Hiệu quả phục hồi rừng bằng kỹ thuật khoanh nuôi tái sinh tại xã Hạnh Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An

L©m sinh  
HIỆU QUẢ PHỤC HỒI RỪNG BẰNG KỸ THUẬT KHOANH NUÔI TÁI SINH  
TẠI XÃ HẠNH LÂM, HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN  
Bùi Thế Đồi  
TS. Trường Đại học Lâm nghiệp  
TÓM TẮT  
Phục hồi rừng bằng kỹ thuật khoanh nuôi tái sinh là một trong các giải pháp kỹ thuật lâm sinh có hiệu quả cao.  
Sau 10 hoặc 15 năm khoanh nuôi đúng quy trình, QXTV rừng có thể phục hồi khá tốt. Tại xã Hạnh Lâm, Thanh  
Chương, Nghệ An, kỹ thuật này được áp dụng từ năm 1999 với đối tượng chính là trạng thái thảm thực vật IC, có  
mật độ tái sinh 1.000 cây/ha, cao trung bình trên 1 m, gồm các loài cây ưa sáng. Tại thời điểm nghiên cứu, các lô  
rừng đã được phục hồi trở lại. 11/15 lô rừng điều tra đã có sự thay đổi về trạng thái từ IC lên IIA. Đường kính cây  
gỗ đạt 13,114,4 cm, trữ lượng từ 32,5 ÷ 43,3 m3/ha. Số lượng loài cây gỗ khá đa dạng có từ 17÷26 loài/lâm phần.  
Loài cây chiếm ưu thế là Chẹo tía, Kháo nước, Mán đỉa, Ràng ràng mít,... độ tàn che đạt 0,43÷0,60. Ở lớp cây tái sinh,  
có từ 12÷16 loài xuất hiện trong các lâm phần với mật độ 4.114 cây/ha. Tổ thành tái sinh đã có sự thay đổi so với tầng  
cây cao. Các loài cây ưa sáng mạnh như Ba soi, Thành ngạnh, Hu đay... đã ít xuất hiện, thay vào đó là các loài chịu  
bóng và có giá trị cao hơn như: Sấu, Lim xẹt, Sồi phảng, Dẻ gai ấn độ, Bứa... Tuy nhiên, cần phải theo dõi và có những  
biện pháp tác động phù hợp, kịp thời để dẫn dắt rừng phục hồi theo đúng mục tiêu kinh doanh đặt ra.  
Từ khóa: Hạnh Lâm, kỹ thuật khoanh nuôi, phục hồi rừng, tái sinh tự nhiên, tổ thành rừng  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
biến đổi của điều kiện môi trường. Tuy nhiên  
để thấy được hiệu quả của giải pháp này, cần  
phải xác định khả năng phục hồi rừng như thế  
nào. Thực tiễn cho thấy, không phải tất cả diện  
tích rừng đưa vào khoanh nuôi đều thành công,  
bởi quá trình phục hồi rừng chịu ảnh hưởng  
của nhiều nhân tố, tự nhiên cũng như xã hội.  
Do đó việc đánh giá đối tượng đã được đưa  
vào khoanh nuôi là một việc làm cần thiết  
nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cho  
công tác phục hồi rừng bằng khoanh nuôi.  
Năm 2007, Bộ Nông nghiệp PTNT đã ban  
hành quy định về việc xác định rừng trồng, rừng  
khoanh nuôi thành rừng. Đây là cơ sở quan trọng  
đánh giá các lâm phần đã được phục hồi hay  
chưa sau một thời gian nhất định.  
Rừng là tài nguyên quý giá và có khả năng  
tái tạo; rừng không những là cơ sở của sự phát  
triển kinh tế mà còn giữ chức năng sinh thái  
quan trọng. Tính đến ngày 31/12/2011 diện  
tích rừng Việt Nam khoảng 13,4 triệu ha, độ  
che phủ là 39,7% (Quyết định số 2089/2012-  
QĐ-BNN-TCLN), trong đó khoảng 10 triệu ha  
là rừng tự nhiên. Theo số liệu Cục kiểm lâm  
năm 2011 có tới trên 60% ha rừng tự nhiên  
nước ta là rừng thứ sinh nghèo kiệt và ở những  
mức độ thoái hoá khác nhau. Như vậy có thể  
thấy tính cấp thiết của việc phục hồi rừng tự  
nhiên ở nước ta.  
Phục hồi rừng bằng kỹ thuật khoanh nuôi tự  
nhiên ở Việt Nam được xem là một trong  
những giải pháp quan trọng nhằm phục hồi lại  
rừng ở những nơi tài nguyên rừng bị tàn phá.  
Ưu điểm của giải pháp là không chỉ lợi dụng  
sức mạnh tiềm ẩn của điều kiện tự nhiên mà  
còn giảm chi phí cần thiết và hình thành những  
hệ sinh thái rừng theo quan điểm gần với tự  
nhiên (Phạm Xuân Hoàn et al., 2010).  
Hạnh Lâm là một xã miền núi của huyện  
Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Do việc quản lý  
và khai thác rừng trước đây chưa hợp lý, diện  
tích rừng tự nhiên trên địa bàn đã bị thu hẹp;  
chất lượng và khả năng phòng hộ của rừng bị  
suy giảm. Từ năm 1999, kỹ thuật khoanh nuôi  
tự nhiên để phục hồi rừng đã được chú trọng  
và được áp dụng phổ biến cho các loại thảm  
thực vật Ic (đối tượng chưa có rừng). Nghiên  
Thực tế cho thấy rừng phục hồi tự nhiên  
thường có khả năng chống chịu cao với những  
23  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2013  
L©m sinh  
cứu này được thực hiện nhằm xác định hiệu  
quả phục hồi rừng bằng kỹ thuật khoanh nuôi  
tự nhiên và cung cấp cơ sở khoa học cũng như  
thực tiễn quản lý rừng bền vững ở huyện  
Thanh Chương, tỉnh Nghệ An nói riêng và cả  
nước nói chung.  
III. KẾTQUẢNGHIÊNCỨUVÀTHẢOLUẬN  
3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu trước  
khi đưa vào khoanh nuôi  
Theo hồ sơ khoanh nuôi của xã Hạnh Lâm  
khi đưa vào khoanh nuôi năm 1999, các lô  
rừng chủ yếu ở trạng thái IC, một số ở trạng  
thái IIA (theo phân loại trạng thái rừng của  
Loetschaw, 1963) với đặc trưng chính như sau:  
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
+ Trạng thái IC: chủ yếu là cây bụi; lớp cây  
tái sinh có mật độ trên 1.000 cây/ha gồm các  
loài cây tiên phong ưa sáng: Ba soi, Hu day,  
Màng tang, Thừng mực, Mán đỉa… có chiều  
cao bình quân trên 1 m.  
2.1. Đối tượng nghiên cứu  
Các trạng thái rừng đã được đưa vào khoanh  
nuôi tái sinh tự nhiên năm 1999 tại xã Hạnh  
Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
+ Trạng thái IIa: Có sự tham gia của một số  
cây gỗ tiên phong ưa sáng tương đối đều tuổi  
như: Mán đỉa, Ba soi, Kháo nước, Chẹo tía,  
Sồi phảng, Dẻ cau, Cánh kiến…  
- Kế thừa tài liệu về điều kiện và hiện trạng  
rừng khu vực nghiên cứu.  
- Điều tra ngoài thực địa:  
3.2. Đặc điểm cấu trúc các trạng thái rừng  
phục hồi sau khoanh nuôi  
Lập 15 ÔTC điển hình tạm thời có diện tích  
1.000 m2 (40x25 m) ở trạng thái IIA là rừng  
phục hồi từ trạng thái IC (đất chưa có rừng)  
được đưa vào khoanh nuôi từ năm 1999. Tại  
mỗi ÔTC lập năm ô dạng bản với diện tích là  
16 m2/ô (4m x 4m) để điều tra tái sinh và cây  
bụi, thảm tươi.  
Sau hơn 10 năm phục hồi bằng biện pháp  
khoanh nuôi (từ 1999 đến 2011) đa số các lô  
rừng tại khu vực đã có sự thay đổi về trạng thái  
theo hướng đi lên: Từ trạng thái Ic lên trạng  
thái rừng nghèo (theo Thông tư số 34/TT-  
BNNPTNT năm 2009). Tuy nhiên, tại các lâm  
phần số 1, 4, 11 và 15 không có sự chuyển hóa  
về cấp trạng thái cao hơn mà giữ nguyên trạng  
thái như khi đưa vào khoanh nuôi.  
Trong ÔTC, xác định các chỉ tiêu: đường  
kính (D1,3, cm), chiều cao (HVN, m), độ tàn  
che... và điều tra cây tái sinh, cây bụi, thảm  
tươi trên các ô dạng bản theo các phương pháp  
điều tra lâm học thông thường.  
Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, sinh  
trưởng về đường kính và chiều cao của cây  
rừng không biến động nhiều giữa các lô rừng.  
Đường kính dao động từ 13,114,4 cm, trung  
bình đạt 13,72 ± 0,38 cm; HVN biến động từ  
9,411,1 m, trung bình đạt 10,37±0,57 m. Trữ  
lượng của rừng phục hồi tại thời điểm điều tra  
dao động từ 32,5 đến 43,3 m3/ha, trung bình  
đạt 38,9 ± 2,9 m3/ha (vẫn thuộc trạng thái rừng  
nghèo theo Thông tư số 34/2009/TT-  
BNNPTNT). Kết quả này chứng tỏ các lô rừng  
khoanh nuôi trong khu vực nghiên cứu đã phục  
hồi trở lại và đang có sức sinh trưởng tương  
đối đồng đều. Trong thời gian phục hồi, các  
lâm phần đều được quản lý và bảo vệ tốt nên  
quá trình phục hồi rừng hoàn toàn theo quy  
luật tự nhiên.  
2.3. Phương pháp xử lý số liệu  
- Phân tích, xử lý số liệu bằng phương  
pháp thống kê toán học trong lâm nghiệp  
(Nguyễn Hải Tuất et al., 2006).  
- Tổ thành tầng cây gỗ xác định theo chỉ  
số IV% của Daniel Marmillod.  
- Xác định một số quy luật kết cấu lâm  
phần thông qua nghiên cứu phân bố số cây  
theo đường kính (N/D1.3) và số cây theo chiều  
cao (N/HVN) bằng hàm phân bố Weibull.  
- Tổ thành cây tái sinh được tính theo tỷ  
lệ % số cây; mật độ, chất lượng, phân bố cây  
tái sinh theo cấp chiều cao được xác định theo  
các phương pháp thông dụng.  
24  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2013  
L©m sinh  
3.2.1. Đặc điểm cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây cao  
Bảng 01. Tổ thành tầng cây cao trạng thái rừng phục hồi sau khoanh nuôi  
Lâm phần  
N/ha  
Loài /LP  
Công thức tổ thành theo IV%  
16,59 Cht + 15,57 Dec + 12,56 Thn + 10,21 Mđ + 6,88 Va + 6,64  
Thm + 6,33 Bs + 25,21 Lk  
2
3
640  
690  
610  
670  
560  
690  
570  
640  
630  
630  
650  
17  
17  
19  
18  
19  
19  
19  
19  
22  
22  
26  
17,26 Cht + 11,98 Ck + 9,85 Bs + 9,06 Sop + 7,5 Sa + 6,49 Xn +  
6,1 Tht + 5,47 Dec + 5,05 Vt + 21,24 Lk  
14,57 Cht + 12,28 Tha + 11,03 Mđ + 9,51 Sop + 7,05 Rrm + 6,69 Ct  
+ 6,08 Mg + 5,09 Khn + 27,7 Lk  
5
17,53 Cht +15,44 Xn + 12,2 Khn + 11,5 Sop + 8,33 Rrm + 7,17 Bs +  
28,28 Lk  
6
17,23 Nc + 16,03 Dec+ 12,31 Khn + 9,10 Mđ + 7,48 Hđ + 5,62 Thm  
+ 32,23 Lk  
7
17,57 Cht + 12,59 Khn + 11,67 Thn + 8,7 Rrm + 8,29 Xn + 7,64 Mg +  
5,75 Mrr + 5,16 Mt + 22,63 Lk  
8
15,52 Cht + 13,10 Thn + 9,36 Xn + 9,27 Khn + 8,09 Mt + 5,50 Rrm +  
5,41 Tha + 5,40 Nga + 28,36 Lk  
9
19,18 Cht + 11,88 Sop + 11,68 Nc + 9,65 Deg +7,2 Khn + 6,93 Thn +  
5,91 Bb + 27,57 Lk  
10  
12  
13  
14  
11,14 Mđ + 9,64 Ck + 7,88 Bs + 7,83 Khn + 7,65 Thm + 6,78 Sop +  
6,31 Tht + 6,20 Mg + 5,12 Cht + 31,46 Lk  
17,85 Cht + 12,85 Dec + 8,8 Mđ + 7,26 Bs + 6,59 Mrr + 5,33 Sa +  
42,05 Lk  
11,32 Khn + 7,93 Dec+ 7,89 Mg + 7,35 Mđ + 7,16 Mt + 5,66 Trc +  
52,68 Lk  
Ghi chú: Bs – Ba soi; Bb – Bưởi bung; Cht – Chẹo tía; Ck – Cánh kiến; Ct – Côm tầng; Dec – Dẻ cau; Deg –  
Dẻ gai ấn độ; Hđ – Hu đay; Khn – Kháo nước; Mđ – Mán đỉa; Mg – Mò gỗ; Mrr – Muồng ràng ràng; Mt –  
Màng tang; Nc – Nanh chuột; Nga: Ngát; Rrm – Ràng ràng mít; Sa – Sấu; Sop – Sồi phảng; Tha – Thanh thất;  
Thm – Thừng mực lông; Thn – Thành ngạnh; Tht – Thẩu tấu; Trc – Trám chim; Va – Vàng anh; Vt : Vạng  
trứng; Xn – Xoan nhừ; Lk – Loài khác.  
Kết quả thu được cho thấy mức độ đa dạng về  
loài cây của trạng thái rừng sau khoanh nuôi tại  
khu vực nghiên cứu là khá cao, số lượng loài  
biến động từ 17÷26 loài/lâm phần, trong đó có từ  
6÷9 loài xuất hiện trong công thức tổ thành.  
Những loài cây chiếm ưu thế trong các lâm phần  
tại khu vực nghiên cứu là: Chẹo tía (xuất hiện ở  
9/11 lâm phần), Kháo nước (8), Mán đỉa (6),  
Ràng ràng mít (6), Dẻ cau (5), Ba soi (5), Sồi  
phảng (5), Thành ngạnh (4), Xoan nhừ (4), Mò  
gỗ (4)… những loài cây này chủ yếu là loài ưa  
sáng, tuy ít có giá trị kinh tế nhưng có giá trị sinh  
thái trong quá trình phục hồi rừng, với vai trò là  
những cây tiên phong tạo lập hoàn cảnh rừng.  
Bên cạnh đó, một số loài như: Thừng mực lông,  
Màng tang, Thẩu tấu,… cũng xuất hiện khá phố  
biến trong các lâm phần nghiên cứu. Kết quả  
bảng 01 khẳng định điều kiện lập địa của khu  
vực nghiên cứu phù hợp với khá nhiều loài cây  
ưa sáng mọc nhanh – những loài cây tiên phong  
trong quá trình phục hồi rừng.  
Kết quả bảng 01 cũng cho thấy, mật độ của  
tầng cây cao ở mức trung bình và không biến  
động lớn giữa các lâm phần nghiên cứu, dao  
động từ 560690 cây/ha, trung bình 635±43  
cây/ha. Điều này chứng tỏ rừng ở khu vực  
nghiên cứu đang phục hồi tốt, cần tiếp tục bảo vệ  
ngăn chặn các tác động bất lợi từ bên ngoài.  
25  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2013  
L©m sinh  
định mức độ phân hóa của các cây rừng hoặc  
nhóm cây rừng trong lâm phần. Đây là một  
trong những yếu tố phản ánh động thái phát  
triển của lâm phần và từ đó có thể xác định hoặc  
dự báo được xu hướng phát triển của lâm phần.  
3.2.2. Kết quả nghiên cứu phân bố N/D1.3 và  
N/Hvn  
Nghiên cứu phân bố số cây theo đường kính  
và phân bố số cây theo chiều cao là việc xem  
xét các quy luật kết cấu lâm phần nhằm xác  
Bảng 02. Phân bố N/D1.3 của rừng phục hồi theo hàm Weibull  
Lâm phần  
α
λ
χ2  
χ2  
Kết luận  
H0+  
05tính  
05tra  
2,0  
1,8  
2,0  
2,0  
2,0  
1,9  
2,7  
2,7  
2,0  
2,7  
2,8  
0,0111  
0,0228  
0,0159  
0,0150  
0,0150  
0,0148  
0,0024  
0,0024  
0,0117  
0,0024  
0,0021  
3,63  
7,54  
5,06  
1,91  
0,26  
2,14  
9,24  
1,49  
3,67  
3,12  
3,18  
14,1  
14,1  
12,6  
12,6  
12,6  
14,1  
12,6  
12,6  
14,1  
12,6  
12,6  
2
3
5
6
7
8
9
10  
12  
13  
14  
H0+  
H0+  
H0+  
H0+  
H0+  
H0+  
H0+  
H0+  
H0+  
H0+  
Từ bảng 02, kết quả trên cho thấy các phân bố  
thực nghiệm N/D1,3 đều phù hợp với hàm Weibull  
và đa số có đỉnh lệch trái, chỉ một số OTC có  
dạng hàm phân bố tiệm cận phân bố chuẩn (hình  
01). Kết quả này khẳng định các lâm phần rừng  
phục hồi đang bước vào hoặc đang ở giai đoạn  
cân bằng về động thái của rừng trong quá trình  
phục hồi, phản ánh quá trình diễn thế rừng thứ  
sinh theo chiều hướng tiến hóa.  
Hình 01. Phân bố N/D và N/HVN của lâm phần số 14 – trạng thái rừng IIA  
Bảng 03. Phân bố N/HVN của rừng phục hồi theo hàm Weibull  
Lâm phần  
α
λ
χ2  
χ2  
Kết luận  
05tính  
05tra  
2
3
5
6
1,5  
1,6  
2,0  
2,3  
0,1077  
0,0755  
0,0320  
0,0207  
3,24  
9,60  
6,11  
9,54  
14,1  
15,5  
14,1  
14,1  
H0+  
H0+  
H0+  
H0+  
26  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2013  
L©m sinh  
7
8
2,4  
1,7  
2,9  
2,7  
2,4  
2,8  
3,0  
0,0126  
0,0556  
0,0048  
0,0060  
0,0141  
0,0069  
0,0029  
8,73  
6,63  
5,48  
11,91  
4,15  
5,40  
3,77  
14,1  
14,1  
14,1  
15,5  
14,1  
12,6  
14,1  
H0+  
H0+  
H0+  
H0+  
H0+  
H0+  
H0+  
9
10  
12  
13  
14  
Tương tự phân bố N/D1,3, phân bố N/HVN của  
các lâm phần nghiên cứu cũng phù hợp với phân  
bố Weibull. Tuy nhiên, các phân bố thực  
nghiệm N/Hvn tại đây khá phức tạp, có từ một  
đến nhiều đỉnh phụ, một số lâm phần thể hiện  
phân bố có nhiều đỉnh (lâm phần số 14 có 3  
đỉnh – hình 01); độ lệch của phân bố N/Hvn khá  
khác biệt giữa các lâm phần nghiên cứu. Kết  
quả này cũng khẳng định, mức độ phân hóa về  
chiều cao của các nhóm cây trong các lâm phần  
đã bắt đầu có sự khác biệt, quá trình phục hồi  
rừng đang diễn ra theo chiều hướng tiến hóa.  
không gian sinh trưởng cho những cá thể phù  
hợp mục đích kinh doanh.  
3.2.3. Cấu trúc tầng thứ và độ tàn che  
Qua nghiên cứu cho thấy trạng thái rừng đang  
phục hồi tại khu vực nghiên cứu có kết cấu 3  
tầng: tầng tán chính, tầng dưới tán và tầng cây  
bụi thảm tươi. Đây là kết quả phát triển liên tục  
của các loài cây trong quá trình phục hồi. Tham  
gia vào tầng tán chính chủ yếu là các cây tiên  
phong ưa sáng như: Chẹo tía, Dẻ cau, Kháo  
nước, Thành ngạnh, Sồi phảng, Ba soi, Vạng  
trứng... và đang trong giai đoạn phát triển  
mạnh về đường kính. Độ tàn che của rừng ở  
mức độ trung bình, dao động từ 0,43 ÷ 0,60.  
Từ kết quả nghiên cứu phân bố N/D và N/H  
cho thấy, ở thời điểm này, có thể áp dụng một  
số biện pháp kỹ thuật lâm sinh như chặt nuôi  
dưỡng nhằm điều chỉnh tổ thành và tầng tán  
của một số lâm phần góp phần loại bỏ một số  
cây ít có giá trị kinh tế và chất lượng kém, tạo  
3.3. Đặc điểm tái sinh tự nhiên của rừng  
phục hồi sau khoanh nuôi  
3.3.1. Mật độ và tổ thành tái sinh  
Bảng 04. Mật độ và tổ thành cây tái sinh các lâm phần rừng phục hồi  
Loài có trong tổ thành  
tầng cây cao  
Lâm phần  
N/ha  
4.500  
4.500  
3.750  
4.000  
3.625  
5.125  
3.750  
Công thức tổ thành theo số cây  
1,39 Nho+1,39 Va+0,83 Đcc+0,83 Mch+0,83 Sa  
+4,27 Lk  
2
3
5
6
7
8
9
Vàng anh  
1,67 Va+1,39 Sa+1,11 Dec+0,83 Đcc+0,83  
Deg+0,83 Sop +3,33 Lk  
Sấu, Sồi phảng  
Sồi phảng  
0,13 Sop+0,1 Deg+0,1 Lix+0,1 Mch+0,1 Sa+0,1  
Tht+0,1 Va+0,27 Lk  
0,13 Xn+0,09 Đcc+0,09 Lix+0,09 Rrm+0,09  
Sa+0,09 Sop+0,09 Va +0,31 Lk  
Sồi phảng, Xoan nhừ  
Dẻ cau  
0,17 Dec+0,17 Tht+0,14 Bu+0,1 Đcc+0,1 Sa +0,31  
Lk  
1,22 Sa+ 0,98 Lix+0,98 Mrr+0,98 Sop+0,73  
Bu+0,73 Deg+0,73 Mđ +0,73 Xn +2,93 Lk  
Xoan nhừ  
0,13 Khn+0,1 Dec+ 0,1 Lix+0,1 Mđ+0,1 Sa+0,07  
Bu+0,07 Deg+0,07 Nga +0,27 Lk  
Kháo nước  
27  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2013  
L©m sinh  
Chẹo tía, Dẻ gai Ấn độ,  
Kháo nước  
0,13 Sa+0,13 Sop+0,08 Cht+0,08 Deg+0,08  
Khn+0,08 Lix+0,08 Mđ +0,08 Nac+0,26 Lk  
4.750  
10  
0,12 Ck+0,12 Sop+0,12 Va+0,09 Khn+0,09  
Sa+0,09 Tht +0,36 Lk  
12  
13  
14  
4.125  
3.625  
3.500  
Cánh kiến, Kháo nước  
Vàng anh  
0,1 Dec+0,1 Lix+0,1 Mrr+0,1 Sa+0,1 Tht+0,07  
Ck+0,07 Deg+0,07 Sop +0,07 Trt+0,21 Lk  
1,43 Dec+1,07 Lix+1,07 Nac+1,07 Sa+1,07  
Va+0,71 Mđ +3,57 Lk  
Sấu, Sồi phảng  
Ghi chú: Bu: Bứa; Đcc: Đáng chân chim; Mch: Máu chó lá to; Nac: Nanh chuột, Nho: Nhội; Lix:  
Lim xẹt; Trt: Trám trắng.  
Từ bảng 04, cho thấy các lâm phần rừng phục  
hồi ở khu vực nghiên cứu có mật độ cây tái sinh  
ở mức độ trung bình, đạt 4.114±535 cây/ha.  
Nhìn chung các loài tham gia công thức tổ thành  
tầng cây tái sinh tương đối phong phú. Mỗi lâm  
phần điều tra có từ 12÷16 loài xuất hiện nhưng  
chỉ có từ 5÷9 loài tham gia công thức tổ thành.  
Đặc biệt là đã có sự thay đổi so với tầng cây cao,  
các loài tiên phong ưa sáng mạnh như Ba soi,  
Thành ngạnh, Hu đay... đã ít xuất hiện trong  
công thức tổ thành của tầng tái sinh mà thay vào  
đó là các loài chịu bóng tốt hơn ở giai đoạn còn  
nhỏ như: Sấu, Lim xẹt, Sồi phảng, Dẻ gai ấn độ,  
Bứa, Vàng anh…  
So với công thức tổ thành tầng cây cao, ở tầng  
cây tái sinh chỉ thấy một hoặc hai loài là có trong  
tổ thành tầng cây cao. Các loài này là Vàng anh,  
Sồi phảng, Xoan nhừ, Dẻ cau, Chẹo tía, Kháo  
nước... còn lại là các loài cây khác có khả năng  
chịu bóng tốt hơn. Nếu rừng tiếp tục được bảo vệ  
tốt thì lớp cây tái sinh này có thể sẽ thay thế  
những loài tiên phong ưa sáng ở tầng cây cao của  
rừng trong tương lai.  
khẳng định rằng, tái sinh ở rừng phục hồi sau  
khoanh nuôi tại khu vực nghiên cứu khá ổn định  
và đang phát triển theo chiều hướng đi lên.  
3.3.3. Ảnh hưởng của tầng cây cao và lớp cây  
bụi, thảm tươi đến tái sinh rừng  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, mật độ tái  
sinh có xu hướng tăng tỷ lệ thuận với độ tàn  
che của tầng cây cao và tỷ lệ nghịch với độ che  
phủ của tầng cây bụi thảm tươi. Nghĩa là  
những ÔTC có độ tàn che thấp, mật độ tái sinh  
thấp và ngược lại. Điều này phù hợp với thực  
tế khi độ tàn che thấp cây bụi thảm tươi, dây  
leo phát triển mạnh nên lớp cây tái sinh muốn  
phát triển phải cạnh tranh gay gắt với tầng cây  
bụi, thảm tươi. Tuy vậy, tầng cây bụi thảm tươi  
phát triển mạnh cũng góp phần tạo ra tiểu hoàn  
cảnh rừng, hỗ trợ quá trình phục hồi đất, hạn  
chế xói mòn tầng đất mặt. Các loài cây bụi  
thảm tươi chủ yếu xuất hiện trong các trạng  
thái rừng phục hồi ở khu vực nghiên cứu là  
Lấu, Dương xỉ, Bồ cu vẽ, Sẹ, Sa nhân, Ớt  
sừng… Chiều cao biến động từ 0,86 ÷ 1,79 m,  
độ che phủ biến động từ 43 ÷ 63%.  
Qua đây thấy rằng, cây bụi thảm tươi có ảnh  
hưởng mạnh mẽ đến số lượng và chất lượng  
lớp cây tái sinh dưới tán rừng. Vì vậy, để thúc  
đẩy quá trình tái sinh, nhất là những cây tái  
sinh có triển vọng, việc điều chỉnh độ tàn che  
của tầng cây cao bằng kỹ thuật chặt nuôi  
dưỡng rừng hay hạ thấp độ che phủ bằng cách  
phát luỗng dây leo, cây bụi là cần thiết trong  
thời gian tới.  
3.3.2. Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh  
Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, tỷ lệ cây  
tái sinh phẩm chất tốt tương đối cao, dao động từ  
39÷75%. Cây tái sinh chủ yếu có nguồn gốc từ  
hạt (chiếm từ 65,5% đến 87,9%). Cũng trong  
nghiên cứu này, chúng tôi đã xác định được tỷ lệ  
cây tái sinh triển vọng biến đổi từ 34,48 ÷  
66,67% và cây tái sinh trong các lâm phần được  
phân bố đều trên nền rừng. Qua đây, có thể  
28  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2013  
L©m sinh  
Ngoài ra, trong quá trình điều tra, có 4 trong  
tổng số 15 lâm phần là không có sự thay đổi về  
trạng thái (giữ nguyên trạng thái IC như lúc ban  
đầu đưa vào khoanh nuôi). Qua tìm hiểu thấy  
rằng, người dân địa phương thường xuyên có  
các hoạt động như kiếm củi và chăn thả gia súc  
vào rừng. Đây cũng là một trong những  
nguyên nhân gây ảnh hưởng xấu đến quá trình  
phục hồi rừng, cần có biện pháp ngăn chặn tình  
trạng này.  
IV. KẾT LUẬN  
- Các trạng thái rừng trước khi đưa vào  
khoanh nuôi tại xã Hạnh Lâm là đối tượng  
chưa có rừng (trạng thái IC), sau hơn 10 năm  
rừng đã phục hồi trở lại. Một số lâm phần  
không phục hồi được chủ yếu là do không  
kiểm soát được việc chăn thả tự do và lấy củi.  
- Số lượng loài cây của rừng phục hồi là khá  
cao, dao động từ 17 ÷ 26 loài/lâm phần, trong đó  
có từ 6 ÷ 9 loài tham gia trong công thức tổ  
thành. Những loài cây chiếm ưu thế chủ yếu là  
những loài cây ưa sáng, ít có giá trị về kinh tế  
nhưng có ý nghĩa về sinh thái và phòng hộ cao  
như Ràng ràng mít, Chẹo tía, Mán đỉa, Thành  
ngạnh, Xoan nhừ, Thừng mực lông, Kháo nước,  
Ba soi...  
3.4. Hiệu quả ban đầu do rừng phục hồi  
mang lại  
3.4.1. Hiệu quả sinh thái  
Từ khi có chương trình khoanh nuôi bảo vệ  
rừng năm 1999, xã Hạnh lâm có 6.000 ha rừng  
được bảo vệ và phát triển. Khu rừng này có vai  
trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nước  
cho sinh hoạt và chăn nuôi của người dân địa  
phương. Ngoài ra, việc duy trì các diện tích rừng  
cũng góp phần đảm bảo nguồn nước tưới tiêu  
cho hệ thống nông nghiệp và duy trì môi trường  
sinh thái cho khu vực, vì thế đã bắt đầu xuất hiện  
mọi người đến thăm quan, thưởng ngoạn.  
- Tái sinh rừng đang diễn ra theo chiều  
hướng tích cực. Các loài tham gia công thức tổ  
thành tương đối phong phú, biến đổi từ 12÷16  
loài/lô rừng, số loài tham gia công thức tổ  
thành biến đổi từ 5÷9 loài và đặc biệt là đã có  
sự thay đổi so với tầng cây cao, các loài tiên  
phong tạm thời đã ít xuất hiện, mà thay vào đó  
là các loài tiên phong định cư và có giá trị cao  
hơn như Sấu, Lim xẹt, Sồi phảng, Dẻ gai ấn  
độ, Bứa, Vàng anh…. Mật độ, tỷ lệ cây tái sinh  
có triển vọng cũng như chất lượng cây tái sinh  
cũng khá tốt, đảm bảo trong thời gian tới sẽ có  
đủ lớp cây kế cận và chất lượng rừng đảm bảo.  
3.4.2. Hiệu quả kinh tế - xã hội  
Người dân tham gia chương trình khoanh  
nuôi bảo vệ rừng ngoài được hưởng một khoản  
kinh phí nhất định để bảo vệ rừng họ còn được  
hưởng các nguồn lợi khác từ rừng như tận thu  
sản phẩm từ tỉa thưa rừng, thu hoạch các lâm sản  
ngoài gỗ; ngoài ra người dân còn tận dụng những  
khoảng trống trong rừng để trồng một số loại cây  
đặc sản, cây thuốc dưới tán rừng… từ đó cơ cấu  
thu nhập của người dân địa phương đã được cải  
thiện. Không ít hộ gia đình đã có nguồn thu nhập  
khá ổn định do rừng cung cấp, góp phần xóa đói  
giảm nghèo cho người dân địa phương trong xã.  
Mặc khác, vấn đề công ăn việc làm cho một bộ  
phận người dân địa phương phần nào được giải  
quyết, góp phần cải thiện đời sống, an ninh trật  
tự trên địa bàn.  
- Với hiện trạng phục hồi rừng như trên, có  
thể áp dụng một số biện pháp kỹ thuật tác động  
vào rừng ở giai đoạn tiếp theo như sau:  
+ Đối với những lô rừng phục hồi không  
thành công: Tiếp tục khoanh nuôi nhưng cần  
xúc tiến tái sinh kết hợp với trồng bổ sung, tiến  
hành phát luỗng dây leo, trảng cỏ cây bụi tạo  
điều kiện thuận lợi cho cho lớp cây tái sinh có  
sẵn phát triển. Tùy thuộc vào cấu trúc hiện tại  
của các trạng thái, yêu cầu phục hồi rừng tại  
địa phương, các loài cây trồng mục đích đã xác  
định để quyết định lựa chọn loài cây trồng bổ  
sung. Có thể sử dụng các loài cây có giá trị  
29  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2013  
L©m sinh  
như: Dẻ (Castanopsis boisii), Trám trắng  
(Canarium album) để đưa vào trồng dưới tán.  
- Tiếp tục theo dõi cấu trúc và tái sinh rừng  
phục hồi trong khu vực để có những giải pháp  
phù hợp. Các giải pháp phải mang tính đồng bộ  
và hài hòa về mặt kỹ thuật - kinh tế và xã hội.  
+ Đối với những lô rừng được đánh giá  
là phục hồi thành công:  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Áp dụng biện pháp nuôi dưỡng rừng: điều  
chỉnh mật độ và tạo tổ thành hợp lý cho rừng  
hỗn loài ở giai đoan rừng đang phục hồi tốt  
bằng cách loại bỏ những cây có phẩm chất xấu,  
sâu bệnh, cây chèn ép cây mục đích.  
1. Bộ Nông nghiệp PTNT (2007), Quyết định số  
46/2007/QĐ-BNNPTNT, Ban hành quy định về việc xác  
định rừng trồng, rừng khoanh nuôi thành rừng, ngày  
28/5/2007.  
2. Bộ Nông nghiệp PTNT (2009), Thông tư số  
34/2009/TT-BNNPTNT, Quy định tiêu chí xác định và  
phân loại, ngày 10/6/2009.  
Điều chỉnh độ tàn che tạo điều kiện cho cây  
tái sinh sinh trưởng phát triển tốt, điều tiết tổ  
thành cây tái sinh thông qua việc xúc tiến tái  
sinh, nuôi dưỡng những loài cây mục đích, loại  
bỏ những loài cây ít giá trị, phẩm chất kém.  
Đồng thời luỗng phát dây leo, cây bụi, thảm  
tươi tạo điều kiện cho cây tái sinh có không  
gian dinh dưỡng để sinh trưởng. Song việc  
điều tiết phải bảo đảm yêu cầu mật độ cây tái  
sinh có triển vọng, có giá trị đạt trên 1000  
cây/ha.  
3. Bộ Nông nghiệp PTNT (2012), Quyết định số  
2089/QĐ-BNN-TCLN ngày 30/8/2012 của Bộ Nông  
nghiệp và Phát triển nông thôn công bố số liệu hiện  
trạng rừng tòan quốc.  
4. Bộ NN PTNT (1998), QPN 21-98: Phục hồi  
rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng  
bổ sung, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội.  
5. Phạm Xuân Hoàn et al (2010), Xây dựng hướng  
dẫn kỹ thuật lâm sinh cho rừng tự nhiên phục hồi sau  
khoanh nuôi (thuộc DA 661), Báo cáo khoa học tổng kết  
Công trình 661. Tổng cục Lâm nghiệp, 12/2010.  
6. Nguyễn Hải Tuất, Vũ Tiến Hinh, Ngô Kim Khôi  
(2006), Phân tích thống kê trong lâm nghiệp. Giáo trình  
Đại học và sau Đại học, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội.  
AN EFFICIENCY OF REFORESTATION BY NATURAL REGENERATION  
AT HANHLAM COMMUNE, THANH CHUONG DISTRICT,  
NGHE AN PROVINCE  
Bui The Doi  
SUMMARY  
Reforestation or forest rehabilitation by natural regeneration is one of the silvicultural measures with high  
efficiency. After 10 or 15 years of proper regeneration, forest communities are able to recover well. Since 1999,  
this measure has been applied for the vegetation of IC status with density of about 1,000 seedlings/ha, and average  
height of 1m, including species: Macaranga sp, Trema angustifolia, Litsea cubeba... At present, the forest stands  
have been restored. 11 out of 15 forest stands have developed from IC to IIA status. Stand average diameter is from  
13.1 to 14.4 cm, stand volume is from 32.5 to 43.3 m3/ha, respectively. The species richness is quite high, from 17  
to 26 species/forest. Dominant tree species are Engelhardtia roxburghiana, Machilus sp, Archidendron clypearia,  
Ormosia balansae...; forest coverage rate of 0.43-0.60. In the regeneration layer, there are 12-16 species in a plot  
with a density of 4,114 trees/ha. The shade-tolerant species such as Dracontomelon duperreanum, Peltophorum  
pterocarpum, Castanopsis spp, Garcinia oblongifolia,... are growing to replace light-like species. However, it is  
necesssary to monitor and apply appropriate and timely measures to lead the reforestation process into right ways.  
Keywords: Hanh Lam commune, natural regeneration, plant composition, reforestation and rehabilitation  
Người phản biện: PGS.TS. Phạm Xuân Hoàn  
Ngày nhận bài: 23/5/2013  
Ngày phản biện: 23/5/2013  
Ngày quyết định đăng: 07/6/2013  
30  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2 - 2013  
pdf 8 trang yennguyen 21320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả phục hồi rừng bằng kỹ thuật khoanh nuôi tái sinh tại xã Hạnh Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_phuc_hoi_rung_bang_ky_thuat_khoanh_nuoi_tai_sinh_ta.pdf