Ảnh hưởng của xử lý nhiệt đến tính chất cơ học của gỗ keo tai tượng trồng tại Hà Giang

C«ng nghiÖp rõng  
ẢNH HƯỞNG CỦA XỬ LÝ NHIỆT ĐẾN TÍNH CHẤT CƠ HỌC  
CỦA GỖ KEO TAI TƯỢNG TRỒNG TẠI HÀ GIANG  
Nguyễn Trung Hiếu2, Trần Văn Chứ1  
1TS. Trường Đại học Lâm nghiệp  
2ThS. Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Hà Giang  
TÓM TẮT  
Xử lý nhiệt độ cao cho gỗ là phương pháp thân thiện với môi trường thường được áp dụng để nâng cao tính ổn  
định kích thước của gỗ và sản phẩm từ gỗ. Tuy nhiên, các tính chất cơ học của gỗ sau khi xử lý như: Độ bền uốn  
tĩnh, mô đun đàn hồi uốn tĩnh, giới hạn độ bền nén dọc thớ gỗ sau khi xử lý có thể bị thay đổi. Nhằm đánh giá ảnh  
hưởng của xử lý nhiệt đến tính chất cơ học và tính chất công nghệ của gỗ Keo tai tượng trồng tại Hà Giang,  
nghiên cứu này đã tiến hành xử lý mẫu gỗ ở các mức nhiệt độ 170 oC, 180 oC, 190 oC, 200 oC và 210 oC trong thời  
gian từ 2 giờ đến 10 giờ trong môi trường không khí. Thí nghiệm đã xác định các tính chất cơ học bao gồm: Giới  
hạn độ bền nén dọc thớ, độ bền uốn tĩnh, mô đun đàn hồi uốn tĩnh và độ bền kéo trượt màng keo của gỗ xử lý  
nhiệt. Ngoài ra, trong nghiên cứu cũng đã xác định được tỉ lệ tổn hao khối lượng và mối quan hệ của nó với các  
tính chất cơ học của gỗ. Kết quả cho thấy, hầu hết các tính chất cơ học của gỗ đều bị giảm xuống so với mẫu gỗ  
chưa xử lý. Cụ thể, độ bền uốn tĩnh giảm khoảng 20%, mô đun đàn hồi uốn tĩnh giảm khoảng 13%, độ bền kéo  
trượt màng keo giảm khoảng 30%. Tuy nhiên, giới hạn độ bền nén dọc thớ gỗ lại tăng lên. Hơn nữa, kết quả  
nghiên cứu còn chỉ ra tỉ lệ tổn hao khối lượng và các tính chất cơ học của gỗ xử lý nhiệt có mối tương quan khá  
chặt với hệ số tương quan cao (R2 > 0,8).  
Từ khóa: Keo tai tượng, tính chất cơ học của gỗ, xử lý nhiệt  
về biến tính nhiệt cho gỗ cũng có những thành  
công nhất định.  
I. MỞ ĐẦU  
Hiện nay, tài nguyên gỗ rừng trồng của  
nước ta rất phong phú và đã trở thành nguồn  
nguyên liệu chủ yếu cho ngành công nghiệp  
sản xuất đồ gỗ. Tuy nhiên, gỗ rừng trồng do  
sinh trưởng nhanh, tỉ lệ gỗ tuổi non cao, nên  
còn tồn tại nhiều nhược điểm như: Kích thước  
không ổn định; dễ biến màu, dễ mục, dễ  
cháy,… Những nhược điểm này đã mang lại  
nhiều khó khăn cho việc sản xuất, tiêu thụ sản  
phẩm của các xí nghiệp sản xuất và làm giảm  
hiệu quả sử dụng tài nguyên gỗ. Vì vậy việc  
nghiên cứu tìm ra các giải pháp hợp lý để biến  
tính gỗ rừng trồng là vô cùng cần thiết.  
Những năm gần đây do chất lượng cuộc  
sống ngày càng cao, việc sử dụng hóa chất để  
xử lý biến tính gỗ đang dần dần làm hạn chế  
phạm vi sử dụng gỗ. Trong các công nghệ xử  
lý hiện nay, thị trường của sản phẩm gỗ từ  
công nghệ xử lý không sử dụng hóa chất đang  
được mở rộng. Trong đó, gỗ xử lý nhiệt hay gỗ  
biến tính nhiệt đã được chú ý đến, nghiên cứu  
Công nghệ xử lý nhiệt được áp dụng rất  
rộng rãi trong lĩnh vực biến tính gỗ nhằm giảm  
độ ẩm thăng bằng, giảm tính hút nước và tăng  
tính ổn định kích thước của gỗ đồng thời một  
phần nào đó nâng cao độ bền sinh học của gỗ  
(Esteves và Pereira, 2009). Do trong quá trình  
xử lý nhiệt, các axít hữu cơ được phân giải từ  
hemixenlulo tạo ra môi trường axít kết hợp với  
nhiệt độ cao đã làm phá vỡ mối liên kết lignin-  
polysaccharide trong cấu trúc gỗ, làm cho gỗ  
vốn là loại vật liệu có tính hút ẩm mạnh trở  
thành loại vật liệu kỵ ẩm (Kosikova et al.,  
1999; Wikberg và Liisa Maunu, 2004). Tuong  
và Li (2011) đã nghiên cứu sự biến đổi cấu  
trúc hóa học và một số tính chất của gỗ Keo lai  
sau quá trình xử lý nhiệt trong môi trường có  
khí N2 bảo vệ với nhiệt độ xử lý từ 210 oC đến  
o
230 C; kết quả cho thấy, gỗ Keo lai sau khi  
được xử lý nhiệt, một lượng nhất định các  
nhóm hydroxyl giảm xuống, cùng với đó là  
95  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2013  
C«ng nghiÖp rõng  
tính hút nước của gỗ cũng giảm xuống, và tính  
ổn định kích thước gỗ đã được cải thiện. Pham  
Van Chuong (2011) đã nghiên cứu ảnh hưởng  
của công nghệ xử lý thủy nhiệt đến tính chất  
vật lý của gỗ Keo lá tràm, kết quả cho thấy,  
nhiệt độ và thời gian xử lý đã ảnh hưởng rất rõ  
đến khối lượng thể tích, hiệu suất chống hút  
nước và hệ số chống trương nở của gỗ. Cụ thể,  
khối lượng thể tích của gỗ giảm xuống nhưng  
tính ổn định kích thước của gỗ được cải thiện  
thông qua kết quả phân tích tính hút nước và  
tính trương nở của gỗ.  
Nghiên cứu này sẽ làm rõ ảnh hưởng của xử  
lý nhiệt độ cao trong môi trường không khí đến  
một số tính chất cơ học và tính chất công nghệ  
của gỗ Keo tai tượng (Acacia mangium) trồng  
tại Hà Giang.  
II.VẬTLIỆUVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
1. Vật liệu  
Gỗ Keo tai tượng (Acacia mangium) 9-10  
tuổi khai thác tại Hà Giang; đường kính trung  
bình 18 cm.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
Tuy nhiên, một trong những tồn tại của  
công nghệ này là tính chất cơ học của gỗ sau  
xử lý như: Độ bền uốn tĩnh, mô đun đàn hồi  
uốn tĩnh, khả năng dán dính bị thay đổi; và chủ  
yếu có xu hướng thấp hơn so với gỗ chưa xử lý  
(Poncsak et al., 2007; Shi et al., 2007). Mức độ  
thay đổi khả năng chịu lực của gỗ phụ thuộc  
vào rất nhiều yếu tố như: Loài gỗ, môi trường  
xử lý nhiệt (không khí, khí trơ, hơi nước,…),  
điều kiện xử lý (nhiệt độ và thời gian xử lý),…  
a. Tạo mẫu thí nghiệm: mẫu dùng trong  
nghiên cứu được gia công theo quy định của  
tiêu chuẩn quốc tế ISO (1975) về yêu cầu và  
phương pháp tạo mẫu kiểm tra tính chất cơ lý  
của gỗ, số lượng mẫu thí nghiệm là 10 mẫu.  
b. Phương pháp xử lý nhiệt cho gỗ: sử dụng  
phương pháp xử lý nhiệt độ cao trong môi trường  
không khí với quy trình xử lý như Hình 01.  
Hình 01. Sơ đồ công nghệ xử lý nhiệt độ cao  
cho gỗ Keo tai tượng  
Thông số chế độ xử lý như sau:  
Độ ẩm nguyên liệu đầu vào: 15-18%  
Môi trường xử lý: Không khí  
Thời gian xử lý đầu (làm nóng và sấy): 6 giờ  
Nhiệt độ xử lý ban đầu: 110 oC  
Nhiệt độ trong giai đoạn xử lý nhiệt:  
96  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2013  
C«ng nghiÖp rõng  
Nhằm làm rõ ảnh hưởng của nhiệt độ và  
thời gian xử lý đến tính chất gỗ, thí nghiệm đã  
bố trí nhiệt độ và thời gian duy trì nhiệt độ thay  
đổi theo 5 cấp. Cụ thể:  
(1) Giai làm nóng: Tốc độ tăng nhiệt cố  
định sao cho chênh lệch giữa nhiệt độ gỗ và  
nhiệt độ môi trường xử lý không quá 30 C để  
o
hạn chế khuyết tật xảy ra trong quá trình xử lý;  
(2) Giai đoạn sấy: Nhiệt độ lựa chọn cho  
o
- Nhiệt độ: 170 C, 180 oC, 190 oC, 200 oC  
và 210 oC  
giai đoạn này là 110 C, và được duy trì trong  
o
- Thời gian duy trì nhiệt độ max trong giai  
đoạn xử lý nhiệt: 2h, 4h, 6h, 8h và 10h  
Thiết bị xử lý nhiệt: Sử dụng thiết bị tại  
Trung tâm thí nghiệm thực hành của Khoa Chế  
biến lâm sản – Trường Đại học Lâm nghiệp.  
Mã hiệu: Sumpot với hệ thống điều khiển PLC,  
nhiệt độ max 230 oC, sản xuất tại Trung Quốc.  
Quy trình xử lý:  
thời gian 6 giờ;  
(3) Giai đoạn biến tính: Nhằm giảm số  
lượng thí nghiệm nhưng vẫn đáp ứng được yêu  
cầu cơ bản của thống kê toán học, thí nghiệm  
trong nghiên cứu đã được bố trí theo phương  
pháp quy hoạch thực nghiệm trực giao, nhiệt  
độ và thời gian xử lý của các chế độ khác nhau  
theo thiết kế trong Bảng 01 và Bảng 02;  
Bảng 01. Các mức của thông số thí nghiệm  
Các mức thí nghiệm  
Khoảng biến  
thiên  
Yếu tố ảnh hưởng  
Nhiệt độ (oC)  
-
0
+
-  
+  
210  
170  
180  
190  
200  
10  
2
Thời gian duy trì nhiệt  
độ max (h)  
2
4
6
8
10  
Bảng 02. Thông số thực nghiệm với 2 yếu tố ảnh hưởng  
Mã thí  
nghiệm  
X1  
X2  
T
t
CĐ1  
-
+
-
-
180  
200  
180  
200  
210  
170  
190  
190  
190  
4
4
CĐ2  
CĐ3  
CĐ4  
CĐ5  
CĐ6  
CĐ7  
CĐ8  
CĐ9  
-
+
8
+
+
8
0
6
+  
-  
0
0
6
10  
2
+  
-  
0
0
0
6
(4) Giai đoạn làm nguội: Do sau khi xử lý,  
nhiệt độ gỗ và nhiệt độ môi trường bên ngoài  
chênh lệch rất lớn, nhằm hạn chế khuyết tật  
sau quá trình xử lý, sau khi kết thúc giai đoạn  
biến tính cần thiết phải để gỗ nguội tự nhiên  
trong môi trường xử lý đến khi có nhiệt độ  
tương đương với môi trường bên ngoài mới có  
thể lấy mẫu ra để thực hiện các bước thí  
nghiệm tiếp theo.  
c. Các chỉ tiêu chủ yếu cần kiểm tra:  
Trước khi tiến hành kiểm tra, mẫu đối chứng  
97  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2013  
C«ng nghiÖp rõng  
và mẫu đã qua xử lý nhiệt theo quy trình trên  
được đặt trong môi trường có nhiệt độ 20 oC và  
độ ẩm tương đối của không khí là 65% trong  
thời gian 2 tuần. Các chỉ tiêu kiểm tra gồm:  
tính bằng mm;  
b và h- các kích thước mặt cắt ngang  
tương ứng theo phương xuyên tâm và phương  
tiếp tuyến của mẫu thử, tính bằng mm;  
f - biến dạng trong diện tích uốn thực  
bằng hiệu số giữa giá trị trung bình số học của  
các kết quả nhận được khi đo biến dạng ở giới  
hạn trên và giới hạn dưới của tải trọng, tính  
bằng mm.  
Tỉ lệ tổn hao khối lượng mẫu sau khi xử lý  
(ML): Là tỉ lệ phần trăm giữa khối lượng mẫu  
sau khi xử lý so với khối lượng mẫu sau giai  
đoạn sấy (khối lượng gỗ khô kiệt), tỉ lệ tổn hao  
khối lượng được tính theo công thức (1):  
m0 mht  
Mô đun đàn hồi uốn tĩnh của gỗ được  
biểu thị chính xác đến 0,1 GPa.  
ML   
100(%)  
(1)  
m0  
Giới hạn độ bền nén dọc thớ:  
Trong đó: ML - tỉ lệ tổn hao khối lượng  
gỗ khi xử lý, %;  
- Tiêu chuẩn kiểm tra: ISO 3787-1976  
- Kích thước mẫu: 20 х 20 х 30 mm  
- Dung lượng mẫu: 10 mẫu/chế độ  
- Độ ẩm khi kiểm tra mẫu: 12%  
- Công thức xác định:  
mo - khối lượng gỗ sau giai đoạn sấy, g;  
mht - khối lượng gỗ ngay sau khi xử lý, g.  
Độ bền uốn tĩnh (MOR):  
- Tiêu chuẩn kiểm tra: ISO 3133-1975  
- Kích thước mẫu: 20 mm х 20 mm х  
300 mm  
Pmax  
nd  
(4)  
b.t  
Trong đó: Pmax - lực phá hủy, N;  
b, t - kích thước tiết diện ngang của  
mẫu, mm.  
Giới hạn độ bền nén dọc thớ gỗ được  
biểu thị chính xác đến 0,1 MPa.  
- Dung lượng mẫu: 10 mẫu/chế độ  
- Độ ẩm khi kiểm tra mẫu: 12%  
- Công thức xác định:  
3Pmax l  
MOR   
(2)  
2bh2  
Độ bền kéo trượt màng keo:  
Trong đó: Pmax – lực phá hủy, N;  
- Tiêu chuẩn kiểm tra: ISO 12579-2007  
- Kích thước mẫu: 20 х 40 х 50 mm  
- Dung lượng mẫu: 10 mẫu/chế độ  
- Độ ẩm khi kiểm tra mẫu: 12%  
- Loại keo sử dụng: EPI  
l – khoảng cách giữa 2 gối, mm;  
b, h – chiều rộng, chiều cao mẫu, mm.  
Độ bền uốn tĩnh của mẫu thử được biểu  
thị chính xác đến 1 Mpa.  
Mô đun đàn hồi uốn tĩnh (MOE):  
- Công thức xác định:  
- Tiêu chuẩn kiểm tra: ISO 3349-1975  
- Kích thước mẫu: 20 х 20 х 300 mm  
- Dung lượng mẫu: 10 mẫu/chế độ  
- Độ ẩm khi kiểm tra mẫu: 12%  
- Công thức xác định:  
Fu  
  
S
(5)  
Trong đó: Fu - lực phá hủy, N;  
S - diện tích trượt, mm2.  
Độ bền kéo trượt màng keo của gỗ được  
biểu thị chính xác đến 0,1 MPa.  
Pl3  
36bh3 f  
(3)  
MOE   
III.KẾTQUẢNGHIÊNCỨUVÀTHẢOLUẬN  
P- tải trọng bằng khoảng cách giữa các  
giá trị trung bình số học của các giới hạn trên  
và giới hạn dưới của tải trọng, tính bằng N;  
l- khoảng cách giữa tâm của các gối đỡ,  
3.1. Độ tổn hao khối lượng của mẫu gỗ Keo  
tai tượng sau khi xử lý  
Gỗ là loại vật liệu hữu cơ tự nhiên, thành  
98  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2013  
C«ng nghiÖp rõng  
phần hóa học chủ yếu có xenlulo, hemixenlulo,  
lignin và các chất chiết suất. Trong quá trình xử  
lý nhiệt, dưới sự tác động của nhiệt độ cao,  
hemixenlulo và một phần phân tử xenlulo trong  
vùng vô định hình bị phân giải (Esteves và  
Pereira, 2009) dẫn đến thay đổi cấu trúc hóa học  
của gỗ, hay nói cách khác các thành phần cơ bản  
cấu tạo nên vách tế bào gỗ có sự thay đổi về số  
lượng cũng như kích thước. Do đó đã làm cho  
khối lượng của gỗ sau khi xử lý bị giảm xuống.  
Nhằm xác định sự ảnh hưởng của nhiệt độ  
và thời gian xử lý nhiệt đến khối lượng mẫu gỗ,  
nghiên cứu đã tiến hành xác định lượng tổn  
hao khối lượng (ML) của mẫu gỗ sau xử lý so  
với mẫu gỗ khô kiệt.  
Kết quả xác định tỉ lệ tổn hao khối lượng  
mẫu gỗ ở các chế độ xử lý khác nhau thể hiện  
trong biểu đồ Hình 02.  
Hình 02. Tỉ lệ tổn hao khối lượng (ML) của gỗ Keo tai tượng  
theo các chế độ xử lý nhiệt khác nhau  
một chỉ tiêu đánh giá chất lượng của gỗ sau khi  
Từ tỉ lệ tổn hao khối lượng của mẫu gỗ sau  
khi xử lý ở các chế độ khác nhau (Hình 02)  
cho thấy, tỉ lệ tổn hao khối lượng tăng lên khi  
cường độ xử lý tăng lên hay nói cách khác  
nhiệt độ xử lý và thời gian xử lý tăng lên. Khối  
lượng mẫu gỗ trong thí nghiệm giảm xuống là  
do trong quá trình xử lý nhiệt, dưới tác dụng  
của nhiệt độ cao, một hàm lượng nhất định  
hemixenlulo bị phân giải do nhiệt, tạo ra axít  
axêtic (Esteves và Pereira, 2009), sau đó kết  
hợp với hơi nước do gỗ thoát làm cho gỗ trở  
thành môi trường axít yếu, tiếp tục làm cho các  
phản ứng thủy phân và nhiệt giải của  
hemixenlulo và một phần xenlulo trong vùng  
vô định hình xảy ra mãnh liệt hơn. Kết quả là  
hàm lượng các thành phần này giảm xuống,  
dẫn đến làm giảm khối lượng gỗ.  
xử lý nhiệt, nhưng đây là một trong những đại  
lượng tương đối quan trọng và có ý nghĩa thực  
tiễn khi áp dụng công nghệ xử lý nhiệt trong  
sản xuất với quy mô lớn. Ngoài ra, trong nhiều  
nghiên cứu còn có thể lấy tỉ lệ tổn hao khối  
lượng làm chỉ tiêu dự đoán chất lượng gỗ sau  
khi xử lý nhiệt (Stamm et al., 1946).  
3.2. Độ bền uốn tĩnh và mô đun đàn hồi uốn  
tĩnh của gỗ trước và sau xử lý nhiệt  
Nhằm đánh giá khả năng chịu uốn và độ  
dẻo dai khi chịu uốn của gỗ Keo tai tượng sau  
khi xử lý nhiệt, nghiên cứu đã tiến hành thí  
nghiệm xác định độ bền uốn tĩnh và mô đun  
đàn hồi uốn tĩnh của gỗ.  
Độ bền uốn tĩnh và mô đun đàn hồi uốn tĩnh  
của gỗ Keo tai tượng trước và sau khi xử lý  
nhiệt được thể hiện trong Bảng 03.  
Tỉ lệ tổn hao khối lượng tuy không phải là  
99  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2013  
C«ng nghiÖp rõng  
Bảng 03. Độ bền uốn tĩnh và mô đun đàn hồi uốn tĩnh  
của gỗ Keo tai tượng sau khi xử lý ở các chế độ xử lý khác nhau  
Chế độ xử lý  
Đối chứng  
CĐ1  
T (oC)  
t (h)  
MOR (MPa) SD (MPa) MOE (GPa) SD (MPa)  
111  
108  
105  
105  
97  
6,6  
6,1  
5,9  
5,8  
2,2  
7,6  
4,4  
6,7  
6,6  
3,5  
9,4  
9,0  
9,0  
8,9  
8,8  
8,8  
8,7  
8,3  
8,2  
8,2  
0,4  
0,3  
0,5  
0,5  
1,0  
0,5  
0,6  
0,8  
0,7  
0,6  
170  
180  
180  
190  
190  
190  
200  
200  
210  
6
4
CĐ2  
CĐ3  
8
CĐ4  
2
CĐ5  
6
97  
CĐ6  
10  
4
94  
CĐ7  
90  
CĐ8  
8
88  
CĐ9  
6
86  
Kết quả thí nghiệm thấy, mẫu gỗ sau khi xử  
lý có độ bền uốn tĩnh và mô đun đàn hồi uốn  
tĩnh thấp hơn so với mẫu chưa xử lý, hơn nữa  
khi tăng nhiệt độ và kéo dài thời gian xử lý  
nhiệt thì độ bền uốn tĩnh và mô đun đàn hồi  
uốn tĩnh giảm xuống. Tỉ lệ giảm độ bền uốn  
tĩnh có thể lên tới trên 20% (Hình 03), tỉ lệ  
giảm mô đun đàn hồi uốn tĩnh nhỏ hơn, chỉ  
dưới 13% (Hình 04). So với các kết quả nghiên  
cứu đã được công bố, kết quả của thí nghiệm  
với gỗ Keo tai tượng có sự tương đồng với đa  
số kết quả nghiên cứu đối với các loài gỗ khác  
(Juodeikiene, 2009; Korkut và Hiziroglu,  
2009).  
Hình 03. Quan hệ giữa tỉ lệ tổn hao khối lượng  
Hình 04. Quan hệ giữa tỉ lệ tổn hao khối lượng  
và tỉ lệ giảm độ bền uốn tĩnh của gỗ Keo tai tượng và tỉ lệ giảm mô đun đàn hồi uốn tĩnh của gỗ Keo  
tai tượng  
Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này có thể  
do trong quá trình xử lý nhiệt đã làm cho cấu  
trúc và thành phần hóa học của gỗ bị thay đổi  
làm ảnh hưởng đến một số tính chất vật lý, cơ  
học, sinh học và công nghệ của gỗ. Sự phân  
giải do tác động của nhiệt độ của các polyme  
trên vách tế bào, đặc biệt là hemixenlulo từ  
những chuỗi dài bị phân giải thành các chuỗi  
ngắn hơn, dẫn đến khả năng chịu uốn kém  
giảm xuống.  
Ngoài ra, qua kết quả phân tích quan hệ  
giữa tỉ lệ tổn hao khối lượng mẫu gỗ sau khi xử  
100  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2013  
C«ng nghiÖp rõng  
hiện trong Hình 02 và Hình 03.  
3.3. Giới hạn độ bền nén dọc thớ  
Giới hạn độ bền nén dọc thớ của gỗ Keo tai  
tượng xử lý ở các chế độ khác nhau thể hiện  
trong Bảng 04.  
lý với độ bền uốn tĩnh và mô đun đàn hồi uốn  
tĩnh cũng có thể nhận thấy giữa chúng có mối  
quan hệ khá chặt chẽ (R2 = 0,94 với độ bền  
uốn tĩnh và R2 = 0,89 với mô đun đàn hồi uốn  
tĩnh) và tuân theo một quy luật nhất định thể  
Bảng 04. Giới hạn độ bền nén dọc thớ của gỗ Keo tai tượng  
sau khi xử lý ở các chế độ xử lý khác nhau  
Chế độ xử lý  
Đối chứng  
CĐ1  
T (oC)  
t (h) Trung bình (MPa)  
Độ lệch chuẩn (MPa)  
38,3  
1,8  
2,3  
2,6  
5,0  
3,1  
4,2  
5,8  
3,7  
4,8  
2,0  
170  
180  
180  
190  
190  
190  
200  
200  
210  
6
4
40,9  
41,4  
42,3  
45,2  
45,8  
46,8  
46,1  
46,5  
48,3  
CĐ2  
CĐ3  
8
CĐ4  
2
CĐ5  
6
CĐ6  
10  
4
CĐ7  
CĐ8  
8
CĐ9  
6
(hay cường độ xử lý) và giới hạn độ bền nén  
dọc thớ của gỗ sau xử lý đã được nghiên cứu.  
Kết quả cho thấy, khi tỉ lệ tổn hao khối lượng  
tăng lên thì tỉ lệ tăng của giới hạn độ bền nén  
dọc thớ cũng tăng lên theo quy luật thể hiện  
trong Hình 05 với mức độ tương quan cao (R2  
= 0,85), tỉ lệ tăng giới hạn độ bền nén dọc thớ  
có thể lên tới trên 25 %.  
Kết quả trong Bảng 04 cho thấy, độ bền nén  
dọc của gỗ đã qua xử lý nhiệt cao hơn so với  
gỗ đối chứng. Quy luật biến đổi giới hạn độ  
bền nén dọc thớ của gỗ Keo tai tượng sau khi  
xử lý nhiệt giống với kết quả nghiên cứu của  
Juodeikiene (2009), nhưng lại khác biệt so với  
một vài nghiên cứu của Korkut và Hiziroglu  
(2009) và Korkut và Hiziroglu (2009). Tuy  
nhiên cho đến thời điểm hiện tại, các công bố  
về độ bền nén dọc thớ của gỗ xử lý nhiệt vẫn  
chưa có một quy luật nhất định, và nhiều nhà  
nghiên cứu trong lĩnh vực xử lý gỗ bằng nhiệt  
độ cao đều phát hiện ra sự khác biệt về biến  
đổi giới hạn độ bền nén dọc thớ của gỗ trong  
quá trình xử lý. Do đó, kết quả xác định độ bền  
nén dọc của gỗ Keo tai tượng sau khi xử lý  
nhiệt có thể là dữ liệu tham khảo để xây dựng  
quy luật biến đổi tính chất gỗ sau khi xử lý  
nhiệt độ cao.  
Căn cứ vào số liệu thí nghiệm và áp dụng  
phương pháp phân tích tương quan một nhân  
tố, mối quan hệ giữa tỉ lệ tổn hao khối lượng  
Hình 05. Quan hệ giữa tỉ lệ tổn hao khối lượng  
và tỉ lệ tăng giới hạn độ bền nén dọc thớ của gỗ  
Keo tai tượng  
101  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2013  
C«ng nghiÖp rõng  
bằng keo. Để đánh giá khả năng dán dính của  
gỗ, nghiên cứu đã tiến hành xác định độ bền kéo  
trượt màng keo của gỗ Keo tai tượng trước và  
sau xử lý nhiệt. Kết quả xác định độ bền kéo  
trượt màng keo được thể hiện trong Bảng 03.  
3.4. Khả năng dán dính (thí nghiệm kéo  
trượt màng keo)  
Khả năng dán dính của gỗ là một trong  
những tính chất công nghệ quan trọng thể hiện  
khả năng gia công tạo các sản phẩm có liên kết  
Bảng 05. Giới hạn độ bền nén dọc thớ của gỗ Keo tai tượng  
sau khi xử lý ở các chế độ xử lý khác nhau  
Chế độ xử lý  
Đối chứng  
CĐ1  
T (oC)  
t (h)  
Trung bình (MPa) Độ lệch chuẩn (MPa)  
5,3  
4,9  
4,8  
4,7  
4,7  
4,3  
4,2  
4,1  
3,9  
3,8  
0,7  
0,7  
0,4  
0,6  
0,6  
0,5  
0,5  
0,4  
0,4  
0,6  
170  
180  
180  
190  
190  
190  
200  
200  
210  
6
4
CĐ2  
CĐ3  
8
CĐ4  
2
CĐ5  
6
CĐ6  
10  
4
CĐ7  
CĐ8  
8
CĐ9  
6
trượt màng keo và tỉ lệ tổn hao khối lượng sau  
khi xử lý nhiệt của gỗ Keo tai tượng được thể  
hiện trong Hình 06.  
Từ Bảng 05 có thể thấy, gỗ sau khi xử lý  
nhiệt có độ bền kéo trượt màng keo thấp hơn  
so với gỗ đối chứng, và giảm dần khi tăng  
nhiệt độ và kéo dài thời gian xử lý nhiệt.  
Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này có thể  
giải thích như sau: Với độ bền kéo trượt màng  
keo, khi dán dính trên bề mặt gỗ vẫn còn tồn  
tại các gốc axít, các gốc này rất dễ dàng tác  
dụng với các nhóm hydroxyl hoặc ester có  
trong thành phần cấu tạo của keo, làm cho keo  
bị đóng rắn khi chưa kịp tạo liên kết với gỗ.  
Ngoài ra, do một số lượng lớn các nhóm chức  
trong gỗ có thể phản ứng với keo đã bị khử bởi  
axit, dẫn đến số lượng cầu nối giữa keo-gỗ-keo  
bị giảm khi đó màng keo sẽ bị gián đoạn,  
không đồng đều. Đây có thể coi là nguyên  
nhân cơ bản dẫn tới khả năng dán dính kém  
của gỗ sau xử lý nhiệt. Kết quả thí nghiệm  
trong nghiên cứu này giống với kết quả nghiên  
cứu của Poncsak, Shi et al. (2007).  
Hình 06. Quan hệ giữa tỉ lệ tổn hao khối lượng  
và tỉ lệ giảm độ bền kéo trượt màng keo của gỗ  
Keo tai tượng  
Qua đồ thị quan hệ trong hình 6 có thể thấy,  
tương tự như các tính chất cơ học đã được  
trình bày ở trên, tỉ lệ giảm độ bền kéo trượt  
Mối quan hệ giữa tỉ lệ giảm độ bền kéo  
102  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2013  
C«ng nghiÖp rõng  
màng keo của gỗ Keo tai tượng sau khi xử lý  
cũng có quan hệ mật thiết với tỉ lệ tổn hao khối  
lượng của gỗ sau khi xử lý (R2 = 0,98). Tỉ lệ  
giảm độ bền kéo trượt màng keo của gỗ xử lý  
nhiệt tương đối cao, có thể lên tới trên 30%.  
uốn tĩnh, mô đun đàn hồi uốn tĩnh và tính chất  
công nghệ (độ bền kéo trượt màng keo) của gỗ  
Keo tai tượng giảm xuống khi cường độ xử lý  
(tỉ lệ tổn hao khối lượng của gỗ) tăng lên. Tuy  
nhiên, giới hạn độ bền nén dọc thớ của gỗ lại  
tăng lên khi cường độ xử lý nhiệt tăng;  
IV. KẾT LUẬN  
3. Tỉ lệ tổn hao khối lượng của gỗ với  
Qua kết quả nghiên cứu có thể rút ra một số  
kết luận sau:  
các chỉ tiêu cơ học và công nghệ của gỗ Keo  
tai tượng sau khi xử lý nhiệt có quan hệ rất  
chặt chẽ (R2 > 0,8). Nếu nghiên cứu một cách  
hệ thống, đưa ra được mối quan hệ giữa tính  
chất cơ học với tỉ lệ tổn hao khối lượng của gỗ  
sau khi xử lý nhiệt, có thể sẽ xây dựng được cơ  
sở phân loại chất lượng gỗ xử lý nhiệt thông  
qua tỉ lệ tổn hao khối lượng gỗ sau khi xử lý.  
1. Tỉ lệ tổn hao khối lượng của gỗ Keo  
tai tượng sau khi xử lý nhiệt phụ thuộc vào  
điều kiện xử lý. Cụ thể tỉ lệ tổn hao khối lượng  
tăng khi nhiệt độ xử lý và thời gian xử lý tăng,  
cao nhất có thể lên tới 14%;  
2. Tính chất cơ học của gỗ gồm độ bền  
8. Juodeikiene, I. (2009). Influence of Thermal  
Treatment on the Mechanical Properties of Pinewood.  
Materials Science-Medziagotyra 15(2): 148-152.  
9. Korkut, S. and S. Hiziroglu (2009). Effect of heat  
treatment on mechanical properties of hazelnut wood  
(Corylus colurna L.). Materials & Design 30(5): 1853-  
1858.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Chuong, P. V. (2011). Influences of the hydro-  
thermal treatment on physical properties of Acacia  
auriculiformis wood. 2011 International Symposium on  
Comprehensive Utilization of Wood Based Resources,  
Zhejiang A&F University, Lin'an, Zhejiang.  
2. Esteves, B. and H. Pereira (2009). Wood  
modification by heat treatment: A review. Bioresources  
4(1): 370-404.  
10. Kosikova, B., M. Hricovini, et al. (1999).  
Interaction of lignin and polysaccharides in beech wood  
(Fagus sylvatica) during drying processes. Wood  
Science and Technology 33(5): 373-380.  
3. ISO (1975). Wood - Sampling methods and  
general requirements for physical and mechanical tests.  
11. Poncsak, S., S. Q. Shi, et al. (2007). Effect of  
thermal treatment of wood lumbers on their adhesive  
bond strength and durability. Journal of Adhesion  
Science and Technology 21(8): 745-754.  
International  
organization  
for  
standardization  
Information Handling Services. ISO 3129-1975.  
4. ISO (1975). Wood - Determination of ultimate  
strength in static bending. International organization for  
standardization Information Handling Services. ISO  
3133-1975.  
12. Shi, J. L., D. Kocaefe, et al. (2007). Mechanical  
behaviour of Quebec wood species heat-treated using  
ThermoWood process. HOLZ ROH WERKST HOLZ  
ALS ROH-UND WERKSTOFF 65(4): 255-259.  
13. Stamm, A., H. Burr, et al. (1946). Stayb-wood-A  
heat stabilized wood. Ind. Eng. Chem. 38(6): 630-634.  
14. Tuong, V. M. and J. Li (2011). Changes caused  
by heat treatment in chemical composition and some  
physical properties of acacia hybrid sapwood.  
Holzforschung 65(1): 67-72.  
5. ISO (1975). Wood -- Determination of modulus of  
elasticity in static bending. International organization for  
standardization Information Handling Services. ISO  
3349-1975.  
6. ISO (1976). Wood -- Test methods --  
Determination of ultimate stress in compression parallel  
to grain. International organization for standardization  
Information Handling Services. ISO 3787:1976.  
7. ISO (2007). Timber structures -- Glued laminated  
timber -- Method of test for shear strength of glue lines.  
15. Wikberg, H. and S. Liisa Maunu (2004).  
Characterisation of thermally modified hard- and  
softwoods by 13C CPMAS NMR. Carbohydr. Polym.  
58(4): 461-466.  
International  
organization  
for  
standardization  
Information Handling Services. ISO 12579:2007.  
103  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2013  
C«ng nghiÖp rõng  
EFFECT OF HEAT TREATMENT ON MECHANICAL PROPERTIES OF  
Acacia Mangium WOOD PLANTED IN HA GIANG PROVINCE  
Nguyen Trung Hieu, Tran Van Chu  
SUMMARY  
Heat treatment is an environmentally friendly method that has been used to improve the dimensional stability  
of wood and wood products. However, the mechanical properties such as compression strength, modulus of  
elasticity, modulus of rupture of wood may also change. The objective of this study was to evaluate effects of heat  
treatment on mechanical properties of the Acacia mangium wood planted in Ha Giang province. Samples were  
heat treated in five different temperatures (170 oC, 180 oC, 190 oC, 200 oC and 210 oC) for five different durations  
(2h, 4h, 6h, 8h and 10h) in air. Mechanical properties including compression strength (CS), modulus of elasticity  
(MOE), modulus of rupture (MOR) and shear strength of glue lines of heat-treated samples were determined. In  
addition, the effects of heat treatment parameters in mass loss (ML) after heat treatment, as well as the  
relationships of the mass loss and the assigned mechanical properties of heat-treated wood were analysed. The  
results showed that, the maximum reduction values of about 20 %, 13 % and 30% were found for modulus of  
rupture, modulus of elasticity, shear strength of glue lines, respectively. Overall results showed that treated  
samples had lower mechanical properties than those of the control samples. However, the compression strength of  
heat-treated wood was increased. Furthermore, the the results also indicated that, the mass loss and the assigned  
mechanical properties had significant relationships with very high R-square (R2 > 0,8).  
Keywords: Acacia mangium, heat treatment, wood mechanical properties  
Người phản biện: PGS.TS. Phạm Văn Chương  
Ngày nhận bài: 16/5/2013  
Ngày phản biện: 17/5/2013  
Ngày quyết định đăng: 07/6/2013  
104  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2013  
pdf 10 trang yennguyen 9340 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng của xử lý nhiệt đến tính chất cơ học của gỗ keo tai tượng trồng tại Hà Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfanh_huong_cua_xu_ly_nhiet_den_tinh_chat_co_hoc_cua_go_keo_ta.pdf