 - 3 tháng (còn lại là thời gian để cây hồi  
phục).  
bán tăng thêm nguồn thu, tuy nhiên nhiều  
người dân khi được hỏi cho biết họ chưa  
có ý định phát triển thành vườn vì Cọ bầu  
lâu ra lá nên nguồn thu nhập không cao so  
với trồng các loại cây trồng khác.  
* Một số mô hình trồng lâm sản ngoài gỗ  
khác  
- Tr ra Lồ Tr ra lá nên ngurồng lâm  
sản ngoài gỗ khácới trồng các loại cây trồng  
khác.n thu, tuy nhiên nhiều người dân khi  
được hỏi cho biết họ chưa có ý định phát  
tđồng thời sử dụng làm vật liệu đan lát hoặc  
làm phên che nhà cửa, làm hàng rào hoá nên  
ngurồng lâm sản ngoài gỗ khácới Lồg rào  
hoá nên ngurồng lâm sản ngoài gỗ khácới  
trồng các loại cây trồng khác.n thu, tuy nhiên  
nhiều người dân khi được hỏi cho biết họ c  
đình.- Trồng cây dược liệu: Mặc dù trong  
rừng có các loại cây dược liệu nhưng phải đi  
xa, không đáp ứng được nhu cầu trước mắt  
điều trị một số bệnh thông thường, do vậy  
nhiều hộ gia đình ở xã Hương Lâm, Hồng  
Hạ, Hồng Kim đã trồng một số cây dược liệu  
trong vườn như cây Nghệ, Gừng, Đinh lăng,  
Lá lốt, Diếp cá, cây Mật gấu…Đây là những  
* Mô hình trồng cây Cọ bầu: Ở xã Hương  
Nguyên có nhiều hộ trồng cây Cọ bầu  
(Livistona saribus) trong vườn vừa làm  
cây cảnh vừa sử dụng lá để làm vật liệu  
trang trí, đặc biệt có hộ đưa về trồng thành  
vườn để sử dụng làm vật liệu để lợp nhà và  
bán. Lá Cọ bầu được mua dùng để lợp  
quán, nhà sàn, nhà rông. Qua tìm hiểu cho  
thấy mặc dù trồng Cọ bầu trong vườn rất  
tiện lợi khi sử dụng làm vật liệu và có thể  
1772  
Lê Quang Vĩnh và cs.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 4(1)-2020:1766-1775  
mô hình nên phát triển để cung cấp cây dược  
liệu cho các hộ gia đình, cho thị trường, đồng  
thời giảm bớt việc vào rừng khai thác các  
cây dược liệu để chữa bệnh.  
Chúng tôi tiquả về kinh tếlâm sản ngoài gỗ  
ở huyện A Lưới thời giảm bớt việc vào  
rừng khai thác các cây dư ha tg tôi tiquả về  
3.2. Hiệu quả của phát triển lâm sản ngoài  
gỗ ở huyện A Lưới  
3.2.1. Hiệu quả về kinh tế  
Bảng 7. Dự tính hiệu quả kinh tế hàng năm của một số loại lâm sản ngoài gỗ  
Đơn vị tính: Đồng  
Năm  
NPV  
BPV  
CPV  
BCR  
3,0  
3,1  
Cây Mây nước  
Cây Bời lời đỏ  
Cây Đoác  
6.399.605  
9.802.543  
120.672.2  
9.663.150  
14.409.186  
188.791.56  
3.263.545  
4.606.643  
68.119.36  
2,8  
Qua Bảng 7 cho thấy: Đối với cây  
Mây nước có chu kỳ khoảng 20 năm cho  
lợi nhuận bình quân hàng năm là 6.399.600  
đồng/ha/năm, tỷ lệ thu nhập/chi phí (BCR)  
là 3,0. Mặc dù lợi nhuận không cao nhưng  
để làm giàu rừng và phát triển về lâu dài  
cần phải tiến hành phát triển Mây nước  
dưới tán rừng. Về cây Bời lời đỏ có chu kỳ  
kinh doanh 7 năm cho thu nhập khá cao:  
Tạo nhiều công lao động nhất trong năm là  
mô hình trồng Đoác: 124 công/ha, tiếp đến  
là Bời lời đỏ: 36 công và thấp nhất là mô  
hình Mây nước (12 công). Về khả năng lan  
rộng của mô hình (số hộ tham gia) thì mô  
hình Mây nước nhiều nhất (250 hộ), tiếp  
đến là Bời lời đỏ (188 hộ) và thấp nhất là  
mô hình trồng Đoác và Đùng đình (13 hộ).  
Về sản phẩm hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị  
trường thì Mây nước cao nhất, tiếp đến là  
Bời lời đỏ và thấp nhất là rượu Đoác.  
bình quân lợi nhuận  
hàng năm là  
9.802.543 đồng, tỷ lệ thu nhập/chi phí  
(BCR) là 3,1.  
Nhìn chung các mô hình đều có đáp  
ứng nhu cầu xã hội, tuy nhiên nếu xét ở  
khía cạnh đạt 3 tiêu chí thì mô hình Bời lời  
đỏ đáp ứng được và có tính bền vững hơn.  
Nhưng xét về tính độc lập không phụ thuộc  
vào sự hỗ trợ của các chương trình và dự  
án, thì mô hình trồng Đoác dễ phát triển  
lan rộng hơn.  
Đối với cây Đoác có chu kỳ 10 năm  
hiệu quả kinh tế rất cao, bình quân lợi  
nhuận hàng năm là 120.672.200 đồng, tỷ lệ  
thu nhập/chi phí (BCR) là 2,8. Hiện tại  
rượu Đoác và Đùng đình khai thác ra từ  
vườn trồng đều tiêu thụ được hết, tuy nhiên  
rượu lên men tự nhiên khó bảo quản, phải  
sử dụng ngay, do vậy nếu cung nhiều hơn  
cầu thì không có lãi, nên chỉ có một vài xã  
trồng và cung cấp cho toàn huyện.  
3.2.3. Hiệu quả bảo vệ sinh thái môi  
trường  
Việc trồng Mây nước dưới tán rừng  
với diện tích trồng lớn góp phần tăng thêm  
độ che phủ của thực vật rừng. Về phát triển  
Bời lời đỏ, do không có điều kiện nghiên  
cứu nên chúng tôi dựa vào nghiên cứu của  
Bảo Huy và các cộng sự (2009) cho thấy:  
Chu kỳ kinh doanh Bời lời đỏ biến động từ  
5 – 10 năm, thì lượng CO2 hấp thụ trong  
mô hình nông lâm kết hợp biến động từ 25  
– 84 tấn/ha, ứng với giá trị từ 9 – 30 triệu  
3.2.2. Hiệu quả xã hội của các mô hình  
Để xác định hiệu quả xã hội các mô  
hình LSNG, chúng tôi chọn 3 xã đại diện:  
Mô hình trồng Mây nước chọn xã Hồng  
Bắc, mô hình trồng Bời lời đỏ chọn xã  
Hồng Thủy, mô hình trồng Đoác chọn xã  
A Ngo. Để dễ so sánh, chúng tôi tính tất cả  
công lao động trong cả chu kỳ sau đó chia  
cho số năm của cả chu kỳ, từ đó cho thấy:  
1773  
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 4(1)-2020:1766-1775  
đồng/ha, đạt 20% tổng giá trị sản phẩm  
- Đối với mô hình trồng Đoác: giá  
Bời lời đỏ và Sắn. Mặt khác do độ che phủ  
của Bời lời đỏ lớn tương tự so với các rừng  
trồng keo, nên khả năng hạn chế xói mòn  
đất, giữ nước tốt, đóng góp rất lớn trong  
bảo tồn đất đai. Đối với mô hình trồng  
Đoác: cây Đoác hoặc cây Đùng đình có  
cành lá lớn, nhiều tầng lá nên độ che phủ  
cao, hạn chế xói mòn rửa trôi đất rất tốt.  
cây giống tính theo cây cảnh nên rất cao.  
Chưa có quy trình cụ thể cho việc trồng  
cây Đoác, mặt khác việc bảo quản rượu  
Đoác khó khăn, sản phẩm rất dễ hỏng.  
3.4. Giải pháp phát triển bền vững lâm  
sản ngoài gỗ tại địa bàn nghiên cứu  
3.4.1. Giải pháp chung  
Tiến hành tổng kết kinh nghiệm,  
đồng thời phổ biến những kỹ thuật mới  
trong trồng, khai thác, chế biến cho các  
nông hộ phát triển LSNG; kêu gọi đầu tư,  
hỗ trợ phát triển LSNG, xây dựng chiến  
lược quảng bá, tiếp thị sản phẩm, đồng thời  
hỗ trợ người dân nắm bắt thông tin thị  
trường tiêu thụ sản phẩm.  
3.3. Những thuận lợi, khó khăn trong  
phát triển lâm sản ngoài gỗ  
Từ việc phân tích SWOT về phát  
triển các mô hình LSNG cho thấy một số  
thuận lợi và khó khăn như sau:  
Về thuận lợi: Diện tích đất sản xuất  
lớn, nguồn giống LSNG đa dạng, điều kiện  
tự nhiên phù hợp với việc gây trồng phát  
triển các loài thực vật cho LSNG. Người  
dân có truyền thống về khai thác, bảo quản  
các loại lâm sản ngoài gỗ. Huyện A lưới có  
nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích  
phát triển LSNG và có nhiều hợp phần  
hoặc chương trình, dự án về phát triển lâm  
sản ngoài gỗ trên địa bàn.  
3.4.2. Giải pháp cụ thể phát triển các mô  
hình LSNG  
- Đối với mô hình Mây nước: Cần  
có chính sách hỗ trợ người dân từ lúc  
trồng, chăm sóc cây Mây nước; xây dựng  
nhiều cơ sở chế biến mây trên địa bàn để  
góp phần tạo nguồn đầu ra ổn định, giải  
quyết việc làm và tăng thu nhập cho người  
dân.  
Về khó khăn: Trình độ lao động trên  
địa bàn còn thấp, chưa có kinh nghiệm  
trong trồng và chăm sóc các loại cây lâm  
sản ngoài gỗ. Đầu ra sản phẩm chưa ổn  
định, nếu sản xuất theo hướng hàng hóa  
quy mô lớn sẽ có nguy cơ cung lớn hơn  
cầu.  
- Đối với mô hình trồng Bời lời đỏ  
lấy vỏ: Nên kết hợp các loại cây trồng khác  
với Bời lời đỏ, để nâng cao tỷ lệ sống, cải  
thiện độ phì cũng như tăng giá trị kinh tế  
cho mô hình. Xây dựng các vườn ươm Bời  
lời đỏ để giảm giá thành cây giống.  
- Đối với mô hình Mây nước: Phải  
trồng trên diện tích lớn nên nguồn giống  
khó khăn, người dân không thể tự túc kinh  
phí, Mây nước là loài cây có số năm từ lúc  
trồng đến thu hoạch dài mà không có sản  
phẩm phụ.  
- Đối với mô hình trồng Đoác lấy  
rượu: Nên có kế hoạch xây dựng các vườn  
ươm và quy hoạch cụ thể các xã có khả  
năng phát triển trồng Đoác, cần có quy  
trình cụ thể về trồng Đoác, đồng thời xây  
dựng thị trường đầu ra ổn định cho sản  
phẩm rượu Đoác.  
- Đối với mô hình trồng Bời lời đỏ:  
Nguồn giống trồng phải mua nơi xa,  
người dân không có vốn đầu tư nên trồng  
không bón phân, cây sinh trưởng không  
đồng đều. Tư thương thu mua sản phẩm  
thường hay ép giá.  
- Về phát triển cây dược liệu: Có thể  
phát triển các mô hình trồng cây thuốc tại  
các hộ gia đình nhằm không chỉ bảo tồn đa  
dạng sinh học, duy trì các bài thuốc dân  
1774  
Lê Quang Vĩnh và cs.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 4(1)-2020:1766-1775  
Cục lâm nghiệp. (2007). Kỹ thuật trồng một số  
cây đặc sản rừng và cây lâm sản ngoài gỗ.  
Hà Nội: NXB Nông nghiệp.  
gian mà còn có thêm nguồn thu nhập cho  
người dân.  
4. KẾT LUẬN  
Phân tích SWOT là gì và ứng dụng SWOT như  
thế nào?. (17/02/2016). Khai thác từ  
la-gi-va-ung-dung-swot-nhu-the-nao-  
b33.php  
1) Trên địa bàn có các chương trình,  
dự án đóng vai trò quan trọng trong phát  
triển LSNG, ngoài ra còn có các mô hình  
tự phát của người dân đã góp phần không  
nhỏ cho việc phát triển một số loài LSNG  
gỗ ở huyện A Lưới.  
Lê Quang Vĩnh. (2013). Giáo trình nông lâm  
kết hợp. Hà Nội: NXB Nông nghiệp Hà  
Nội.  
2) Các loại LSNG trồng trong các  
mô hình (Mây nước, Bời lời đỏ, Đoác)  
sinh trưởng và phát triển tốt, tăng thu nhập  
cho người dân, giải quyết việc làm, đa  
dạng hóa sản phẩm đáp ứng với nhu cầu  
của thị trường và đóng vai trò quan trọng  
trong bảo tồn sinh thái môi trường, bảo tồn  
đa dạng sinh học ở huyện A Lưới.  
Lê Quang Vĩnh, Hoàng Công Phúc. (2014).  
Đánh giá hiệu quả các mô hình lâm sản  
ngoài gỗ trên địa bàn một số huyện miền  
núi của tỉnh Quảng Trị. Tạp chí khoa học  
chuyên san nông nghiệp, sinh học và y dược  
- Đại học Huế, (6), 251-264.  
Lê Quang Vĩnh, Phạm Cường, Nguyễn Văn  
Vũ. (2016). Hiện trạng gây trồng và hiệu  
quả kinh tế các mô hình trồng bời lời đỏ  
(Litsea glutinosa (Lowr.) C.B.rob) ở huyện  
Mangyang, tỉnh Gia Lai. Tạp chí Nông  
nghiệp và Phát triển nông thôn, (24), 117 –  
125.  
3) Huyện A Lưới cần xem xét, thực  
hiện các giải pháp đề xuất nhằm phát triển  
LSNG bền vững trên địa bàn.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Bảo Huy. (5/2009). Ước lượng năng lực hấp  
thụ CO2 của Bời lời đỏ (Litsea glutinosa)  
trong mô hình nông lâm kết hợp Bời lời đỏ  
- Sắn ở huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai -  
Tây Nguyên. Mạng lưới Giáo dục Nông  
Lâm kết hợp Việt Nam (VNAFE).  
Lê Quang Vĩnh, Hoàng Huy Tuấn, Hoàng  
Dương Xô Việt, Nguyễn Duy Phong, Lê  
Thị Phương Thảo. (2017). Đánh giá thực  
trạng khai thác và tiêu thụ lâm sản ngoài gỗ  
ở huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế.  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông  
thôn, (3), 184 – 191.  
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.  
(2006). Quyết định số 2366 QĐ/BNN-LN,  
ngày 17 tháng 8 năm 2006 về việc phê  
duyệt Đề án bảo tồn và phát triển lâm sản  
ngoài gỗ giai đoạn 2006 – 2020. Khai thác  
UBND huyện A Lưới. Tự nhiên – Lịch sử -  
Truyền thống huyện A Lưới. (15/01/2015).  
Khai  
thác  
từ  
n=1&id=92&tc=2127  
từ  
2366qd-bnn-ln-de-an-bao-ton-phat-trien-  
lam-san-ngoai-go-2006-2020  
1775  
pdf 10 trang yennguyen 9160 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá tình hình phát triển một số loài lâm sản ngoài gỗ ở huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_tinh_hinh_phat_trien_mot_so_loai_lam_san_ngoai_go_o.pdf