Tổng quan kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ lĩnh vực lâm sản ngoài gỗ giai đoạn 2011-2020, định hướng đến 2030

TỔNG QUAN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ CHUYỂN GIAO  
CÔNG NGHỆ LĨNH VỰC LÂM SẢN NGOÀI GỖ  
GIAI ĐOẠN 2011 - 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN 2030  
TS. Phan Văn Thắng; PGS.TS. Nguyễn Huy Sơn  
Trung tâm Nghiên cứu Lâm sản ngoài gỗ - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam  
TÓM TẮT  
Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) là một bộ phận quan trọng, không thể thiếu của các hệ sinh thái rừng, chiếm  
một vị trí quan trọng trong xu thế phát triển lâm nghiệp bền vững gắn với cải thiện sinh kế cho cộng đồng các  
dân tộc sinh sống ở miền núi Việt Nam. Nhận thức được tầm quan trọng của LSNG, chính quyền từ Trung  
ương đến địa phương và người dân trong đó có Bộ Nông nghiệp và PTNT đã quan tâm nhiều hơn đến công  
tác nghiên cứu phát triển LSNG có giá trị nhằm nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm gắn với việc bảo  
tồn, khai thác phát triển các nguồn gen quý hiếm này. Trong giai đoạn từ 2011 đến 2020, Chính phủ đã đầu  
tư kinh phí để thực hiện khoảng 144 nhiệm vụ khoa học công nghệ có liên đến nghiên cứu LSNG, gồm 81  
nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp Quốc gia, 52 nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp Bộ và tỉnh, 6 dự án giống  
và nhiều đề tài, dự án nhiệm vụ cơ sở khác. Những thành tựu về công tác nghiên cứu và chuyển giao công  
nghệ lĩnh vực LSNG đã đạt được những thành tựu nhất định đóng góp rất lớn vào tăng trưởng của ngành lâm  
nghiệp nói riêng, nền kinh tế xã hội nước ta nói chung giai đoạn 2011 - 2020, nổi bật: Về chọn tạo giống  
công nhận được 25 giống mới của 5 loài bao gồm Sa nhân tím, Mắc ca, Tràm năm gân, Tràm trà và Đàn  
hương. Các giống này đã được chuyển giao vào sản xuất để trồng hàng nghìn ha; về kỹ thuật trồng và khai  
thác đã xác định được tập đoàn các cây LSNG có tiềm năng phát triển phục vụ cho gây trồng chủ yếu cho  
mỗi vùng sinh thái, xác định được một số đặc điểm sinh học, đánh giá đất đai, phân chia lập địa, xác định  
điều kiện gây trồng cho một số loài cây LSNG chủ yếu và xây dựng quy trình kỹ thuật trồng thâm canh, thu  
hoạch theo hướng đạt chuẩn, năng suất cao, bền vững. Đồng thời các quy trình này được tài liệu hóa, tiêu  
chuẩn hóa phục vụ cho sản xuất trên cả nước; về sơ chế, chế biến đã công nhận được 01 tiến bộ kỹ thuật  
chưng cất tinh dầu Hồi từ lá và chuyển giao cho nhiều cơ sở sản xuất trên cả nước; về nghiên cứu kinh tế, thị  
trường và chính sách đã có một số kết quả nghiên cứu ban đầu làm cơ sở đề xuất các chính sách phát triển  
như Nghị định 65/2017/NĐ-CP, Nghị định 75/2016/NĐ-CP của Chính phủ, Quyết định số 11/2011/QĐ-TTg  
của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1976/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Bên cạnh những kết quả  
đã đạt được, hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ về lĩnh vực LSNG còn có một số tồn tại, chưa  
đạt được so với tiềm năng sẵn có đó là số tiến bộ công nghệ còn ít, số lượng kết quả nghiên cứu, tiến bộ công  
nghệ được đưa vào sản xuất còn hạn chế và nhiều kết nghiên cứu chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của sản  
xuất. Để LSNG trở thành một bộ phận quan trọng, đóng góp lớn cho giá trị sản xuất của ngành, trong giai  
đoạn tới, cần tập trung ưu tiên nghiên cứu: (i) Nghiên cứu đánh giá toàn diện và xác định được những loài  
cây LSNG có giá trị và có tiềm năng phát triển theo hướng hàng hóa theo từng tỉnh, từng vùng kinh tế sinh  
thái; (ii) Nghiên cứu phát triển toàn diện ngành mây - tre Việt Nam theo chuỗi giá trị; (iii Nghiên cứu phát  
triển các loài cây LSNG làm dược liệu có giá trị phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; (iv) Nghiên cứu  
phát triển toàn diện các loài cây lấy tinh dầu, dầu nhựa chủ lực, có giá trị kinh tế cao phục vụ xuất khẩu;  
(v) Nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện các giải pháp phát triển các loài cây làm gia vị, thực phẩm chủ lực cho  
xuất khẩu; (vi) Nghiên cứu, đánh giá thực trạng, ứng dụng, cải tiến và hoàn thiện công nghệ thu hoạch và sau  
thu hoạch LSNG; (vii) Nghiên cứu phục hồi rừng tự nhiên bằng một số loài cây LSNG và các phương thức,  
biện pháp quản lý tài nguyên LSNG trong rừng tự nhiên theo hướng hài hòa giữa phát triển kinh tế gắn với  
bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên rừng ở vùng đệm và rừng phòng hộ đầu nguồn; (viii) Nghiên cứu  
kinh tế, định lượng giá trị của LSNG trong rừng, nghiên cứu dự báo thị trường, xã hội và môi trường, hoàn  
thiện các chính sách có liên quan đến bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên LSNG.  
62  
Overview the results of research and technology transfer in field of non-timber forest products  
for the period 2011-2020, towards 2030  
SUMMARY  
Non-timber forest products (NTFPs) are an important and indispensable part of forest ecosystems,  
occupying an important position in the trend of sustainable forestry development associated with improving  
livelihoods for ethnicity communities living in the mountains of Vietnam. Recognizing the importance of  
NTFPs, the government from the central to local levels and people including MARD have paid more  
attention to the valuable NTFP research and development in order to improve product quality, associated  
with the conservation, exploitation and development of these rare genetic resources. In the period from 2011  
to 2020, the Government has invested funds to perform about 144 scientific and technological tasks related to  
NTFP research, including 81 national science and technology tasks and 52 scientific tasks in ministerial and  
provincial technology, 6 breeding projects and many other basic projects and tasks. Achievements on  
research and technology transfer in the NTFP field have achieved certain achievements, greatly contributing  
to the growth of the forestry sector in particular and our country's socio-economic economy in general in the  
period of 2011 - 2020, prominently: Breeding and recognizing 25 new varieties of 5 species including  
Amomum cypress, Macadamia, Melaleuca melaleuca, Melaleuca tea and Sandalwood (đàn hương). These  
varieties have been transferred into production to plant thousands of hectares. In terms of planting and  
harvesting techniques, a group of NTFP trees has been developed with the potential to grow mainly for each  
ecological region, identifying some biological characteristics, assessing land and fertilizer; site division,  
identification of growing conditions for some key NTFP species and development of intensive cultivation  
and harvesting techniques towards standards, high yield and sustainability. At the same time, these processes  
are documented and standardized for production throughout the country; preliminary processing and  
processing have recognized a technical progress of distillation of anise essential oil from leaves and  
transferred to many production facilities across the country. In terms of economic, market and policy  
research, there have been some initial research results as a basis for proposing development policies such as  
Decree 65/2017/ND-CP and Decree 75/2016/ND- CP of the Government, Decision No. 11/2011/QD-TTg of  
the Prime Minister, Decision No. 1976/QD-TTg of the Prime Minister. In addition to the achieved results,  
research and technology transfer activities in the field of NTFPs still have some shortcomings, not achieved  
compared to the available potential, which is the small number of technological advances, the number of  
Research results and technological advances put into production are still limited and many research results  
have not yet met the production requirements. In order for NTFPs to become an important part and contribute  
greatly to the production value of the sector, in the coming period, research priority should be focused on:  
(i) Comprehensive assessment and identification of tree species. NTFPs are valuable and have the potential  
to develop in the direction of goods by each province and each ecological economic region;  
(ii) Comprehensive research and development of Vietnam's rattan - bamboo industry along the value chain;  
(iii) Research and development of NTFP species as valuable medicinal herbs for domestic consumption and  
export; (iv) Comprehensive research and development of key oil and essential oil species of high value for  
export; (v) Researching on supplementing and perfecting solutions for development of major spices and  
foodstuff plants for export; (vi) Research, assess the situation, apply, improve and perfect NTFP harvesting  
and post-harvest technologies; (vii) Research on rehabilitation of natural forests by some NTFP species and  
methods and measures to manage NTFP resources in natural forests in the direction of harmonizing  
economic development with conservation and sustainable development forest resources in the buffer zone  
and watershed protection forests; (viii) Conduct economic research, quantify the value of NTFPs in forests,  
conduct market forecasts, social and environmental, finalize policies related to the conservation and  
sustainable development of NTFP resources.  
I. MỞ ĐẦU  
Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) là một thuật ngữ Việt Nam dùng để chỉ các sản phẩm được khai  
thác từ rừng, có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ như tre nứa, song, mây, tinh dầu, nhựa, dược liệu,  
sợi, lương thực, thực phẩm, v.v... Trước đây, do LSNG có khối lượng nhỏ, lại ít được chú ý  
trong khai thác nên thường coi là sản phẩm phụ của rừng, gọi là lâm sản phụ, một số loại  
LSNG có giá trị đặc biệt thì gọi là đặc sản rừng. Tuy nhiên, đây lại là một bộ phận quan trọng,  
không thể thiếu của các hệ sinh thái rừng tự nhiên, nhất là rừng tự nhiên nhiệt đới. Ngày nay,  
do biến đổi khí hậu toàn cầu diễn biến phức tạp khó lường, diện tích rừng nhất là rừng tự nhiên  
bị tàn phá mạnh, gỗ quý tự nhiên trở nên hiếm và sử dụng ít dần, nhiều nguyên liệu khác như  
63  
kim loại và các chất tổng hợp dần dần thay thế trong công nghiệp và các ngành khác. Trong  
khi đó, xu thế nhu cầu tiêu dùng của con người quan tâm tới chăm sóc sức khỏe bản thân, tới  
môi trường và sử dụng nguyên liệu tự nhiên thay cho hợp chất hóa học nhiều hơn nên nhu cầu  
LSNG nhất là các sản phẩm LSNG có giá trị cao, thiết yếu cho nhu cầu cuộc sống của con  
người ngày càng thiếu hụt trầm trọng. Từ đó, vai trò của LSNG cũng như sự quan tâm tới việc  
quản lý, bảo tồn, khai thác và phát triển bền vững tài nguyên LSNG ngày càng được chú ý bởi  
vì LSNG vừa cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp quan trọng như công nghiệp  
điện tử, công nghiệp dược phẩm, công nghiệp hóa mỹ phẩm, công nghiệp thực phẩm, đồng  
thời là nguồn sinh kế của người dân nông thôn miền núi, góp phần đảm bảo an sinh xã hội.  
Nếu quản lý tốt, phát triển hợp lý thì nguồn lợi và sự đóng góp từ LSNG cho nền kinh tế quốc  
dân hoàn toàn không nhỏ, đôi khi còn lớn hơn cả gỗ, đồng thời còn đóng góp vào khả năng  
phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái. Do đó, các cấp các ngành từ Trung ương đến địa  
phương và người dân trong đó có Bộ Nông nghiệp và PTNT đã quan tâm nhiều hơn đến công  
tác nghiên cứu phát triển LSNG có giá trị nhằm nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm gắn  
với việc bảo tồn, khai thác phát triển các nguồn gen quý hiếm. Những thành tựu về công tác  
nghiên cứu và chuyển giao công nghệ lĩnh vực LSNG đã đạt được những thành tựu nhất định  
đóng góp rất lớn vào tăng trưởng của ngành lâm nghiệp nói riêng, nền kinh tế xã hội nước ta  
nói chung giai đoạn 2011 - 2020.  
II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ LĨNH VỰC LSNG  
GIAI ĐOẠN 2011 - 2020  
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của Trung tâm Nghiên cứu Lâm sản ngoài gỗ, giai đoạn  
2011-2020, đã có khoảng 144 nhiệm vụ khoa học công nghệ có liên đến nghiên cứu LSNG, gồm  
81 nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp Quốc gia, 52 nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp Bộ và tỉnh,  
11 đề tài cấp cơ sở và 14 nhiệm vụ xây dựng tiêu chuẩn, 3 nhiệm vụ điều tra cơ bản, 6 dự án  
giống thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia Phát triển Lâm nghiệp bền vững 2011-2020. Trong  
đó, riêng Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thực hiện 25 nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp  
Quốc gia, 11 nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp Bộ và tỉnh và 14 nhiệm vụ xây dựng tiêu chuẩn,  
3 nhiệm vụ điều tra cơ bản và 5 dự án giống thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia Phát triển  
Lâm nghiệp bền vững 2011-2020. Các kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ lĩnh vực  
LSNG giai đoạn 2011-2020 đạt được như sau:  
2.1. Kết quả nghiên cứu về quản lý tài nguyên và bảo tồn nguồn gen cây LSNG  
Hiện nay ở Việt Nam có 33 vườn quốc gia (VQG), 56 khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN), 13  
khu bảo tồn loài, 9 khu dự trữ sinh quyển và 54 khu bảo vệ cảnh quan, phân bố rộng và trải đều  
ở các tỉnh trên phạm vi cả nước. Phần lớn các khu rừng này có chức năng bảo tồn đa dạng sinh  
học và bảo tồn nguồn gen các loài động - thực vật đặc trưng cho từng vùng. Đặc biệt là bảo tồn  
các loài động, thực vật đang có nguy cơ bị tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau, trong đó có  
các loài cây LSNG. Để thực hiện nhiệm vụ này, trong 144 nhiệm vụ khoa học công nghệ có  
liên đến nghiên cứu LSNG, có tới 32 nhiệm vụ khoa học công nghệ về khai thác nguồn gen cây  
LSNG tập trung vào:  
- Xác định được một số đặc điểm sinh thái quần thể cơ bản của rừng tự nhiên nơi có phân bố  
nhiều loài cây LSNG quý hiếm, đặc hữu làm cơ sở đề xuất giải pháp bảo tồn và khai thác bền  
vững một cách có hiệu quả như Trà hoa vàng, Sâm ngọc linh, Tam thất hoang, Vằng đắng, Bảy  
lá một hoa, Hoàng tinh cách,..  
- Xác định được đa dạng di truyền, giá trị nguồn gen, thành phần hóa học của một số sản  
phẩm LSNG có giá trị để phục vụ công tác bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen cây rừng  
như: Sâm ngọc linh, Sa nhân, Thảo quả, Ba kích, Quế, Hồi, Sở, Lai, Xoay, Óc chó,...  
64  
- Đánh giá đa dạng sinh học về LSNG và bước đầu đã xác định được các loài đặc hữu, quý  
hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng; đề xuất các phương thức bảo tồn và đã bảo tồn một số nguồn gen.  
- Phần lớn các loài cây LSNG có nguy cơ bị tuyệt chủng đã được nghiên cứu các biện pháp kỹ  
thuật nhân giống thành công, kể cả nhân giống hữu tính và nhân giống vô tính để phục vụ công tác  
bảo tồn. Ví dụ: Thông đỏ ở Pà Cò (Taxus chinensis), Thông đỏ ở Lâm Đồng (Taxus wallichiana),  
Thủy tùng (Glyptostrobus pensilis), Sâm lai châu (Panax vietnamensis var. Fuscidiscus),...  
- Hiện nay, phần lớn các loài cây có nguy cơ bị tuyệt chủng đã được bảo tồn thành công và  
đang chuyển sang giai đoạn thực hiện các nhiệm vụ khai thác phát triển nguồn gen như các loài:  
Bời lời đỏ (Machilus odoratissima), Trám đen hoàng vân (Canarium tramdenum), Quế thanh  
hóa (Cinnamomum cassia), Ươi (Scaphium macropodum),...  
Riêng nhiệm vụ “Bảo tồn nguồn gen cây rừng” cấp Bộ giai đoạn 2012-2015 thực hiện tại  
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã bảo tồn tại chỗ được 9,0 ha cho 7 loài cây (Căm xe,  
Giáng hương quả to, Dầu song nàng, Dầu đọt tím, Bạch tùng, Chai lá cong, Gụ mật), trong đó  
chỉ có 1 loài cho LSNG (Dầu đọt tím có thể khai thác dầu nhựa). Ngoài ra, các nhiệm vụ bảo tồn  
loài cụ thể, trong đó có rất nhiều loài cây LSNG được thực hiện bởi các ban quản lý của các  
vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên, đây là nguồn gen rất đa dạng phục vụ công tác chọn  
tạo giống cho các loài cây LSNG rất có triển vọng.  
2.2. Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống LSNG  
Trong 144 nhiệm vụ khoa học công nghệ có liên đến nghiên cứu LSNG, chỉ có 42 nhiệm vụ  
khoa học công nghệ và 6 dự án giống thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia Phát triển Lâm  
nghiệp bền vững 2011-2020 chiếm 33,3% tổng số các nhiệm vụ có liên quan đến công tác nghiên  
cứu, phát triển và chuyển giao khoa học công nghệ về giống cây LSNG. Do hầu hết số lượng  
nhiệm vụ thuộc nhiệm vụ khai thác quỹ gen nên nội dung cũng như kinh phí đầu tư cho nghiên  
cứu cải thiện giống của các loài cây LSNG giai đoạn này khá khiêm tốn, nên thành tựu nghiên  
cứu cải thiện giống cho các loài cây LSNG giai đoạn này cũng rất hạn chế. Chỉ có 5 loài có  
giống được công nhận, tổng số giống đã được cải thiện là 22 giống. Trong đó, Mắc ca 01 dòng  
vô tính, Tràm năm gân 12 dòng vô tính, Tràm trà 6 dòng vô tính và 2 gia đình, Sa nhân tím 1  
xuất xứ và 01 giống cây Đàn hương có xuất xứ Karnataka, Ấn Độ nhập nội. Kết quả nổi bật  
trong giai đoạn gồm:  
a) Về chọn tạo giống  
- Các giống Mắc ca (Macadamia integrifolia) đã được công nhận là giống Tiến bộ kỹ thuật  
và giống Quốc gia gồm các dòng vô tính: 842; 741; 800; 900; 695 (Quyết định số 2039/QĐ-  
BNN-TCLN, ngày 01/9/2011); OC; 246; 816; 849 (Quyết định số 2040/QĐ-BNN-TCLN, ngày  
01/9/2011 và Daddow đạt năng suất hạt từ 15 đến 20 kg /cây ở vùng Tây Nguyên và từ 10 đến 15  
kg /cây ở vùng Tây Bắc (Quyết định số 65/QĐ-BNN-TCLN, ngày 11/01/2013) và đã được gây  
trồng trên diện rộng.  
- Các giống tràm đã được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật theo Quyết định 796/QĐ-  
BNN-TCLN, ngày 13/4/2012 gồm: Tràm năm gân (Melaleuca quinquenervia) có 10 giống: xuất  
xứ Q8; xuất xứ Q15; xuất xứ Q16; xuất xứ Q23; dòng vô tính Q4.19; dòng vô tính Q4.40; dòng  
vô tính Q4.41; dòng vô tính Q4.44; dòng vô tính Q4.45; dòng vô tính Q4.50. Tràm trà  
(Melaleuca alternifolia) có 3 giống gồm: A26; A32 và A38.  
- Giống Sa nhân tím, xuất xứ Sơn Long đã được công nhân là giống Tiến bộ kỹ thuật theo  
Quyết định số 89/QĐ-BNN-TCLN, ngày 01/01/2018 đạt năng suất quả từ 400-450kg quả  
tươi/ha ở Hoành Bồ - Quảng Ninh và đã được gây trồng trên diện rộng với khoảng 10.000 ha  
trên cả nước.  
65  
- Giống cây Đàn hương có xuất xứ Karnataka, Ấn Độ được công nhận vào sản xuất tại Quyết  
định số 1305/QĐ-BNN-TCLN, ngày 22/04/2019 có năng suất năm thứ 3 đạt 1,3kg hạt/cây, hàm  
lượng dầu đạt 1,3% được gây trồng sản xuất trên diện rộng.  
Ngoài ra, các đề tài, dự án bước đầu đã tạo lập được tập đoàn giống công tác, bình tuyển hàng  
nghìn cây trội, xây dựng được khoảng 130 ha rừng giống, vườn giống, vườn tập hợp giống công  
tác, vườn cây bố mẹ, vườn vật liệu kết hợp khảo nghiệm giống tại các vùng sinh thái khác nhau.  
b) Công tác nghiên cứu nhân giống và chuyển giao công nghệ  
Quy trình nhân giống bằng công nghệ nuôi cấy mô đã tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện  
cho các giống Sa nhân tím, Ba kích, Thảo quả, Hồi, Quế, Sâm ngọc linh, Đẳng sâm... Từ năm  
2011 đến nay đã có 5 cơ sở sản xuất cây giống LSNG bằng phương pháp nuôi cấy mô được  
chuyển giao giống và công nghệ nhân giống cho các giống Sa nhân tím, Ba kích, Sâm ngọc linh,  
đến nay các cơ sở này đã hoàn toàn làm chủ được công nghệ và đã sản xuất giống ở quy mô  
công nghiệp từ 100.000 cây giống trở lên và có 15 cơ sở sản xuất giống cây LSNG được chuyển  
giao công nghệ nhân giống bằng phương pháp ghép cho cây Giổi ăn hạt, Hồi, Trám, Mắc ca,...  
c) Công tác tài liệu hóa  
- Các tiêu chuẩn quốc gia đã được công nhận theo Quyết định số 600/QĐ-BKHCN, ngày  
28/3/2017, gồm: TCVN 11767:2017 Giống cây lâm nghiệp - cây giống Mây nếp; TCVN  
11768:2017 Giống cây lâm nghiệp - cây giống Thảo quả; TCVN 11769:2017 Giống cây lâm  
nghiệp - cây giống Hồi; TCVN 11770:2017 Giống cây lâm nghiệp - cây giống Sa nhân tím.  
- Bộ tiêu chuẩn TCVN 8761 - Giống cây lâm nghiệp - Khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị  
sử dụng (Khảo nghiệm VCU) - gồm 8 phần: TCVN 8761-1:2017 Phần 1: Nhóm các loài cây lấy  
gỗ; TCVN 8761-2:2018 Phần 2: Nhóm các loài cây Lâm sản ngoài gỗ (thân gỗ lấy quả và hạt);  
TCVN 8761-3:2018 Phần 3: Nhóm các loài cây ngập mặn; TCVN 8761-4:2018 Phần 4: Nhóm các  
loài cây thân gỗ lấy dầu nhựa; TCVN 8761-5:2019 Phần 5 : Nhóm các loài cây thân gỗ lấy tinh  
dầu; TCVN 8761-6:2019 Phần 6 : Nhóm các loài cây thân thảo, dây leo lấy củ; TCVN 8761-  
7:2019 Phần 7: Nhóm tre nứa; TCVN 8761-8:2019 Phần 8: Nhóm song mây.  
- Các tài liệu đã xuất bản được sử dụng như các Hướng dẫn kỹ thuật để tham khảo phục vụ  
nghiên cứu khoa học, đào tạo và phát triển sản xuất gồm:  
1. Cây Dó bầu và Trầm hương. NXB Khoa học và Kỹ thuật, 2011;  
2. Kỹ thuật trồng một số loài tre trúc song mây. NXB Nông nghiệp, 2013;  
3. Kỹ thuật trồng 10 loài cây lâm sản ngoài gỗ làm gia vị. NXB Nông nghiệp, 2014.  
2.3. Kết quả nghiên cứu kỹ thuật gây trồng và thu hoạch LSNG  
Từ trình độ sản xuất lạc hậu, trong suốt thời gian dài hoạt động sản xuất được tiến hành theo  
phương thức thu hái, lợi dụng tự nhiên là chính, không theo một biện pháp kỹ thuật nào hoặc có  
gây trồng một số loài LSNG thì phương thức gây trồng quảng canh là chính, giống cây trồng xô  
bồ có năng suất thấp đã dần dần được thay thế bằng một số loài cây mới, giống mới phù hợp  
hơn, phương thức sản xuất tiến bộ hơn, có năng suất cao hơn, chất lượng và hiệu quả kinh tế  
hơn. Công nghệ sinh học, công nghệ thông tin đã được ứng dụng rộng rãi có những đóng góp  
quan trọng trong lĩnh vực sản xuất góp phần gia tăng kim ngạnh xuất khẩu hàng hóa LSNG với  
tốc độ tăng trưởng khá cao từ 15% đến 30% hàng năm. Trong 144 nhiệm vụ khoa học công nghệ  
có liên quan đến LSNG, có tới trên 90% số nhiệm vụ tập trung nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng  
và thu hoạch LSNG. Kết quả nổi bật trong giai đoạn gồm:  
66  
a) Công tác nghiên cứu kỹ thuật gây trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trừ sâu bệnh hại, thu  
hoạch và quản lý tài nguyên LSNG  
- Đã xác định được tập đoàn các cây LSNG có tiềm năng phát triển phục vụ cho gây trồng  
chủ yếu cho mỗi vùng sinh thái.  
- Đã đánh giá đất đai, phân chia lập địa, xác định điều kiện gây trồng cho một số loài cây  
LSNG chủ yếu bao gồm Luồng, Trúc sào, Vầu đắng, Bương mốc, Lùng, Mai, Bát độ, Lục trúc,  
Mây nếp, Trám, Quế, Hồi, Sở, Trẩu, Dó trầm, Tràm, Dầu rái, các loài thông, Ba kích, Sa nhân,  
Thảo quả, Sâm ngọc linh, Sâm lai châu, Tam thất hoang và nhiều loài cây dược liệu khác.  
- Đã xác định được một số đặc điểm sinh học (hình thái, vật hậu,...), đặc điểm sinh thái  
(nhu cầu dinh dưỡng khoáng, nhu cầu ánh sáng, điều kiện khí hậu), đặc điểm phân bố, làm cơ  
sở xây dựng quy trình kỹ thuật trồng thâm canh theo hướng đạt chuẩn, năng suất cao, bền vững  
một số loài cây LSNG chủ yếu bao gồm Luồng, Trúc sào, Vầu đắng, Bương mốc, Lùng, Mai,  
Bát độ, Lục trúc, Mây nếp, Trám, Quế, Hồi, Sở, Trẩu, Dó trầm, Tràm, Dầu rái, các loài thông,  
Ba kích, Sa nhân, Thảo quả, Sâm ngọc linh, Sâm lai châu, Tam thất hoang và nhiều loài cây  
dược liệu khác. Đặc biệt đã xác định được loài cây, xây dựng quy trình kỹ thuật gây trồng một  
số loài cây dược liệu quý dưới tán như Trà hoa vàng, Sa nhân, Ba kích, Thảo quả, Sâm ngọc  
linh, Sâm lai châu,...  
- Đã xác định được biện pháp kỹ thuật trồng thâm canh và sử dụng phân bón và chất phụ gia  
theo hướng đạt chuẩn (GACP, hữu cơ,...);  
- Đã xác định được một số sâu bệnh hại và xây dựng quy trình kỹ thuật phòng trừ sâu  
bệnh hại một số loài cây LSNG chủ yếu như sâu róm thông, sâu đục nõn trên cây thông nhựa,  
sâu ánh kim hại cây hồi, sâu róm xanh ăn lá quế,..  
- Đã hoàn thiện hướng dẫn kỹ thuật quản lý rừng bền vững hướng tới cấp chứng chỉ rừng  
cho tre nứa theo tiêu chuẩn quốc gia (PEFC) và FSC.  
- Đã xây dựng hướng dẫn kỹ thuật thu hoạch một số loài cây LSNG chủ yếu: Quế, Hồi, Ba  
kích, Sa nhân, Thảo quả, Sâm ngọc linh,...  
b) Công tác chuyển giao công nghệ  
- Đã xây dựng được nhiều mô hình trình diễn về: kỹ thuật trồng thâm canh theo hướng đạt  
chuẩn và bền vững đối với một số loài Tre nứa, Song mây, Thông, Quế, Hồi, Trám, Sở, Sa nhân,  
Ba kích, Thảo quả, Sâm ngọc linh và nhiều loài cây dược liệu có giá trị kinh tế cao, quý hiếm khác.  
- Đã chuyển giao kỹ thuật trồng thâm canh cho 15 cơ sở sản xuất các loài một số loài Tre  
trúc, Mây nếp, Quế, Hồi, Sa nhân, Thảo quả, Ba kích, Sâm ngọc linh, Trà hoa vàng,...  
c) Công tác tài liệu hóa  
- Đã ban hành một số tiêu chuẩn cơ sở về kỹ thuật gây trồng các loài cây LSNG chủ yếu,  
có giá trị cao như: Luồng, Trúc sào, Mây nếp, Quế, Hồi, Trám, Giổi, Sở, Thảo quả, Ba kích,  
Sa nhân,...  
- Đã xây dựng và ban hành nhiều hướng dẫn kỹ thuật gây trồng cho các loài cây LSNG chủ  
yếu ở hầu hết các vùng sinh thái trên cả nước.  
2.4. Kết quả nghiên cứu về chế biến LSNG  
Trong lĩnh vực công nghiệp chế biến LSNG: Do đặc điểm của LSNG đa dạng, phong phú về  
chủng loại cũng như số lượng không lớn nên công nghệ chế biến cũng rất đa dạng và phân tán.  
Từ năm 2010 đến nay, việc nghiên cứu chế biến LSNG đã dần được chú trọng theo hướng hiện  
đại hóa nhằm từng bước nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng  
67  
trong nước cũng như xuất khẩu như chế biến các sản phẩm mây, tre, nhựa thông, tinh dầu quế,  
tinh dầu hồi và một số sản phẩm dược liệu chủ yếu. Tuy nhiên, số nhiệm vụ liên quan đến chế  
biến LSNG rất hạn chế, chỉ có 12/144 nhiệm vụ có nghiên cứu về chế biến LSNG. Một số kết  
quả nghiên cứu về chế biến LSNG nổi bật đó là:  
- Công nghệ chưng cất tinh dầu Hồi từ cành và lá đã được công nhận là Tiến bộ kỹ thuật  
theo Quyết định số 492/QĐ-TCLN-KH&HTQT, ngày 29/12/2017 mang lại hiệu quả kinh tế vượt  
trội tối thiểu 20% so với công nghệ trong sản xuất và đã được chuyển giao cho 4 cơ sở chế biến  
LSNG ở 3 tỉnh miền núi phía Bắc là Hà Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng.  
- Công nghệ chế biến tre trúc cũng bước đầu được phát triển mạnh nhất là công nghệ chế  
biến tre ép khối, công nghệ sấy nan tre phục vụ cho chế biến thủ công mỹ nghệ,... đáp ứng yêu  
cầu hiện đại hóa. Công nghệ tre ép khối đã được chuyển giao cho vùng Tây Bắc mang lại hiệu  
quả kinh tế cao.  
- Công nghệ chế biến nhựa thông, công nghệ chế biến dầu Trẩu và công nghệ chế biến nhiều  
sản phẩm dược liệu theo hướng chưng luyện, trích ly phân đoạn trong sản xuất tinh dầu, nhựa,  
hương liệu, dược liệu đã và đang đáp ứng được yêu cầu của sản xuất.  
- Công nghệ sơ chế một số sản phẩm dược liệu bước đầu được quan tâm nghiên cứu tập  
trung vào công nghệ sơ chế (sấy) Thảo quả, Sa nhân, Đẳng sâm,...  
- Đã đề xuất và ứng dụng một số công nghệ tiên tiến trong chế biến, bảo quản một số sản  
phẩm LSNG theo hướng tinh làm tăng giá trị cho đơn vị sản phẩm.  
2.5. Kết quả nghiên cứu về thị trường, kinh tế, chính sách  
Trong số các lĩnh vực nghiên cứu về LSNG, lĩnh vực nghiên cứu về thị trường, kinh tế,  
chính sách rất hạn chế. Thống kê cho thấy, trong giai đoạn 2011-2020, chỉ có 5 nhiệm vụ có liên  
quan đến nghiên cứu lĩnh vực này về LSNG. Cụ thể:  
- Về kinh tế, thị trường: Thị trường LSNG từ chỗ theo cơ chế định giá, phụ thuộc chủ yếu  
vào thị trường các nước Đông Âu với sự tham gia của một thành phần kinh tế chủ yếu là doanh  
nghiệp nhà nước chuyển sang cơ chế thị trường theo sự điều tiết của quy luật cung cầu, nhất là  
khi Việt Nam đã gia nhập WTO, đã ký hiệu định thương mại với nhiều vùng, nước, lãnh thổ trên  
thế giới trong đó nổi bật là Hiệp định thương mại CTTPP, Hiệp định thương mại EVFTA,  
VPA/FLEGT,... Thị trường tiêu thụ LSNG trong nước cũng như quốc tế ngày càng được mở  
rộng, thành phần tham gia thị trường ngày càng phong phú, hoạt động giao dịch ngày càng được  
hiện đại hóa trên cơ sở ứng dụng các công nghệ thông tin. Thực tế cho thấy, sản lượng LSNG  
khai thác, cung cấp ra thị trường đều tăng hàng năm. Tuy nhiên, có rất ít các nghiên cứu về thị  
trường, kinh tế, chính sách có liên qua. Trong 10 năm vừa qua, chỉ có một số công trình nghiên  
cứu về lĩnh vực này cho LSNG tập trung ở các dự án của Bộ Nông nghiệp và PTNT và các tổ  
chức phi chính phủ hoặc được lồng ghép trong các nhiệm vụ khoa học công nghệ như nghiên  
cứu về thị trường chuỗi giá trị một số sản phẩm Quế, Hồi, Thảo quả, Tre, Sâm ngọc linh,... Bước  
đầu đã dự báo thị trường cho một số sản phẩm LSNG có giá trị cao về Tre, nhựa thông, nhựa Bồ  
đề, Hồi, Quế, Thảo quả, Sở, Sâm ngọc linh và một số sản phẩm dược liệu giá trị cao khác.  
- Về chính sách: Từ một số kết quả nghiên cứu của các nhiệm vụ khoa học công nghệ trong  
giai đoạn, có 3 chính sách ban hành nổi bật, đó là Nghị định 65/2017/NĐ-CP ngày 19/5/2017 của  
Chính phủ về chính sách đặc thù về giống, vốn và công nghệ trong phát triển nuôi trồng, khai  
thác dược liệu. Tiếp theo là Quyết định số 11/2011/QĐ-TTg ngày 18/2/2011 của Thủ tướng  
Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển ngành mây tre và Quyết định số 1976/QĐ-TTg  
ngày 30/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu  
đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. Bên cạnh đó, để khẳng định vai trò của LSNG đối  
68  
với sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số ở các huyện nghèo trên cả nước, Chính phủ đã ban  
hành Nghị định số 75/2015/NĐ-CP ngày 09/9/2015 về Về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát  
triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc  
thiểu số giai đoạn 2015 - 2020.  
2.6. Những tồn tại  
Mặc dù có những thành tựu nhất định, nhưng trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ về  
lĩnh vực LSNG còn một số tồn tại. Đó là:  
- Một trong những tồn tại lớn trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ về LSNG là số tiến  
bộ công nghệ còn ít, số lượng kết quả nghiên cứu, tiến bộ công nghệ được đưa vào sản xuất còn  
hạn chế và nhiều kết nghiên cứu chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của sản xuất, nhiều kết quả  
nghiên cứu khi đưa ra đã lạc hậu. Những tồn tại trên do một số nguyên nhân chủ yếu được xác  
định là:  
+ Thiếu các nghiên cứu cơ bản về LSNG làm cơ sở đề xuất định hướng, chiến lược nghiên  
cứu về LSNG hợp lý, thiếu chú ý đến nghiên cứu chuyên sâu. Hoạt động nghiên cứu LSNG thiếu  
các chương trình nghiên cứu dài hạn theo hướng kế thừa để tạo ra các sản phẩm cụ thể để có thể  
chuyển giao vào sản xuất và thương mại hóa.  
+ Hoạt động nghiên cứu khoa học về LSNG còn bị coi nhẹ và chưa được đầu tư thích  
đáng về nhân lực và tài chính. Trong khi nguồn kinh phí cho nghiên cứu hạn chế, các nhiệm  
vụ nghiên cứu còn dàn trải, thường bị chia cắt, phân tán, thiếu tập trung, đồng bộ nên chưa  
giải quyết được những vấn đề tổng hợp, có vai trò quyết định đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.  
+ Các nghiên cứu liên quan đến chọn tạo giống còn bị coi nhẹ, thiếu các nghiên cứu chuyên  
sâu như nghiên cứu về di truyền, chọn giống và công nghệ nhân giống. Các kết quả nghiên cứu  
thiếu tính kế thừa và tầm nhìn dài hạn.  
+ Các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào vấn đề giá trị, đặc điểm sinh học và tổng kết các  
kinh nghiệm trong nhân dân mà chưa dựa trên những nghiên cứu về sinh lý, sinh thái, dinh  
dưỡng, đất đai theo hướng hiện đại, lô gíc, khoa học, hệ thống, bài bản, chuyên sâu, có tính kế  
thừa để có cơ sở khoa học vững chắc đề xuất biện pháp kỹ thuật thâm canh, tăng năng suất đồng  
thời vừa chú trọng đến vấn đề về chất lượng và phát triển bền vững tạo cho sản phẩm có giá trị  
gia tăng cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế nên chưa đáp ứng được yêu cầu của  
sản xuất, còn khoảng cách lớn giữa nghiên cứu và sản xuất.  
+ Các nghiên cứu về công nghệ khai thác, sơ chế, chế biến sâu trên cơ sở ứng dụng công  
nghệ hiện đại để tạo ra các sản phẩm LSNG mới, có giá trị gia tăng cao, được chuyển giao và  
thương mại hóa chưa được chú trọng. Các nghiên cứu chủ yếu vẫn dựa vào phương thức chế  
biến thủ công, quy mô nhỏ, công nghệ đơn giản tạo ra sản phẩm LSNG lưu thông trên thị trường  
chủ yếu là sản phẩm thô hoặc tươi, không qua sơ chế, chế biến, có chất lượng còn thấp, không  
đồng đều, mẫu mã đơn điệu, giá trị gia tăng thấp, không đáp ứng được yêu cầu của sản xuất, khó  
có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.  
+ Các nghiên cứu về thị trường, định lượng giá trị của LSNG còn yếu và thiếu, chưa nắm bắt  
kịp thời phục vụ cho định hướng sản xuất.  
+ Chưa quan tâm đến nghiên cứu các vấn đề về môi trường, xã hội và chính sách có liên  
quan đến LSNG.  
+ Thiếu sự liên kết giữa nghiên cứu - chuyển giao - sản xuất - thị trường.  
- Việc xác định và tổ chức thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu LSNG chưa thực sự xuất phát từ  
nhu cầu thực tiễn của sản xuất, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, còn mang nặng tính chủ quan,  
69  
bị động, thường chạy theo phục vụ sản xuất trước mắt, chưa chuẩn xác, thiếu thực tế, chưa có sự  
tham gia của người sử dụng kết quả nghiên cứu, thiếu tính liên tục, kế thừa nên hiệu quả nghiên  
cứu chưa cao, chưa gắn chặt với thực tiễn sản xuất và thị trường, chưa chú ý đến đối tượng là  
LSNG. Hơn nữa, nhận thức về vai trò, giá trị của LSNG còn chưa rõ ràng. Nhiều người cho rằng  
LSNG là sản phẩm nhỏ lẻ, phân tán, khối lượng ít, do thiên nhiên ban tặng, cứ có rừng là có  
LSNG nên không cần phải nghiên cứu và đầu tư phát triển. Việc phát triển LSNG nhất là LSNG  
dưới tán rừng sẽ tác động xấu đến công tác bảo vệ rừng thậm chí còn gây mất rừng.  
- Cơ chế quản lý hoạt động nghiên cứu chưa tạo động lực khuyến khích cho nghiên cứu  
và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất LSNG.  
- Nguồn nhân lực cho nghiên cứu LSNG vừa thiếu, yếu, không chuyên sâu và chưa đồng bộ.  
Đội ngũ nghiên cứu chưa được trang bị kiến thức và phương pháp tiếp cận phù hợp với lĩnh vực  
LSNG. Thiếu cán bộ đầu ngành trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu về LSNG.  
- Các điều kiện nghiên cứu vừa thiếu vừa lạc hậu. Trang thiết bị thí nghiệm chưa đáp ứng  
yêu cầu của sản xuất.  
- Hệ thống dịch vụ phục vụ cho nghiên cứu LSNG còn chậm phát triển như công tác thông  
tin, dự báo phát triển, hoạt động mua bán công nghệ và lưu thông các kết quả nghiên cứu về  
LSNG còn yếu.  
III. ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VỀ LĨNH VỰC  
LSNG ĐẾN NĂM 2030  
3.1. Những định hướng nghiên cứu về lĩnh vực LSNG  
Xuất phát từ mục tiêu, định hướng của đề án tái cơ cấu ngành, trong giai đoạn tới định  
hướng nghiên cứu và chuyển giao LSNG phải tập trung các vấn đề chính sau:  
- Bảo tồn có hiệu quả và phát triển bền vững nguồn tài nguyên LSNG hiện có góp phần nâng  
cao chất lượng rừng giai đoạn 2021-2030.  
- Nghiên cứu, rà soát, đánh giá hiện trạng tài nguyên LSNG làm cơ sở đề xuất quy hoạch, cơ  
cấu vùng sản xuất gắn với công nghiệp chế biến trong toàn quốc.  
- Quy hoạch vùng sản xuất nguyên liệu LSNG gắn với mạng lưới các cơ sở chế biến có quy  
mô phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng kinh tế - sinh thái.  
- Chọn lọc và nâng cao chất lượng giống cây trồng LSNG theo hướng năng suất, chất  
lượng, ổn định và thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay để cung cấp giống tốt  
cho sản xuất.  
- Xác định cơ cấu cây trồng lâm sản ngoài gỗ chủ lực, chủ yếu có thế mạnh, phù hợp với  
điều kiện của từng vùng kinh tế - sinh thái theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị và  
tính bền vững.  
- Nghiên cứu, ứng dụng, hoàn thiện kỹ thuật và công nghệ canh tác nhằm nâng cao năng  
suất, chú trọng đến vấn đề về chất lượng sản phẩm LSNG theo hướng đạt chuẩn, hiện đại, hiệu  
quả và bền vững tạo cho sản phẩm có giá trị gia tăng cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường  
quốc tế.  
- Nghiên cứu, ứng dụng, cải tiến công nghệ và thiết bị khai thác, sơ chế, chế biến và bảo  
quản các sản phẩm LSNG trên cơ sở ứng dụng công nghệ hiện đại để tạo ra các sản phẩm LSNG  
mới theo hướng đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị và hiệu suất sử dụng sản phẩm, phù hợp  
với nhu cầu thị trường tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu, được chuyển giao và thương  
mại hóa ngay.  
70  
- Nghiên cứu về kinh tế, thị trường, định lượng giá trị của LSNG cũng như quan tâm đến  
nghiên cứu các vấn đề về xã hội, môi trường làm cơ sở dự báo kịp thời phục vụ cho định hướng  
sản xuất.  
- Đẩy mạnh nghiên cứu lĩnh vực chính sách làm cơ sở để đề xuất các chính sách về quản lý,  
khai thác, sử dụng, đầu tư và phát triển bền vững tài nguyên LSNG.  
3.2. Các ưu tiên nghiên cứu và chuyển giao công nghệ về lĩnh vực LSNG  
Từ định hướng chung, một số ưu tiên nghiên cứu và chuyển giao công nghệ về lĩnh vực  
LSNG trong giai đoạn tới như sau:  
- Nghiên cứu đánh giá toàn diện về hiện trạng và tiềm năng tài nguyên LSNG hiện có ở  
từng tỉnh kết hợp với vùng sinh thái, xác định được những loài cây LSNG có giá trị cả về  
khoa học và kinh tế và có tiềm năng phát triển theo hướng hàng hóa theo từng vùng và từng  
tỉnh, làm cơ sở đề xuất giải pháp ưu tiên quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu, bảo tồn và  
phát triển bền vững cho từng loại LSNG một cách có hiệu quả ở các vùng kinh tế sinh thái  
khác nhau.  
- Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc, tăng trưởng, sinh thái cá thể và quần thể, tái sinh,... làm  
cơ sở đề xuất giải pháp phục hồi rừng và phát triển bền vững tài nguyên LSNG trong tự nhiên.  
- Nghiên cứu đánh giá thị trường và dự báo tiềm năng thị trường LSNG trong nước cũng  
như quốc tế làm cơ sở xác định sản phẩm, mặt hàng LSNG có ưu thế, giá trị gia tăng cao và quy  
mô phát triển của chúng ở từng vùng kinh tế sinh thái trong tương lai.  
- Nghiên cứu phát triển toàn diện ngành mây - tre Việt Nam theo chuỗi giá trị nhất là lĩnh  
vực nhân giống, gây trồng, phục tráng, quản lý rừng bền vững, khai thác và chế biến.  
- Nghiên cứu phát triển các loài cây LSNG làm dược liệu có giá trị phục vụ tiêu dùng trong  
nước và xuất khẩu trong đó tập trung vào nghiên cứu chọn, nhân giống đạt chuẩn, nghiên cứu kỹ  
thuật thuần hóa, canh tác dưới tán rừng, ứng dụng công nghệ hiện đại trong thu hoạch và sơ chế  
theo hướng năng suất cao, chất lượng đạt chuẩn, ổn định, bền vững.  
- Nghiên cứu phát triển toàn diện các loài cây lấy tinh dầu, dầu nhựa chủ lực, có giá trị kinh  
tế cao phục vụ xuất khẩu, trong đó chú trọng đến nghiên cứu chọn giống và cải thiện giống, giải  
pháp trồng, thâm canh, công nghệ khai thác, sơ chế và chế biến sản phẩm ở từng vùng kinh tế  
sinh thái cụ thể.  
- Nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện các giải pháp phát triển các loài cây làm gia vị, thực  
phẩm chủ lực cho xuất khẩu theo hướng năng suất, chất lượng cao, ổn định và bền vững trong đó  
chú trọng đến nghiên cứu chọn giống và cải thiện giống, giải pháp trồng thâm canh, công nghệ  
khai thác, sơ chế và chế biến sản phẩm ở từng vùng kinh tế sinh thái cụ thể.  
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng công nghệ thu hoạch và sau thu hoạch LSNG làm cơ sở  
đề xuất định hướng nghiên cứu, quy hoạch mạng lưới phát triển trong tương lai.  
- Nghiên cứu, ứng dụng, cải tiến và hoàn thiện công nghệ thu hoạch và sau thu hoạch  
LSNG theo hướng đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị và hiệu suất sử dụng, chất lượng của  
sản phẩm, phù hợp với các tiêu chuẩn và nhu cầu thị trường tiêu dùng trong nước cũng như xuất  
khẩu. Chú trọng đến kỹ thuật chưng luyện, trích ly trong sản xuất tinh dầu, nhựa, hương liệu,  
dược liệu và công nghệ sản xuất gia vị từ LSNG.  
- Nghiên cứu phục hồi rừng tự nhiên bằng một số loài cây LSNG có giá trị nhằm nâng cao  
giá trị kinh tế của rừng kết hợp bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường sinh thái.  
71  
- Nghiên cứu các phương thức, biện pháp quản lý tài nguyên LSNG trong rừng tự nhiên  
theo hướng hài hòa giữa phát triển kinh tế gắn với bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên  
rừng ở vùng đệm và rừng phòng hộ đầu nguồn.  
- Nghiên cứu định lượng giá trị của LSNG làm cơ sở khoa học trong việc định giá rừng.  
- Nghiên cứu, hoàn thiện và thể chế hóa các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy trình  
quản lý chất lượng có liên quan đáp ứng yêu cầu của sản xuất và quản lý bền vững tài  
nguyên LSNG trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.  
- Chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật, các kết quả nghiên cứu vào sản xuất.  
- Nghiên cứu và hoàn thiện các chính sách có liên quan đến bảo tồn và phát triển bền  
vững tài nguyên LSNG nhằm tạo động lực để người dân tham gia bảo tồn và phát triển LSNG.  
IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT  
4.1. Kết luận  
Lâm sản ngoài gỗ như mọi sản phẩm lâm nghiệp khác, nó là một bộ phận quan trọng, đóng  
góp quan trọng cho giá trị sản xuất của ngành. Trong giai đoạn 2011-2020, hoạt động nghiên cứu  
và chuyển giao công nghệ về lĩnh vực LSNG đã đóng góp không nhỏ, quan trọng vào kết quả  
hoạt động, cũng như sự tăng trưởng vượt bậc và ổn định của ngành lâm nghiệp nói riêng, ngành  
nông nghiệp nói chung. Hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ về lĩnh vực LSNG sẽ là  
một trong những lĩnh vực quan trọng đóng góp vào sự thành công của đề án tái cơ cấu ngành lâm  
nghiệp khi có định hướng nghiên cứu đúng, phù hợp và được đầu tư thích đáng.  
4.2. Đề xuất  
Để thực hiện có hiệu quả các nội dung trên cần phải thực hiện tốt các giải pháp về tổ chức,  
quản lý, phát triển nguồn nhân lực, tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật, nguồn vốn, các chính  
sách khuyến khích hoạt động khoa học, công nghệ và hợp tác quốc tế.  
- Nâng cao năng lực nghiên cứu cho các cán bộ làm công tác nghiên cứu về LSNG thông qua  
đào tạo.  
- Việc xác định và tổ chức thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu LSNG phải xuất phát từ nhu cầu  
thực tiễn của sản xuất và thị trường, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội ở các địa phương, có sự  
tham gia của người sử dụng kết quả nghiên cứu. Hoạt động nghiên cứu LSNG dài hạn, có tính  
liên tục, kế thừa, đồng bộ.  
- Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động nghiên cứu nhằm tạo động lực khuyến khích cho nghiên  
cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất LSNG.  
- Tăng cường điều kiện, trang thiết bị và đầu tư nguồn kinh phí cho nghiên cứu về LSNG.  
- Tăng cường hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ trong lĩnh vực LSNG.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2001): Văn bản tiêu chuẩn kỹ thuật lâm sinh, Tập I. Nhà xuất bản Nông nghiệp.  
2. Trung tâm Nghiên cứu Lâm sản ngoài gỗ (2018): Kỷ yếu Trung tâm Nghiên cứu Lâm sản ngoài gỗ, 40 năm xây  
dựng và phát triển (Tài liệu lưu hành nội bộ).  
72  
pdf 11 trang yennguyen 18880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tổng quan kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ lĩnh vực lâm sản ngoài gỗ giai đoạn 2011-2020, định hướng đến 2030", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftong_quan_ket_qua_nghien_cuu_va_chuyen_giao_cong_nghe_linh_v.pdf