Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển ngành lâm nghiệp giai đoạn 2011-2020 và định hướng đến năm 2030

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ  
PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NGÀNH LÂM NGHIỆP  
GIAI ĐOẠN 2011-2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030  
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam  
TÓM TẮT  
Trong những năm vừa qua, ngành lâm nghiệp Việt Nam đã giành được những thành tựu to lớn trong  
việc nâng cao diện tích, chất lượng rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, đẩy mạnh chế biến, xuất khẩu lâm sản  
và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, đặc biệt ở khu vực nông thôn, miền núi. Để đạt được  
thành công trên là nhờ có các chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Chính phủ trong việc phát triển lâm  
nghiệp, nông thôn miền núi mà đòn bẩy là phát triển nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Bộ Nông  
nghiệp và PTNT có các tổ chức nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ lâm nghiệp chính là Viện Khoa  
học Lâm nghiệp Việt Nam, Trường Đại học Lâm nghiệp, Viện Điều tra, Quy hoạch rừng và một số trường đại  
học khác. Trong giai đoạn 2011-2020, các nhiệm vụ KHCN của ngành đã được tập trung vào công tác chọn  
tạo giống cây lâm nghiệp nhập nội và bản địa chủ lực sản xuất gỗ lớn, cây lâm sản ngoài gỗ có năng suất,  
chất lượng và lợi thế cạnh tranh; Xây dựng các quy trình trồng rừng thâm canh cây gỗ lớn và cây lâm sản  
ngoài gỗ đạt hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với từng vùng trồng rừng trọng điểm; Xây dựng các quy trình  
công nghệ, thiết kế chế tạo thiết bị, nguyên liệu phụ trợ tiên tiến trong khai thác, bảo quản, chế biến gỗ, lâm  
sản ngoài gỗ đáp ứng yêu cầu trong nước và xuất khẩu; Xây dựng các giải pháp công nghệ phục vụ theo dõi,  
giám sát diễn biến tài nguyên, môi trường rừng, quản lý rừng bền vững thích ứng với điều kiện biến đổi khí  
hậu; Đổi mới mô hình tổ chức sản xuất lâm nghiệp đáp ứng yêu cầu thị trường và hội nhập. Các nhiệm vụ  
KHCN được thực hiện trong thời gian qua đã thu được những thành tựu đáng kể. Chỉ tính riêng trong giai đoạn  
2011-2020, đã có 134 giống được Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhận, trong đó có 15 giống quốc gia  
và 119 giống TBKT. Các giống keo và bạch đàn được công nhận đều có năng suất cao trung bình đạt từ  
25 - 40 m/ha/năm và đang được sử dụng phổ biến trong trồng rừng ở các vùng sinh thái trong cả nước. Đã  
xây dựng được 47 TCVN về công nghiệp rừng, 18 TCVN về giống & CNSH và 18 TCVN về kỹ thuật lâm  
sinh. Đã xây dựng được 13 TBKT về công nghiệp rừng, 7 TBKT về giống và CNSH, và 7 TBKT về kỹ  
thuật lâm sinh. Ngoài ra, rất nhiều các quy trình, hướng dẫn kỹ thuật cho các khâu từ chọn tạo giống, làm  
đất, trồng rừng, chăm sóc rừng tới khai thác, bảo quản, chế biến gỗ đã được xây dựng và đưa vào áp dụng  
trong thực tiễn sản xuất. Các kết quả này đã góp phần quan trọng cho sự phát triển chung của ngành Lâm  
nghiệp nước ta.  
Science Research and Technology Transfer for development of the Forestry Sector During  
the Period of 2011-2020 and Development Orientation to 2030  
Vietnamese Academy of Forest Sciences  
SUMMARY  
In recent years, the Forestry Sector of Vietnam has attained great achievements in terms of increasing  
forest area and quality, protecting ecological environment, promoting the processing and export of forest  
products, and improving the local livelihoods, particularly for people living in rural and mountainous areas.  
To achieve this success, it is thanks to the proper directions and policies of the Party and Government in  
developing forestry and rural mountainous areas, in which the lever is the development of scientific research  
and technology transfer. The Ministry of Agriculture and Rural Development (MARD) has the main forestry  
research and technology transfer organizations, namely Vietnamese Academy of Forest Sciences, Forestry  
University, Forest Inventory and Planning Institute and some other universities. In the period of 2011-2020,  
scientific and technological tasks of the Sector have focused on the selection of major native and exotic forest  
16  
tree varieties to produce large timber and non-timber forest products with high productivity, quality and  
competitive advantage; Development of technical procedures to plant intensive plantations of large trees and  
non-timber forest products of high economic efficiency; Development of technological procedures, design  
and manufacture of equipment and advanced auxiliary materials in exploiting, preserving and processing  
timber and non-timber forest products to meet domestic and export requirements; Development of  
technological solutions to monitoring and evaluation of changes in natural resources and forest environment,  
sustainable forest management that adapts to climate change conditions; Reform of the forestry production  
organizations to meet the market and integration requirements. Recent scientific and technological tasks have  
attained remarkable achievements. In the 2011-2020 period alone, 134 forest tree varieties were recognized  
by MARD, including 15 national varieties and 119 advanced technique varieties. Acacia and Eucalyptus  
varieties recognized have high average yield, from 25-40 m3/ha/year, and to be widely used for afforestation  
in the country. Over the past 10 years, the Sector has successfully developed 47 Vietnam standards for forest  
industry, 18 Vietnam Standards for seed & biotechnology, 18 Vietnam standards for silvicultural techniques,  
13 advanced techniques on forestry industry, 7 advanced techniques on seed and biotechnology, and 7  
advanced techniques on silvicultural techniques. In addition, a lot of technical procedures and guidelines for  
tree breeding selection/creation; site preparation, planting, tending and harvesting of plantation forests;  
preserving and processing of timber, have been developed and applied in forestry production. These results  
have significantly contributed to the overall development and achievement of the forestry sector.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Trong những năm vừa qua, ngành Lâm nghiệp Việt Nam đã giành được những thành tựu to  
lớn trong việc nâng cao diện tích, chất lượng rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, cải thiện hoạt  
động chế biến, xuất khẩu gỗ và lâm sản, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho  
người dân nông thôn miền núi. Tính tới tháng 12/2019, tổng diện tích rừng của Việt Nam là  
14.609.220 ha, đạt tỷ lệ che phủ của rừng là 41,89% (tăng 23,9% so với năm 2002). Năm 2019,  
kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt 12,3 tỷ USD, xuất siêu 8,7 tỷ USD.  
Việt Nam đã xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tới trên 140 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới  
và trở thành quốc gia đứng thứ 5 trên thế giới, thứ hai châu Á và thứ nhất Đông Nam Á về xuất  
khẩu gỗ và sản phẩm gỗ.  
Để đạt được thành công như trên là nhờ có chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và  
Chính phủ trong việc phát triển Lâm nghiệp, nông thôn miền núi mà đòn bẩy là phát triển nghiên  
cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Trên cơ sở các chính sách lớn của Nhà nước và của  
ngành đã được ban hành như: Luật Khoa học và Công nghệ; Chiến lược phát triển Lâm nghiệp  
Việt Nam giai đoạn 2006-2020, Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020, Đề án  
tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp, Chương trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp bền vững giai đoạn  
2016-2020, Đề án Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng..., ngành Lâm nghiệp đã xây dựng  
và triển khai nhiều chương trình, nhiệm vụ KHCN. Công tác quản lý và triển khai các nhiệm vụ  
Khoa học công nghệ trong giai đoạn vừa qua đã có những thay đổi căn bản, các nhiệm vụ được  
thực hiện theo chuỗi, liên ngành và qua nhiều giai đoạn để đạt được sản phẩm nổi bật. Việc công  
nhận giống cây trồng lâm nghiệp mới và các tiến bộ kỹ thuật mới đã được quan tâm và đẩy  
mạnh. Qua đó đã góp phần bảo vệ và phát triển rừng, nâng cao năng suất và chất lượng rừng, đẩy  
mạnh phát triển công nghiệp chế biến, từng bước cải thiện đời sống vật chất, tinh thần người dân  
sống dựa vào rừng.  
Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ trở thành đất nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sẽ  
không thể thiếu sự đóng góp của ngành lâm nghiệp trong việc bảo vệ môi trường sinh thái,  
cung cấp nguyên vật liệu và nhu cầu thiết yếu cho chế biến lâm sản và phục vụ đời sống của  
người dân nông thôn miền núi. Do vậy, trong thời gian tới ngành lâm nghiệp nói chung và hoạt  
17  
động KHCN nói riêng cần có những hướng đi phù hợp với mục tiêu bảo vệ và phát triển rừng,  
góp phần phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của các cộng đồng dân cư nông thôn miền  
núi. Báo cáo tham luận “Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển  
ngành lâm nghiệp giai đoạn 2011-2020 và định hướng tới năm 2030” sẽ khái quát bức tranh  
chung về những hoạt động, thành tựu đã đạt được của KHCN ngành lâm nghiệp trong thời gian  
qua, đồng thời xác định được các tồn tại, khó khăn, trên cơ sở đó xây dựng định hướng phát  
triển cho thời gian tới.  
II. HỆ THỐNG TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ  
LÂM NGHIỆP THUỘC BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT  
Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và PTNT có 03 tổ chức nghiên cứu khoa học và chuyển giao công  
nghệ Lâm nghiệp chính, gồm: Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Trường Đại học Lâm nghiệp  
và Viện Điều tra, Quy hoạch rừng.  
- Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam là tổ chức sự nghiệp khoa học công lập, là một trong  
ba Viện hạng đặc biệt được nâng cấp từ năm 2011, trực thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT, Viện  
có chức năng nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, hợp tác quốc tế, đào tạo sau đại học và  
tư vấn trong lĩnh vực lâm nghiệp. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam hiện có 07 Viện và Trung  
tâm nghiên cứu chuyên đề có trụ sở tại Hà Nội và 06 Viện và Trung tâm nghiên cứu vùng có trụ sở  
đặt tại các vùng sinh thái chính trong của đất nước.  
- Trường Đại học Lâm nghiệp có 05 Viện nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ gắn  
với đào tạo và 03 Khoa chuyên ngành trực thuộc. Ngoài chức năng đào tạo, Trường Đại học Lâm  
nghiệp cũng đã tham gia công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong các lĩnh  
vực Giống, Công nghệ sinh học, Lâm sinh và Công nghiệp rừng.  
- Viện Điều tra, Quy hoạch rừng là tổ chức sự nghiệp công lập, trực thuộc Bộ Nông nghiệp  
và PTNT. Viện có chức năng điều tra cơ bản tài nguyên rừng; quy hoạch, thiết kế rừng và đất  
lâm nghiệp; nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ; đào tạo và hợp tác quốc tế; tư vấn và  
dịch vụ về kỹ thuật lâm nghiệp trong trong phạm vi cả nước. Viện Điều tra, Quy hoạch rừng hiện  
có 03 trung tâm nghiên cứu có trụ sở tại Hà Nội và 06 Phân viện Điều tra, Quy hoạch rừng có trụ  
sở đặt tại các vùng sinh thái chính trong cả nước.  
- Ngoài ra còn có các trường đại học khác cũng đã tham gia công tác nghiên cứu khoa học và  
chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực Lâm nghiệp như Trường Đại học Nông lâm Thủ Đức, Đại  
học Tây Nguyên, Đại học Nông lâm Huế, Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Đại học Nông lâm  
Bắc Giang.  
III. THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ LÂM  
NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2011 - 2020  
3.1. Mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm và kinh phí đầu tư cho nghiên cứu khoa học và chuyển  
giao công nghệ  
Trong giai đoạn 2011-2020, thực hiện Chiến lược nghiên cứu lâm nghiệp, Chiến lược phát  
triển lâm nghiệp và đặc biệt là Đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát  
triển nông thôn đã ban hành Quyết định số 986/QĐ-BNN-KHCN ngày 09/05/2014 về Kế hoạch  
thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp  
18  
theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, các đơn vị trực thuộc Bộ đã triển  
khai các hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực lâm nghiệp  
theo hướng nâng cao giá trị gia tăng của ngành và phát triển lâm nghiệp bền vững. Để thực  
hiện được các kế hoạch đó, ngành Lâm nghiệp đã đặt ra các mục tiêu và nhiệm vụ trọng tâm  
trong giai đoạn này như sau.  
3.1.1. Mục tiêu  
Mục tiêu của kế hoạch nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ lâm nghiệp giai  
đoạn 2011-2020 là đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa  
học công nghệ lâm nghiệp đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu ngành nông nghiệp và phát triển nông  
thôn theo hướng hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững gắn với xây dựng  
nông thôn mới.  
3.1.2. Nhiệm vụ trọng tâm  
Kế hoạch nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ lâm nghiệp giai đoạn vừa qua có  
một số nhiệm vụ trọng tâm như sau:  
- Triển khai các nhiệm vụ KHCN nhằm chọn tạo và phát triển sản xuất các giống cây lâm  
nghiệp sinh trưởng nhanh (keo, bạch đàn), cây bản địa làm gỗ lớn, cây lâm sản ngoài gỗ có lợi  
thế cạnh tranh cao.  
- Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ tiên tiến trong khai thác, chế biến gỗ, lâm sản  
ngoài gỗ và sản xuất các nguyên liệu phụ trợ trong sản xuất đồ mộc xuất khẩu và gỗ xây dựng từ  
nguồn nguyên liệu trong nước.  
- Ưu tiên nghiên cứu xây dựng gói kỹ thuật tối ưu về chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sang  
rừng cung cấp gỗ lớn, trồng lại rừng sau khai thác, trồng rừng mới theo hướng thâm canh, giá  
thành phù hợp cho từng nhóm cây trồng ở các điều kiện lập địa khác nhau để chuyển giao vào  
thực tiễn.  
3.1.3. Kinh phí đầu tư cho các nhiệm vụ KHCN lĩnh vực Lâm nghiệp  
Trong giai đoạn 2013-2020, tổng kinh phí KHCN cho lĩnh vực lâm nghiệp được cấp từ 71 tỷ  
tới 116 tỷ/năm, chiếm khoảng 10% tổng kinh phí cho các hoạt động KHCN của Bộ. So với năm  
2013 thì kinh phí của năm 2020 lĩnh vực lâm nghiệp tăng 29,33%. Đặc biệt, kinh phí cho các  
nhiệm vụ cấp Nhà nước tăng 45,87%, trong khi kinh phí cho các nhiệm vụ cấp Bộ giảm 8,61%  
(Bảng 1).  
Bảng 1. Kinh phí KHCN cho lĩnh vực lâm nghiệp giai đoạn 2013-2020 (triệu đồng)  
Hoạt động  
KHCN  
Năm  
2013  
Năm  
2014  
Năm  
2015  
Năm  
2016  
Năm  
2017  
Năm  
2018  
Năm  
2019  
Năm Tăng/giảm  
TT  
2020  
(%)  
Tổng kinh phí  
75.300  
77.090  
25.659  
20.250  
31.181  
71.642  
5.885  
78.648  
11.770  
20.435  
32.140  
95.539 103.389 116.702 97.151  
+29,33  
+45,87  
-8,61  
I
Nhiệm vụ cấp NN 15.392  
13.407  
27.150  
36.009  
9.069  
48.843 37.845  
II Nhiệm vụ cấp Bộ 27.628  
III Nhiệm vụ TX 32.280  
21.400  
31.181  
31.700 32.700 25.250  
36.009 35.159 34.056  
+5,50  
(Nguồn: Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường - Bộ Nông nghiệp và PTNT).  
19  
* Số lượng và kinh phí cấp cho các nhiệm vụ KHCN lâm nghiệp  
Bảng 2. Số lượng và kinh phí cấp cho các nhiệm vụ KHCN lĩnh vực Lâm nghiệp  
giai đoạn 2011-2020  
STT  
1
Loại nhiệm vụ  
Nhiệm vụ cấp Nhà nước  
Số lượng  
Kinh phí (triệu đồng)  
202.516  
95.012  
%
58  
28  
14  
1
37,39  
17,54  
9,79  
0,37  
1,38  
8,31  
47,21  
41,45  
5,76  
15,40  
100  
1.2 Đề tài độc lập cấp Nhà nước  
1.2 Nhiệm vụ thuộc chương trình CHSH  
1.3 Nhiệm vụ thuộc Chương trình công nghệ cao  
1.4 Dự á n SXTN cấp Nhà nước  
1.5 Nhiệm vụ quỹ gen  
53.000  
2.000  
2
7.500  
13  
85  
71  
14  
9
45.004  
2
Nhiệm vụ cấp Bộ  
255.681  
224.481  
31.200  
2.1 Đề tài cấp Bộ  
2.2 Dự á n sản xuất thử nghiệm cấp Bộ  
3
Dự á n khuyến nô ng  
83.400  
Tổng số  
152  
541.597  
Bảng 2 cho thấy, trong giai đoạn 2011-2020, ngành Lâm nghiệp triển khai 152 nhiệm vụ  
KHCN các cấp (Nhà nước, cấp Bộ và dự án khuyến nông) với tổng kinh phí là 541,597 tỷ đồng.  
Trong số đó, có 58 nhiệm vụ cấp Nhà nước, kinh phí là 202,516 tỷ đồng, chiếm 37,39% tổng  
kinh phí KHCN của cả ngành. Cấp bộ có 85 nhiệm vụ với kinh phí là 255,681 tỷ đồng, chiếm  
47,21% tổng kinh phí. Cũng trong giai đoạn này, các tổ chức KHCN của Bộ đã triển khai 09 dự  
án khuyến nông với kinh phí là 83,40 tỷ đồng, chiếm 15,4% tổng kinh phí KHCN của cả ngành.  
3.2. Đổi mới trong quản lý NCKH và chuyển giao công nghệ  
Trong thời gian vừa qua, công tác quản lý, xây dựng và triển khai các hoạt động nghiên cứu  
khoa học và chuyển giao công nghệ lâm nghiệp luôn có sự đổi mới từ Bộ tới các đơn vị thực  
hiện. Các nhiệm vụ KHCN đã luôn bám sát Chiến lược phát triển ngành, Đề án tái cơ cấu ngành,  
các chương trình trọng điểm của Bộ và nhu cầu thực tiễn của ngành và thực tiễn sản xuất. Để  
quản lý KHCN hiệu quả, Bộ đã có các văn bản quy định việc phân cấp quản lý KHCN tới các  
đơn vị trực thuộc, đảm bảo sự chủ động và gắn trách nhiệm quản lý của các đơn vị. Các văn bản  
chỉ đạo, hướng dẫn luôn được tiến hành kịp thời, giúp việc xây dựng, triển khai các nhiệm vụ  
KHCN hiệu quả, đáp ứng các yêu cầu đặt ra.  
Để việc xây dựng và triển khai các nhiệm vụ KHCN được minh bạch, hiệu quả và tối ưu  
hóa được các nguồn lực, phần lớn các nhiệm vụ KHCN của Bộ được triển khai thông qua hình  
thức tuyển chọn. Công việc tổ chức các hội đồng tư vấn tuyển chọn, kiểm tra quá trình thực  
hiện, đánh giá hàng năm, giữa kỳ cũng như nghiệm thu được triển khai đúng quy định, kịp  
thời, hiệu quả, giúp cho các nhiệm vụ KHCN đi đúng hướng, đảm bảo tiến độ và đạt được các  
mục tiêu đề ra.  
Công nghệ thông tin cũng đã được ứng dụng mạnh mẽ trong công tác quản lý, xây dựng và  
triển khai các hoạt động KHCN của Bộ và các đơn vị thực hiện. Các văn bản điện tử đã dần thay  
các văn bản giấy truyền thống, giúp cho công tác chỉ đạo, xử lý công việc nhanh hơn, kịp thời và  
tiết kiệm hơn. Thêm vào đó, các đơn vị quản lý và thực hiện các nhiệm vụ KHCN đã tích cực  
20  
ứng dụng công nghệ thông tin trong việc trao đổi thông tin, quản lý hồ sơ, tài liệu, đảm bảo hiệu  
quả cho việc sử dụng, tra cứu và lưu trữ tài liệu, thông tin.  
Để tạo ra nhiều sản phẩm nghiên cứu hữu ích, các nhiệm vụ KHCN được xây dựng và thực  
hiện theo chuỗi, hướng đến các sản phẩm nổi bật ngay từ khi xây dựng thuyết minh nhiệm vụ.  
Đồng thời để tạo tiền đề cơ sở cho các nghiên cứu cấp Bộ đạt được hiệu quả cao hơn và nâng cao  
năng lực cho cán bộ nghiên cứu trẻ, từ năm 2019 ngoài các nhiệm vụ KHCN như thường niên,  
Bộ Nông nghiệp và PTNT đã bổ sung loại hình nhiệm vụ “tiềm năng cấp Bộ”. Đây có thể coi là  
một trong những đổi mới trong công tác quản lý và thực hiện các nhiệm vụ KHCN của Bộ. Đối  
với các đơn vị thực hiện là các đơn vị nghiên cứu, trên cơ sở kế hoạch được Bộ phê duyệt, vào  
quý 1 hàng năm, các cơ quan quản lý KHCN đã lên kế hoạch và làm việc với các đơn vị trực  
thuộc về kế hoạch triển khai các nhiệm vụ KHCN trong năm, qua đó giúp các đơn vị có kế  
hoạch, lộ trình tạo ra các sản phẩm nổi bật như công nhận giống mới, tạo ra các giải pháp hữu  
ích, các tiến bộ kỹ thuật... Bên cạnh đó, để thực hiện cơ chế tự chủ, các đơn vị cũng đã triển khai  
việc chi trả lương cho cán bộ nghiên cứu từ nguồn kinh phí thực hiện các nhiệm vụ KHCN, qua  
đó cũng đã từng bước nâng cao khả năng tự chủ của các đơn vị nghiên cứu khoa học và chuyển  
giao công nghệ.  
Công tác quảng bá, công bố các kết quả nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ lâm  
nghiệp cũng đã được đẩy mạnh. Các giống mới, các tiêu chuẩn quốc gia, tiến bộ kỹ thuật mới  
được ban hành đã được các đơn vị nghiên cứu và chuyển giao đưa vào sản xuất kịp thời. Các kết  
quả nghiên cứu cũng đã được chuyển giao vào sản xuất thông qua các dự án khuyến nông Ttrung  
ương, đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng như qua phóng sự truyền hình, trên các ấn  
phẩm sách, báo chí, tạp chí khoa học và đặc biệt là các công bố quốc tế. Qua đó đã góp phần đưa  
các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất.  
Ngoài ra, trong quá trình xây dựng và triển khai các nhiệm vụ KHCN, các đơn vị quản lý đã  
định hướng và chỉ đạo các đơn vị phải phối hợp với các địa phương nơi triển khai, đặc biệt là sự  
phối hợp với các doanh nghiệp để tăng cường nguồn kinh phí cho các nhiệm vụ và thông qua đó  
để chuyển giao nhanh, hiệu quả các kết quả nghiên cứu vào sản xuất.  
3.3. Những thành tựu đạt được trong giai đoạn 2011-2020  
3.3.1. Lĩnh vực chọn tạo giống và công nghệ sinh học lâm nghiệp  
- Đã có 134 giống được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận (trong đó có 15 giống quốc gia và  
119 giống TBKT) cho các loài keo lai, Keo tai tượng, Keo lá tràm, Keo lá liềm, Keo tam bội, Bạch  
đàn uro, Bạch đàn lai, Bạch đàn pellita, thông, Macadamia, Tràm năm gân, Sa nhân tím, Đàn hương,  
Dẻ ván ăn quả... Các giống keo và bạch đàn được công nhận đều có năng suất cao, trung bình đạt từ  
25-40 m/ha/năm và đang được sử dụng phổ biến trong trồng rừng trên phạm vi cả nước. Đặc  
biệt, giống Keo lá tràm AA9 trồng ở Đông Nam Bộ có năng suất đạt tới 34 m/ha/năm gấp hơn 3  
lần so với giống thông thường, tương đương năng suất của keo lai (đã giành giải thưởng Bông  
lúa vàng 2015).  
- Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Trường Đại học Lâm nghiệp đã bước đầu ứng dụng  
công nghệ sinh học trong chọn giống bằng các chỉ thị phân tử, kiểm định giống, rút ngắn thời  
gian chọn giống cho keo, Bạch đàn urophyla, Xoan ta; tạo được một số dòng tam bội keo có sinh  
trưởng vượt trội so với giống nhị bội, tỷ trọng gỗ cao, sợi gỗ dài hơn và bước đầu đã trồng thử  
21  
nghiệm tại hiện trường; tạo được một số dòng Xoan ta chuyển gen có tốc độ sinh trưởng tăng  
trên 50% so với cây đối chứng không chuyển gen.  
- Công nghệ nhân giống bằng mô đã được áp dụng khá phổ biến tại các địa phương để tạo  
cây con hàng loạt có chất lượng đồng đều, được phổ cập đến cấp tỉnh và một số vườn ươm lớn.  
Công nghệ nhân giống bằng hom phổ biến đến quy mô công ty lâm nghiệp, lâm trường với các  
vườn ươm ở quy mô vừa và nhỏ. Tỷ lệ sử dụng giống mới được cải thiện về năng suất và chất  
lượng trong trồng rừng kinh tế tăng lên khoảng 60%.  
- Đối với các loài cây bản địa cũng đã nghiên cứu chọn giống (cây trội), xây dựng các khảo  
nghiệm, vườn giống cho một số loài cây bản địa có triển vọng như Mỡ, Giổi xanh, Dẻ đỏ, Bời  
lời vàng, Lò bo, Dầu cát, Xoan mộc, Xoan nhừ, Xoan đào, Sồi phảng, Gáo trắng, Gáo vàng,  
Vối thuốc, Xoay, Huỳnh đường, Máu chó lá to, Thanh thất, Chiêu liêu nước, Chò xanh, Dẻ  
xanh, Cáng lò, Sa mộc, Tống quán sủ,...  
- Các giống Mắc ca được chọn tạo (OC, 246, 816 và 849) vừa có sinh trưởng vừa có sản  
lượng quả hạt cao. Tại Đắk Lắk, các dòng 741, 849, 246, 816, và OC có sản lượng hạt từ 5 - 8 kg  
hạt/cây ở tuổi 5,5 và tương đương với một số dòng ưu việt tại Hawaii - Mỹ. Các dòng Mắc ca  
này đều có thể nhân giống bằng phương pháp giâm hom và phương pháp ghép.  
- Trong giai đoạn vừa qua, các đơn vị nghiên cứu cũng đã xây dựng được 16 vườn giống  
cung cấp hạt giống các loài Keo tai tượng, Keo lá tràm, Keo lá liềm, Bạch đàn urophylla, Bạch  
đàn pelita. Đã xây dựng mới và duy trì trên 1.000 ha rừng giống chuyển hóa, rừng giống, vườn  
giống, vườn lưu giữ giống gốc, rừng khảo nghiệm giống để chọn tạo giống mới và thu hái hạt  
giống phục vụ các nghiên cứu và trồng rừng cho bạch đàn, thông, keo, các loài cây bản địa,  
LSNG, các loài cây vùng cát và vùng ngập mặn ven biển. Trung bình mỗi năm các đơn vị nghiên  
cứu đã chuyển giao hơn 500.000 cây giống gốc; sản xuất được trên 7 triệu cây giống thương  
phẩm keo, bạch đàn; trên 1 triệu cây bản địa, trên 5 nghìn cây Mắc ca cung cấp cho sản xuất.  
- Đã xây dựng các quy trình, hướng dẫn kỹ thuật nhân giống cho các loài keo, bạch đàn, quy  
trình giám định ADN và dữ liệu ADN cho 80 loài cây nghiên cứu, xây dựng phần mềm quản lý  
và khai thác cơ sở dữ liệu mã vạch ADN và HDKT nhân giống cho các loài cây bản địa và cây  
LSNG (Quế, Sa nhân, Hồi, Bương mốc, Hoàng liên ô rô, Hoàng tinh hoa trắng, Củ dòm, Đông  
trùng hạ thảo, Nấm linh chi, Nấm ăn cao cấp...).  
- Đã xây dựng hơn 20 TCVN về giống cây lâm nghiệp cho các loài cây trồng rừng chủ lực  
(keo, bạch đàn, thông, tràm) và cây lâm sản ngoài gỗ (Sở, Thảo quả, Quế, Hồi...). Đã xây dựng  
07 TBKT và đang xây dựng 03 TBKT về giống các loài cây trồng rừng chủ lực của Việt Nam.  
3.3.2. Lĩnh vực lâm sinh  
Đã xác định được tập đoàn các loài cây trồng rừng chủ yếu cho các vùng sinh thái, như vùng  
thấp (< 700m); vùng cao (> 700m); vùng lập địa khắc nghiệt; vùng cát ven biển, khô hạn; vùng  
xói lở ven sông rạch; vùng ngập mặn và san hô.  
Đã xây dựng được hướng dẫn kỹ thuật gây trồng rừng cho hơn 30 loài cây bản địa lấy gỗ  
phục vụ công tác trồng rừng gỗ lớn, trồng rừng phòng hộ, LSNG, làm giàu rừng, phục hồi hệ  
sinh thái; hướng dẫn kỹ thuật gây trồng cho cây ngập mặn và hoàn phục môi trường, thảm thực  
vật ở vùng Bô xít Tây Nguyên.  
Đã nghiên cứu 2 gói kỹ thuật tổng hợp cho trồng rừng thâm canh cung cấp gỗ lớn các loài  
keo, bạch đàn trên đất đã khai thác 2 chu kỳ và đất trồng mới; tiếp tục nghiên cứu xác định biện  
22  
pháp và kỹ thuật gây trồng cung cấp gỗ lớn cho một số loài cây bản địa như Dẻ đỏ, Bời lời vàng,  
Sa mộc, Thanh thất, Chiêu liêu, Xoan nhừ, Xoan đào, Mỡ, Hoàng liên ô rô, Phay...; xác định  
được cơ sở khoa học để chuyển hóa rừng cung cấp gỗ nhỏ thành rừng cung cấp gỗ lớn cho các  
loài keo, bạch đàn, Sa mộc; đã nghiên cứu và xác định được cấu trúc của một số kiểu rừng/trạng  
thái rừng phòng hộ đầu nguồn ở Tây Nguyên.  
Đã đánh giá thực trạng và các nguyên nhân suy thoái rừng ngập mặn tại một số vùng sinh  
thái trọng điểm ven biển Việt Nam (Bắc Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ), nghiên cứu xác  
định các biện pháp kỹ thuật tổng hợp gây trồng các loài cây ngập mặn như Đâng, Đưng, Bần  
trắng, Bần không cánh; Xây dựng các giải pháp tổng thể cho quản lý rừng chắn sóng ven biển.  
Đã xác định được đặc điểm sinh học của nấm Ceratocystis sp. gây bệnh chết héo trên keo  
lai, Keo lá tràm và Keo tai tượng, Sâu róm xanh ăn lá hại Quế, Sâu đo ăn lá, Mọt đục thân keo tai  
tượng và Sâu róm thông, Sâu róm 4 túm lông hại Thông nhựa; dự tính, dự báo và xác định được  
biện pháp phòng trừ loài Sâu đo ăn lá, Mọt đục thân Keo tai tượng và Sâu róm thông, Sâu róm 4  
túm lông hại Thông nhựa.  
- Đã xác định được một số giải pháp kỹ thuật phục hồi rừng tự nhiên (Xúc tiến tái sinh tự  
nhiên, nuôi dưỡng rừng, làm giàu rừng bằng các biện pháp trồng bổ sung các loài cây kinh tế  
theo băng, hàng, đám trống); Xây dựng được phương pháp lập biểu thể tích gỗ thân, cành, ngọn  
cây đứng cho một số loài cây khai thác chủ yếu trong rừng tự nhiên ở Việt Nam, bảng tra khối  
lượng thể tích gỗ các loài của 3 kiểu rừng (rụng lá, lá rộng thường xanh và bán thường xanh) ở  
Tây Nguyên; Xác định được trữ lượng carbon của 3 kiểu rừng trên và xây dựng hướng dẫn  
phương pháp xác định lượng carbon tích luỹ đối với rừng tự nhiên ở Tây Nguyên, góp phần phục  
vụ kiểm kê khí nhà kính, các hoạt động liên quan đến giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái  
rừng; Nghiên cứu và hoàn thiện được phương pháp dự báo và phần mềm cảnh báo cháy rừng ở  
Việt Nam; Ứng dụng công nghệ không gian địa lý (viễn thám, GIS và GPS) trong giám sát tài  
nguyên rừng với độ chính xác cao (trên 80%).  
Đã xây dựng 76 ô tiêu chuẩn định vị để nghiên cứu cơ sở lâm học trên 4 kiểu rừng (Rừng lá  
rộng thường xanh, Rừng khộp, Rừng ngập mặn và Rừng tràm) ở Việt Nam và phần mềm quản lý  
dữ liệu ô tiêu chuẩn định vị, từ kết quả đó xây dựng các giải pháp xúc tiến tái sinh; cải thiện tổ  
thành rừng các loài cây có giá trị kinh tế cao.  
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã phối hợp với Tổng cục Lâm nghiệp triển khai xây  
dựng hai bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững (FM) và chuỗi hành trình sản phẩm (CoC), làm cơ  
sở để đánh giá, cấp chứng chỉ rừng ở nước ta. Các đơn vị nghiên cứu đã tư vấn xây dựng phương  
án quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng cho một số công ty lâm nghiệp như: Công ty Lâm  
nghiệp Bảo Yên, Lào Cai; Công ty Lâm nghiệp Duy Linh và Công ty Lâm nghiệp Bảo Lâm, tỉnh  
Lâm Đồng. Năm 2019, hệ thống VFCS đã được vận hành và Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt  
Nam đã tư vấn cho 2 công ty cao su trực thuộc Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam xây  
dựng phương án QLRBV và cấp chứng chỉ rừng; đã được tổ chức cấp chứng chỉ rừng GFA cấp  
chứng chỉ VFCS/FM-CoC cho tổng diện tích là 7.412 ha.  
- Đã công nhận 11 tiến bộ kỹ thuật về lâm sinh (kỹ thuật làm đất, bón phân vi sinh, lên líp,  
trồng, chăm sóc rừng) và đang triển khai xây dựng 8 TBKT mới.  
- Đã xây dựng 18 TCVN về lĩnh vực lâm sinh (quản lý lập địa cho các loài keo, bạch đàn,  
chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ thành rừng cung cấp gỗ lớn...) và đang xây dựng 8 TCVN.  
23  
3.3.3. Lĩnh vực điều tra, quy hoạch, quản lý tài nguyên rừng và đa dạng sinh học  
- Đã triển khai dự án tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc: Xác định được hiện trạng  
diện tích rừng, đánh giá chất lượng các loại rừng, và kiểm kê các loại rừng theo chủ rừng.  
Viện Điều tra, Quy hoạch rừng là cơ quan chủ đạo xây dựng biện pháp kỹ thuật điều tra và  
kiểm kê rừng, trực tiếp chuyển giao công nghệ cho 39 tỉnh thành có rừng trong toàn quốc.  
Những nội dung chuyển giao công nghệ chính bao gồm: Giải đoán ảnh vệ tinh xây dựng bản  
đồ hiện trạng và tính diện tích các trạng thái rừng; đánh giá trữ lượng rừng thông qua điều tra  
các chỉ tiêu cấu trúc rừng; kiểm kê tài nguyên rừng theo chủ rừng thông qua sử dụng bản đồ  
hiện trạng và bản đồ giao đất, giao rừng; chuyển giao sử dụng công nghệ của các thiết bị mới  
về điều tra rừng.  
- Đã triển khai dự án điều tra, đánh giá và giám sát tài nguyên rừng quốc gia. Đây là một  
trong những nhiệm vụ khoa học và công nghệ thường xuyên của ngành được ghi trong Luật  
Bảo vệ và Phát triển rừng (hiện hành) và Luật Lâm nghiệp (có hiệu lực vào năm 2019). Viện  
Điều tra, Quy hoạch rừng đã xây dựng quy trình, biện pháp kỹ thuật và trực tiếp thực hiện  
điều tra, đánh giá và giám sát tài nguyên rừng quốc gia về diện tích và chất lượng rừng. Các  
nội dung khoa học công nghệ cơ bản gồm: Đánh giá biến động của diện tích rừng thông qua  
ảnh vệ tinh và điều tra mặt đất; điều tra chất lượng rừng, trữ lượng carbon thông qua hệ  
thống ô định vị sinh thái và chùm ô mẫu. Kết quả của chương trình phục vụ công tác quản lý  
diện tích và chất lượng rừng của ngành, đồng thời phục vụ các cam kết hợp tác quốc tế như  
cập nhật các báo cáo MRV (đo đạc, báo cáo và kiểm chứng), cập nhật đường FREL/FRL  
quốc gia (đường phát thải tham chiếu rừng/đường tham chiếu rừng), cũng như các báo cáo  
cho FAO-FRA (Chương trình đánh giá tài nguyên rừng toàn cầu).  
- Xây dựng các phần mềm phát hiện sớm và chuyển tin cháy rừng từ ảnh vệ tinh và Phần  
mềm giám sát và phát hiện sớm mất rừng, suy thoái rừng ở Việt Nam; Phần mềm điều tra kiểm  
kê rừng Việt Nam và tham gia xây dựng hướng dẫn kỹ thuật điều tra và kiểm kê rừng toàn quốc,  
Phần mềm và bản hướng dẫn đánh giá tác động môi trường rừng trồng cao su.  
- Xây dựng mô hình trồng rừng sưu tập cây bản địa ở Khu di tích Lịch sử Đền Hùng bao  
gồm 31 loài cây đến từ 61 tỉnh thành trong cả nước; Bộ cơ sở dữ liệu các loài cây họ Dầu  
Dipterocarpaceae tại Việt Nam.  
- Phát hiện ra được 8 loài cây mới cho ngành thực vật ở Việt Nam, trong đó có 2 loài thực vật  
mới thuộc họ Ngọc lan (Magnoliaceae) ở Việt Nam và cũng là phát hiện mới của thế giới là  
Michelia xianianhei Q.N.VU. và Magnolia cattienensis Q.N.VU, phát hiện này đã được đăng  
trên tạp chí quốc tế thuộc danh mục ISI.  
- Đã nghiên cứu đa dạng sinh học và đề xuất thành lập hoặc chuyển hạng nhiều khu rừng  
đặc dụng trong toàn quốc thông qua kết quả nghiên cứu khoa học và các tiêu chí về bảo tồn  
thiên nhiên như Khu bảo tồn thiên nhiên Chí Sán (Hà Giang), Hoàng Liên Văn Bàn (Lào  
Cai); Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), Vườn quốc gia Phia Oắc - Phi Đẻn  
(Cao Bằng),...  
- Bảo tồn và phát triển một số loài cây rừng nguy cấp, phát triển nguồn gen các loài cây quý  
hiếm ở các vùng sinh thái, bao gồm các loài cây gỗ và LSNG như Sao hải nam, Sao lá hình tim,  
Thông đỏ, Trúc vuông, Giổi lá to, Bạch tùng, Dầu song nàng, Gụ mật, chai lá cong, Lan kim  
tuyến, Cát sâm, Trà hoa vàng,... đã xây dựng được Bộ cơ sở dữ liệu DNA barcode của 85 loài  
cây lâm nghiệp gỗ lớn, lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế và 30 giống cây lâm nghiệp (keo và  
24  
bạch đàn), góp phần quan trọng trong nghiên cứu đa dạng di truyền, phục vụ công tác giám định,  
phân loại, bảo tồn và quản lý lâm sản.  
- Đã xây dựng 2 TCVN về bản đồ hiện trạng rừng, bản đồ quy hoạch lâm nghiệp. Đây là  
cơ sở để quản lý và triển khai các nhiệm vụ liên quan.  
3.3.4. Lĩnh vực công nghiệp rừng  
Về cơ khí lâm nghiệp  
- Đã nghiên cứu thiết kế, xây dựng và lắp đặt thành công nhà giâm hom cây lâm nghiệp cải  
tiến, quy mô bán công nghiệp và công nghiệp. Nhà giâm hom cải tiến có thể sản xuất cây giống  
quanh năm, đặc biệt sử dụng rất hiệu quả đối với vùng có điều kiện khí hậu khắc nghiệt như có  
gió mùa Đông Bắc và gió Lào, tỷ lệ giâm hom thành công đối với keo, bạch đàn từ 70% lên trên  
90%. Chi phí vốn đầu tư xây dựng nhà giâm hom cải tiến ước tính giảm từ 30 - 35% so với nhà  
giâm hom thông thường. Đã chuyển giao cho các công ty sản xuất giống cây lâm nghiệp tại  
Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Nghệ An, Hà Tĩnh,... với công suất sản xuất của nhà giâm hom từ  
200.000 - 1.000.000 cây giống/năm.  
- Đã nghiên cứu thiết kế, chế tạo thành công thiết bị nhổ gốc cây, cày ngầm làm đất trồng  
rừng, cải tiến cày chảo, cày không lật chăm sóc rừng; máy phun thuốc trừ sâu cho độ cao phun  
trên 10 m, phun thuốc diệt cỏ cho rừng trồng với giá thành phù hợp với điều kiện sản xuất lâm  
nghiệp hiện nay tại Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ và Đông Nam Bộ.  
- Đã làm chủ được công nghệ và chế tạo thành công 04 loại máy phục vụ cho công tác chữa cháy  
(máy chữa cháy rừng bằng sức gió cầm tay, máy phun đất cát chữa cháy rừng cầm tay, xe chữa cháy  
rừng đa năng, hệ thống thiết bị chữa cháy rừng tràm), đã được chuyển giao cho một số công ty lâm  
nghiệp, vườn quốc gia.  
Về chế biến lâm sản  
- Đã nghiên cứu về tính chất cơ lý, giải phẫu gỗ của hơn 300 loài cây gỗ và tre, thuộc 53 chi,  
25 họ thực vật ở Việt Nam; tham gia công tác giám định gỗ, xuất bản cuốn Atlats gỗ và tre Việt  
Nam là cơ sở khoa học cho công tác nghiên cứu, quản lý, thương mại và sử dụng.  
- Đã nghiên cứu chế tạo thiết bị ép và công nghệ sản xuất ván ép biến tính nhiều lớp kích  
thước lớn, chịu ẩm từ gỗ rừng trồng. Sản phẩm Ván ép nhiều lớp biến tính kích thước lớn (5000  
× 500 × (25-35)mm) đã được đưa vào đóng sàn, bong, cabin tàu đi biển với công suất 200 mã lực  
tại Quảng Ninh. Giá thành sản phẩm ván ép giảm từ 30 - 40% so với gỗ rừng tự nhiên thường  
dùng để đóng tàu thuyền. Thiết bị ép ván khổ lớn đã được Bộ Khoa học công nghệ cấp Bằng bảo  
hộ kiểu dáng công nghiệp vào năm 2013.  
- Đã nghiên cứu và xác định được công nghệ tạo ván bóc, xử lý biến tính ván bóc từ gỗ keo  
lai, Keo tai tượng đáp ứng yêu cầu nguyên liệu sản xuất gỗ khối ép lớp làm vật liệu đóng đồ nội  
thất, ngoại thất; xác định và đánh giá được chất lượng gỗ tròn của keo lai và Keo tai tượng ở  
vùng Đông Bắc Bộ, làm cơ sở xác định tuổi thành thục về công nghệ của rừng trồng keo lai và  
Keo tai tượng.  
- Đã xây dựng các quy trình: Công nghệ xử lý gỗ Keo lá tràm và bạch đàn sản xuất đồ mộc;  
công nghệ tạo vật liệu Composite gỗ - nhựa từ phế liệu chế biến gỗ và chất dẻo phế thải PP, PE,  
PVC; công nghệ biến tính gỗ rừng trồng bằng phương pháp hóa học, nhiệt cơ, công nghệ và thiết  
25  
bị xử lý và sản xuất cấu kiện dạng dầm và dạng tấm từ gỗ Tống quá sủ (quy mô 3.000m  
gỗ/năm); công nghệ uốn gỗ tự nhiên sản xuất chi tiết cong cho đồ mộc xuất khẩu; Thiết kế, chế  
tạo thiết bị xử lý dẻo hóa gỗ, uốn gỗ tự nhiên. Kết quả được ứng dụng tại Công ty Cổ phần  
Woodsland và một số doanh nghiệp ở Thạch Thất, Hà Nội.  
- Đã nghiên cứu tạo được vật liệu hấp thụ năng lượng mặt trời với hệ số hấp thụ đạt trên 85%;  
tính toán thiết kế được mô hình thiết bị sấy sơ bộ gỗ xẻ gỗ rừng trồng bằng năng lượng mặt trời  
quy mô công nghiệp, hiện đang được vận hành hiệu quả tại khu vực miền Trung. Vật liệu hấp thụ  
năng lượng mặt trời đã được cấp bằng Giải pháp hữu ích.  
- Đã nghiên cứu hệ thống thiết bị và quy trình công nghệ sản xuất tre ép khối có một số tính  
chất cơ học cơ bản đạt tương đương với gỗ nhóm II-III. Vật liệu tre ép khối đáp ứng tốt yêu cầu  
làm vật liệu xây dựng, và nguyên liệu sản xuất đồ mộc.  
- Đã nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học để đề xuất được quy trình công nghệ sản xuất  
Ván Bio-compossite có khả năng cách âm, cách nhiệt tốt từ dăm gỗ nuôi cây nấm. Sản phẩm đã  
được công nhận là Tiến bộ kỹ thuật.  
- Đã hoàn thiện công nghệ và thiết bị sản xuất hoạt chất artemisinin, nhựa thông (công suất 3.000  
tấn/năm); Công nghệ và thiết bị chưng cất tinh dầu Hồi (đã được công nhận TBKT), Quế quy mô  
nhỏ đạt hiệu suất chưng cất 98% so với chưng cất trong phòng thí nghiệm.  
Về bảo quản gỗ  
- Đã nghiên cứu xác định thông số công nghệ xử lý gỗ bằng vật liệu nano TiO2, ZnO,  
nanoclay khi dùng ở dạng dung dịch lỏng hoặc phân tán trong keo PF để nâng cao độ bền tự  
nhiên, tính chất cơ vật lý của gỗ. Công nghệ phân tán vật liệu nano trong sơn PU để nâng cao  
khả năng chống chịu tia UV bảo vệ màu sắc gỗ.  
- Đã nghiên cứu, hoàn thiện được công nghệ xử lý bảo quản gỗ cho tàu thuyền đi biển theo  
phương pháp ngâm thường và chân không áp lực; hoàn thiện được công nghệ tạo sơn chống hà  
C.HA16 dùng cho tàu thuyền đi biển bằng gỗ. Sản phẩm Sơn chống hà C.HA16 đã được công  
nhận là Tiến bộ kỹ thuật.  
- Đã nghiên cứu đề xuất được 02 loại chế phẩm bảo quản gỗ dạng boracol có hiệu lực tốt  
phòng chống sinh vật hại gỗ. Quy trình sử dụng 02 chế phẩm để bảo quản gỗ nguyên liệu sản xuất  
đồ mộc đơn giản, dễ áp dụng tại cơ sở sản xuất, đã được công nhận là Tiến bộ kỹ thuật.  
- Đã được công nhận 18 Tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới về lĩnh vực công nghiệp rừng và  
đang triển khai xây dựng 5 TBKT mới.  
- Đã xây dựng 47 TCVN về phân loại gỗ, tính chất cơ lý và bảo quản gỗ, keo dán trong chế  
biến gỗ, và đang xây dựng 9 TCVN mới.  
3.3.5. Lĩnh vực kinh tế lâm nghiệp  
- Đã nghiên cứu và đề xuất các chính sách phát triển trồng rừng sản xuất cung cấp gỗ lớn;  
Nghiên cứu về tổng quan thị trường sản phẩm gỗ rừng trồng ở Việt Nam để khuyến nghị cho  
chính sách phát triển rừng trồng bền vững; Nghiên cứu, xác định giá trị hấp thu carbon một số  
kiểu rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng  
các cơ chế, chính sách về quản lý rừng bền vững rừng phòng hộ đầu nguồn và ven biển...  
26  
- Đã đánh giá được các mô hình liên kết theo chuỗi giá trị gỗ và sản phẩm gỗ rừng trồng  
trên 11 tỉnh; phân tích và so sánh được hiệu quả kinh tế của 3 phương thức kinh doanh rừng  
trồng các loài keo lai với các chu kỳ khác nhau (5 năm, 6 năm và 10 năm tuổi) và đã đề xuất  
được giải pháp cụ thể nhằm khuyến khích trồng rừng chu kỳ dài, gỗ lớn để thay đổi mục tiêu  
kinh doanh rừng trồng có hiệu quả kinh tế cao.  
- Xác định khung về mức chi trả giá trị dịch vụ môi trường rừng đối với cơ sở sản xuất thuỷ  
điện Hòa Bình, Thác Bà, Thác Mơ, Yaly, Vĩnh Sơn, Phú Ninh và Phần mềm (kèm theo tài liệu  
hướng dẫn sử dụng phần mềm) chi trả dịch vụ môi trường rừng.  
- Lượng giá và định giá rừng và đã xác định giá trị kinh tế và môi trường của rừng làm cơ sở  
xây dựng QĐ 380/QĐ-TTg về̀ chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng và NĐ  
99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.  
- Đã nghiên cứu đánh giá kết quả thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng và phân tích  
những bất cập của Nghị định 99/2010/NĐ-CP về chi trả dịch vụ môi trường rừng ở hai tỉnh Hòa  
Bình và Điện Biên, trên cơ sở đó đã đề xuất sửa đổi một số điều bất cập của Nghị định  
99/2010/NĐ-CP.  
- Xây dựng dự thảo phương án cổ phần hóa tại một số công ty lâm nghiệp (Công ty Lâm  
nghiệp Yên Sơn - Tuyên Quang, Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Quy Nhơn - Bình  
Định và Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp La Ngà - Đồng Nai,...).  
3.3.6. Chuyển giao TBKT và dịch vụ khoa học công nghệ  
- Trong giai đoạn 2011-2020, các đơn vị nghiên cứu KHCN trong ngành đã tích cực triển  
khai các hợp đồng dịch vụ, sản xuất kinh doanh cung cấp cây giống lâm nghiệp, trồng rừng cung  
cấp nguyên liệu, tỉa thưa; hoạt động dịch vụ giám định thực vật, sản phẩm gỗ; xác định tính chất  
cơ, lý gỗ; khảo nghiệm thuốc bảo vệ thực vật; phòng chống mối cho công trình xây dựng; điều  
tra thành phần thực vật; xác định giá trị môi trường rừng, sản xuất kinh doanh các sản phẩm lâm  
sản ngoài gỗ (nấm linh chi, nấm ăn, đông trùng hạ thảo,...) cung cấp cho thị trường.  
- Đã đẩy mạnh chuyển giao giống gốc, công nghệ mô - hom, công nghệ xây dựng các vườn  
giống và rừng giống cho gần 40 đơn vị sản xuất giống với số lượng trung bình 500.000 giống gốc  
mỗi năm. Thông qua kết quả nghiên cứu và phát triển và sự hỗ trợ của các chương trình dự án như  
Chương trình giống, Chương trình hỗ trợ trồng rừng sản xuất, các dự án khuyến lâm... đã góp phần  
tăng tỷ lệ sử dụng cây vô tính trong trồng rừng, bình quân trong cả nước là khoảng 30%.  
- Thông qua triển khai các dự án khuyến lâm đã đẩy mạnh công tác chuyển giao TBKT cho  
các địa phương để ứng dụng rộng rãi, nhiều mô hình đã trở thành mô hình trình diễn cho các  
đoàn tham quan, học tập; đã xây dựng hơn 4.000 ha mô hình thâm canh rừng kinh tế Keo tai  
tượng, keo lai, Thông caribea, Tràm, Quế, Giổi ăn hạt,... ở các vùng sinh thái bằng các giống  
TBKT và biện pháp thâm canh bền vững rừng trồng.  
- Từ các kết quả nghiên cứu nổi bật, để đưa nhanh các kết quả nghiên cứu vào sản xuất, các  
đơn vị đã công bố các kết quả nghiên cứu trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, các loại báo  
khác nhau như báo Nông nghiệp Việt Nam, Tạp chí Thi đua khen thưởng và Tạp chí Thanh tra  
Chính phủ và các phóng sự truyền hình về các hoạt động khuyến lâm. Đồng thời đã tổ chức các  
hội thảo khoa học ở các vùng sinh thái để chuyển giao các kết quả vào sản xuất.  
27  
IV. MỘT SỐ TỒN TẠI TRONG CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CHUYỂN  
GIAO CÔNG NGHỆ  
Công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ lâm nghiệp thời gian qua mặc dù  
đã đạt được một số kết quả nổi bật, song vẫn còn một số tồn tại như sau:  
- Kinh phí dành cho NCKH và chuyển giao công nghệ Lâm nghiệp trong những năm qua đã  
bị giảm mạnh, theo đó số lượng nhiệm vụ KHCN các cấp cũng đã giảm theo; các nghiên cứu chủ  
yếu là nghiên cứu ứng dụng, các nghiên cứu cơ bản còn ít được quan tâm.  
- Đối với rừng trồng, các nghiên cứu chủ yếu tập trung nâng cao năng suất mà ít chú trọng  
tới nâng cao chất lượng gỗ, đặc biệt là gỗ đủ tiêu chuẩn đóng đồ mộc xuất khẩu thay thế một số  
loại gỗ nhập khẩu.  
- Các nhiệm vụ nghiên cứu tập trung nhiều cho cây mọc nhanh, cây bản địa, LSNG. Các  
nghiên cứu liên quan đến môi trường rừng và biến đổi khí hậu, nông lâm kết hợp, kinh tế chính  
sách Lâm nghiệp và đặc biệt là nghiên cứu về rừng tự nhiên còn rất hạn chế, trong khi đó trên  
70% diện tích rừng tự nhiên của Việt Nam là rừng nghèo và nghèo kiệt cần được nghiên cứu để  
phục hồi và nâng cao chất lượng rừng.  
- Cây lâm nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài ngày, kết quả nghiên cứu cho mỗi giai đoạn  
trong 5 năm chưa đủ thời gian để tạo ra được các sản phẩm rõ rệt, một số nhiệm vụ được kéo dài  
2 giai đoạn cũng không công nhận được các TBKT đã làm hạn chế công tác chuyển giao.  
- Công tác phối hợp nghiên cứu, đặc biệt với các doanh nghiệp vẫn còn hạn chế, chưa thu  
hút được nhiều doanh nghiệp lớn tham gia nghiên cứu, ứng dụng chuyển giao KHCN. Thương  
mại hóa sản phẩm KHCN trong lĩnh vực lâm nghiệp gặp nhiều khó khăn, bản quyền tác giả  
giống chưa được thực thi.  
- Giống cây lâm nghiệp được công nhận nhiều, nhưng chuyển giao vào thực tiễn còn hạn  
chế, chủ yếu tập trung cho keo, bạch đàn, thông, Mắc ca, Tràm lấy tinh dầu. Các TBKT mới  
được công nhận cũng chưa nhiều, đặc biệt là các TBKT liên quan tới cây bản địa. Nhiều kết quả  
nghiên cứu đã được công bố nhưng chuyển giao vào sản xuất còn chậm.  
- Dịch vụ KHCN và sản xuất kinh doanh của của các đơn vị nghiên cứu khoa học trong  
những năm gần đây mặc dù đã được đẩy mạnh, song vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thực  
tiễn sản xuất, đặc biệt là việc cung ứng cây giống chất lượng cao cho trồng rừng ở các vùng sinh  
thái. Đây là những khó khăn cho các hoạt động của các đơn vị nghiên cứu khi bước vào thực  
hiện cơ chế tự chủ.  
- Cơ sở vật chất kỹ thuật và trụ sở làm việc, phòng thí nghiệm, hiện trường nghiên cứu thực  
nghiệm của các đơn vị nghiên cứu và chuyển giao công nghệ nhìn chung chưa đáp ứng được yêu  
cầu thực tế, một số hiện trường ở các địa phương bị thu hồi, gây khó khăn cho quá trình triển  
khai các nhiệm vụ KHCN.  
- Đội ngũ cán bộ khoa học chất lượng cao cũng còn nhiều hạn chế, thiếu cán bộ khoa học  
đầu ngành; tỷ lệ cán bộ nghiên cứu có học hàm giáo sư, phó giáo sư còn ít; phân bố nhân lực và  
cơ cấu trình độ theo vùng, miền và các lĩnh vực hoạt động chưa đồng đều; trình độ ngoại ngữ của  
nhiều cán bộ còn hạn chế.  
- Việc thu hút cán bộ KHCN giỏi còn gặp khó khăn, chính sách không thực sự hấp dẫn  
đối với cán bộ KHCN. Chưa có các chính sách cụ thể để thu hút nguồn nhân lực KHCN ở  
28  
nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Thiếu quy hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học trình độ  
cao thuộc các lĩnh vực khoa học và công nghệ ưu tiên.  
- Việc chuyển đổi các đơn vị nghiên cứu sự nghiệp công lập sang cơ chế tự chủ theo  
Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ cũng đang là những khó khăn lớn  
đối với các đơn vị nghiên cứu, hoạt động đặc biệt trong lĩnh vực lâm nghiệp vì có đặc thù đối  
tượng nghiên cứu là những loài cây rừng có chu kỳ kinh doanh dài, lâu cho thu sản phẩm.  
V. ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ LÂM  
NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2021 - 2030  
Để đáp ứng được mục tiêu nâng cao hiệu quả của công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng  
và chuyển giao công nghệ lâm nghiệp, phát triển các sản phẩm chủ lực phục vụ cơ cấu lại ngành  
lâm nghiệp theo hướng hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững gắn với xây  
dựng nông thôn mới, một số định hướng nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ lâm  
nghiệp trong thời gian tới cần được quan tâm như sau:  
- Tiếp tục nghiên cứu chọn tạo, cải thiện các giống cây trồng lâm nghiệp cho các loài cây  
chủ yếu, gồm các loài cây nhập nội (keo, bạch đàn, thông), các cây bản địa mọc nhanh (Mỡ, Sa  
mộc, Sao đen, Sồi phảng, Huỷnh, Gáo vàng,...) và cây lâm sản ngoài gỗ (Sa nhân, Quế, Hồi,  
Thảo quả, Sâm lai châu...); Ưu tiên chọn lọc các giống có năng suất cao và chất lượng tốt, chống  
chịu sâu bệnh hại; Nghiên cứu hoàn thiện các quy trình nhân giống sinh dưỡng bằng công nghệ  
mô-hom cho các giống có triển vọng, tiếp tục nghiên cứu cải tiến công nghệ theo hướng nâng  
cao hơn nữa sản lượng cây giống và giảm giá thành cây giống nhân bằng nuôi cấy mô; Đẩy  
mạnh ứng dụng các tiến bộ công nghệ sinh học, công nghệ đa bội thể, chỉ thị phân tử và công  
nghệ gen trong nghiên cứu chọn tạo giống.  
- Nghiên cứu và hoàn thiện các quy trình kỹ thuật trồng rừng thâm canh cung cấp nguyên  
liệu cho gỗ nhỏ và gỗ lớn; Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng rừng và chuyển hóa rừng gỗ  
nhỏ sang gỗ lớn chất lượng cao; Nghiên cứu xây dựng các mô hình trồng rừng đa chức năng  
(phòng hộ kết hợp cho các sản phẩm có giá trị kinh tế).  
- Nghiên cứu phục hồi, nâng cao năng suất và chất lượng rừng tự nhiên nghèo kiệt bằng các  
loài cây gỗ lớn bản địa và cây LSNG có giá trị nhằm nâng cao giá trị kinh tế, kết hợp bảo tồn đa  
dạng sinh học và bảo vệ môi trường sinh thái; Nghiên cứu lựa chọn loài cây trồng và các biện  
pháp kỹ thuật trồng rừng cho vùng sinh thái đặc thù như cửa sông, vùng đất cát ven biển, vùng  
đất ngập nước; Nghiên cứu giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu ở một số vùng sinh thái  
trọng điểm.  
- Nghiên cứu phát triển LSNG dưới tán rừng trồng cây gỗ lớn, dưới tán rừng tự nhiên và các  
loài cây LSNG đa mục đích, nhằm nâng cao giá trị gia tăng của rừng.  
- Nghiên cứu phòng trừ sâu bệnh hại rừng trồng, đặc biệt là bệnh chết héo (Ceratocystis),  
mục ruột và sâu đục thân cho rừng trồng các loài keo, bạch đàn bằng các biện pháp phòng trừ  
tổng hợp.  
- Nghiên cứu bảo tồn nguồn gen cây rừng, tập trung vào các loài cây quý hiếm, bị đe dọa;  
xây dựng ngân hàng gen cây rừng; lồng ghép các giải pháp khai thác và bảo tồn trong kế hoạch  
phát triển lâm nghiệp. Nghiên cứu khai thác và phát triển nguồn gen cho các loài cây có tiềm  
năng đưa vào sản xuất diện rộng.  
29  
- Nghiên cứu hoàn thiện các quy trình công nghệ tiên tiến về chế biến (sấy, biến tính, bảo  
quản...) nguyên liệu gỗ rừng trồng phục vụ sản xuất đồ mộc nội địa và xuất khẩu đạt hiệu quả  
kinh doanh tăng tối thiểu 20%. Quy trình công nghệ sản xuất các sản phẩm ván nhân tạo từ  
gỗ rừng trồng; Công nghệ tạo sản phẩm mới như etanol, viên đốt nhiên liệu, phân bón...  
- Nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện quy trình khai thác, bảo quản và sử dụng hiệu quả một số  
loài LSNG: Mây nếp, Song Mật, Luồng, Lùng, Quế, Hồi, Sa nhân, Thảo Quả, Sâm lai châu...  
- Nghiên cứu hoàn thiện các thiết bị, hệ thống thiết bị phục vụ trồng, chăm sóc, khai thác  
rừng trồng (thiết bị làm đất, chăm sóc rừng, chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ) có giá thành thấp  
hơn so với thiết bị nhập ngoại với thông số kỹ thuật tương đương.  
- Nghiên cứu công nghệ phù hợp sản xuất nguyên liệu phụ trợ trong nước (keo dán, chất  
phủ, chất bảo quản...) đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, đáp ứng yêu cầu của ngành chế biến gỗ.  
- Nghiên cứu các giải pháp kinh tế - kỹ thuật nhằm quản lý bền vững rừng tự nhiên ở Việt  
Nam trong điều kiện dừng khai thác chính và khai thác gỗ gia dụng, khai thác tận thu và tận  
dụng trong rừng tự nhiên theo Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/01/2017 của Ban Bí thư Trung  
ương Đảng và Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 08/8/2017 của Chính phủ. Các cơ chế, chính sách để  
quản lý bền vững rừng tự nhiên ở Việt Nam được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện.  
- Nghiên cứu các giải pháp công nghệ phục vụ điều tra, kiểm kê, theo dõi diễn biến rừng đạt  
hiệu quả và có tính ứng dụng cao. Các giải pháp công nghệ phục vụ phòng cháy và chữa cháy  
rừng, phòng trừ sinh vật hại rừng.  
- Nghiên cứu cơ chế/chính sách đẩy mạnh hợp tác, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị trong  
lâm nghiệp (từ tạo rừng cho tới chế biến, thị trường, xuất khẩu). Cơ chế hợp tác công tư (PPP)  
trong sản xuất lâm nghiệp. Đề xuất các mô hình quản lý và phát triển rừng có hiệu quả, gắn với  
cơ chế quản lý tài chính bền vững (bảo vệ rừng, phát triển rừng gắn với du lịch sinh thái, nghĩ  
dưỡng, thuê dịch vụ môi trường rừng...).  
- Đẩy mạnh xây dựng mô hình sản xuất thử nghiệm, mô hình chuyển giao giống và TBKT  
mới vào sản xuất.  
- Xây dựng các TCVN, QCVN phục vụ công tác quản lý và sản xuất lâm nghiệp.  
- Nâng cao năng lực nghiên cứu, đầu tư trang thiết bị, cơ sở làm việc cho các đơn vị nghiên  
cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong ngành Lâm nghiệp để từng bước hiện đại hóa, góp  
phần thực hiện tốt các mục tiêu quan trọng của ngành Lâm nghiệp.  
30  
pdf 15 trang yennguyen 20280 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển ngành lâm nghiệp giai đoạn 2011-2020 và định hướng đến năm 2030", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_khoa_hoc_va_chuyen_giao_cong_nghe_phuc_vu_phat_tr.pdf