Đánh giá thực trạng lấn chiếm đất rừng phòng hộ tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình

HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 4(1)-2020:1688-1696  
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG LẤN CHIẾM ĐẤT RỪNG PHÒNG HỘ  
TẠI HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH  
Nguyễn Văn Bình*, Trương Đỗ Minh Phượng, Nguyễn Văn Tiệp  
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế  
*Tác giả liên hệ: [email protected]  
Nhận bài: 11/09/2019  
Hoàn thành phản biện: 26/11/2019 Chấp nhận bài: 04/12/2019  
TÓM TẮT  
Bài báo này nhằm mục đích đánh giá thực trạng lấn chiếm và quản lý sử dụng đất rừng  
phòng hộ (RPH) tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2013-2018 thông qua  
điều tra khảo sát các hộ gia đình đang sinh sống gần khu vực có diện tích rừng phòng hộ  
cũng như tham vấn ý kiến của các cán bộ quản lý tại các cơ quan trên địa bàn huyện. Kết quả  
nghiên cứu cho thấy, thực trạng lấn chiếm đất rừng phòng hộ trên địa bàn huyện Quảng Trạch  
có xu hướng giảm dần qua các năm. Tình trạng lấn chiếm đất rừng phòng hộ diễn ra đặc biệt  
nhiều từ năm 2013 trở về trước, từ năm 2014 đến nay nhờ vào việc chú trọng việc quản lý và bảo  
vệ rừng, đặc biệt là rừng phòng hộ của các cơ quan ban ngành trong huyện cũng như ý thức  
người dân được nâng cao nên tình trạng lấn chiếm đất rừng phòng hộ đã giảm đi rất nhiều.  
Nghiên cứu cũng đã xác định được nguyên nhân và những tồn tại trong công tác quản lý và sử  
dụng đất rừng phòng hộ, đồng thời, đề xuất được các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả  
công tác quản lý và sử dụng đất rừng phòng hộ trên địa bàn huyện Quảng Trạch trong thời gian  
tới.  
Từ khóa: Huyện Quảng Trạch, Lấn chiếm, Quản lý, Rừng phòng hộ, Sử dụng  
ASSESSING THE ENCROACHMENT ON PROTECTIVE FOREST LAND  
IN QUANG TRACH DISTRICT, QUANG BINH PROVINCE  
Nguyen Van Binh, Truong Do Minh Phuong, Nguyen Van Tiep  
University of Agriculture and Forestry, Hue University  
ABSTRACT  
This paper aims to assess the encroachment and management of the use of protective  
forest land in Quang Trach district, Quang Binh province in the period of 2013-2018 by  
investigating households living near the protective forest area as well as consulting managers  
in agencies in the area. The research results showed that the encroachment of protective  
forest land in Quang Trach district has decreased over the years. The encroachment on  
protective forest land has occurred since 2013. From 2014 up to now, thanks to the emphasis  
of agencies in the district for managing and protecting forest, especially protective forests in  
the district as well as raising people's awareness, the encroachment on protective forest land  
has been greatly reduced. The research has also determined the causes and shortcomings in  
the management and use of protective forest land. At the same time, some solutions has  
been proposed to improve the effectiveness of the management and use of protective forest  
land in Quang Trach district in the coming time.  
Keywords: Quang Trach district, Encroachment, Management, Protective forest, Land use  
1688  
Nguyễn Văn Bình và cs.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 4(1)-2020:1688-1696  
1. MỞ ĐẦU  
này. Từ đó, không những bảo vệ được đất  
rừng phòng hộ mà còn tránh được các mâu  
thuẫn gay gắt trong sử dụng đất của người  
dân.  
Trên thực tế, mặc dù tổng diện tích  
rừng của Việt Nam tăng từ 12,3 triệu ha  
năm 2004, đến năm 2016 tăng lên hơn 14  
triệu ha, nhưng rừng phòng hộ lại là đối  
tượng có nhiều biến động lớn về diện tích  
trong 3 loại rừng, với diện tích giảm trung  
bình khoảng 2%/năm. Có thể thấy được  
vai trò của rừng phòng hộ là rất quan trọng  
nhưng hiện nay vẫn còn nhiều người dân  
vẫn chưa hiểu hết được lợi ích của nó, do  
đó, đất rừng phòng hộ của Việt Nam ngày  
càng bị thu hẹp lại do hoạt động lấn chiếm  
ngang nhiên, công khai của người dân,  
doanh nghiệp sản xuất với mục đích trồng  
cây nông nghiệp, xây dựng nhà hàng, nuôi  
trồng thủy sản. Bên cạnh đó, việc quản lý  
đất rừng phòng hộ còn lỏng lẻo, các cán bộ  
đôi khi làm ngơ cùng với ý thức người dân  
chưa cao nên rừng phòng hộ bị mất rất  
nhiều trong những năm qua (Thạch Thảo,  
2017).  
Bài báo là kết quả nghiên cứu về  
thực trạng lấn chiếm đất rừng phòng hộ tại  
huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình  
trong giai đoạn 2013-2018, trong đó tập  
trung làm rõ tình hình lấn chiếm rừng  
phòng hộ trên địa bàn, những tồn tại về  
công tác quản lý và sử dụng đất rừng  
phòng hộ để thấy được những nguyên nhân  
cũng như đưa ra các giải pháp khắc phục  
cho các cơ quan quản lý trên địa bàn  
nghiên cứu.  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Phương pháp thu thập số liệu  
2.1.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ  
cấp  
Nghiên cứu tiến hành thu thập số  
liệu thứ cấp gồm: Số liệu về điều kiện tự  
nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên  
cứu, số liệu về tình hình quản lý, hiện  
trạng sử dụng đất, số liệu về các vụ giải  
quyết lấn chiếm đất rừng phòng hộ qua các  
năm, số liệu về hiện trạng sử dụng đất rừng  
phòng hộ và diện tích bị lấn chiếm qua các  
năm, các định hướng, giải pháp chính sách  
của địa phương trong năm tới. Các số liệu  
được thu thập tại các cơ quan ban ngành  
chuyên môn ở huyện Quảng Trạch, tỉnh  
Quảng Bình như Chi cục thống kê,  
Phòng tài nguyên môi trường, Ban quản  
lý rừng phòng hộ huyện Quảng Trạch,  
Hạt kiểm lâm huyện Quảng Trạch.  
Huyện Quảng Trạch là một huyện  
thuộc phía Bắc tỉnh Quảng Bình có tổng  
diện tích đất rừng phòng hộ theo số liệu  
thống kê năm 2018 là 11.063,29 ha, chiếm  
24,7% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện.  
Huyện có rất nhiều tiềm năng để phát triển  
kinh tế - xã hội, tuy nhiên, những năm trở  
lại đây, nơi đây phải hứng chịu không ít  
trận lũ lụt, sạt lở đất, đất rừng bị bạc màu,  
xói mòn do tình trạng phá rừng lấn chiếm  
đất rừng đặc biệt là đất rừng phòng hộ diễn  
ra ngang nhiên mà chưa có sự quản lý chặt  
chẽ của chính quyền địa phương dẫn đến  
thiệt hại rất lớn về tài sản của người dân,  
ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống  
của họ (UBND huyện Quảng Trạch, 2018).  
Vì vậy, để người dân hiểu biết được những  
tác hại của việc lấn chiếm đất rừng phòng  
hộ là việc làm hết sức cần thiết. Cần có  
những nghiên cứu, đánh giá được thực  
trạng cũng như tìm hiểu các nguyên nhân,  
và đưa các giải pháp khắc phục cho vấn đề  
2.1.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp  
Nghiên cứu đã thiết kế bảng hỏi để  
đi điều tra phỏng vấn 60 người dân tại 3 xã  
có diện tích rừng phòng hộ lớn, có các hộ  
gia đình sinh sống ven rừng và bị lấn  
chiếm nhiều là xã Quảng Thạch, Quảng  
Hợp, Quảng Kim (mỗi xã 20 hộ dân).  
1689  
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 4(1)-2020:1688-1696  
Ngoài ra, nghiên cứu còn tham khảo  
ý kiến của các cán bộ quản lý (6 cán bộ  
cấp huyện và 9 cán bộ cấp xã) về những  
tồn tại trong công tác quản lý và sử dụng  
đất RPH gồm Ban quản lý RPH huyện  
Quảng Trạch, Hạt kiểm lâm, Phòng tài  
nguyên môi trường để tổng hợp thông tin  
và giải quyết các đến mục tiêu nghiên cứu.  
và giải quyết đất rừng phòng hộ cũng như  
hiệu quả quản lý của các cơ quan quản lý  
rừng phòng hộ thông qua các bảng và biểu  
đồ.  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO  
LUẬN.  
3.1. Tình hình lấn chiếm đất rừng phòng  
hộ trên địa bàn huyện Quảng Trạch  
2.2. Phương pháp xử lý số liệu  
Để đánh giá tình hình lấn chiếm đất  
rừng phòng hộ trên địa bàn huyện Quảng  
Trạch qua giai đoạn nghiên cứu, nhóm tác  
giả tiến hành đánh giá dựa trên các số liệu  
về diện tích lấn chiếm trên địa bàn huyện  
cũng như tại 3 xã tiến hành điều tra là xã  
Quảng Hợp, Quảng Kim và Quảng Thạch.  
Đồng thời tiến hành tham vấn và khảo sát  
ý kiến của các cán bộ quản lý tại địa bàn  
nghiên cứu, những tồn tại trong công tác  
quản lý và sử dụng đất RPH.  
Trên cơ sở các tài liệu, số liệu thu  
thập từ kết quả điều tra, phỏng vấn, tiến  
hành lựa chọn, phân tích, tổng hợp những  
thông tin liên quan để xử lý số liệu theo  
các nội dung nghiên cứu trên phần mềm  
EXCEL 2013 gồm: Tình trạng lấn chiếm  
đất rừng phòng hộ trên địa bàn huyện,  
những tồn tại của các cấp về công tác quản  
lý và sử dụng đất rừng phòng hộ, tình hình  
giải quyết lấn chiếm đất rừng phòng hộ và  
ý kiến của người dân về công tác giải  
quyết lấn chiếm diện tích đất rừng phòng  
hộ. Từ đó, nghiên cứu đưa ra các nhận xét,  
đánh giá về tình hình sử dụng, lấn chiếm  
3.1.1. Tình trạng lấn chiếm đất rừng phòng  
hộ trên địa bàn huyện  
Hình 1. Thống kê diện tích đất rừng phòng hộ qua các năm của huyện Quảng Trạch.  
Nguồn: Phòng TNMT huyện Quảng Trạch  
Số liệu ở Hình 1 cho thấy diện tích  
đất rừng phòng hộ giảm mạnh ở giai đoạn  
2013 - 2014 với diện tích đất RPH bị mất  
đi là 1.357,81 ha chiếm 12,27% đất RPH  
hiện nay. Đây là một con số rất lớn về diện  
tích RPH bị mất đi do tình trạng lấn chiếm  
trong giai đoạn này diễn ra khá nhiều.  
Nguyên nhân là do giai đoạn này, mặc dù  
được các cấp lãnh đạo chú trọng việc bảo  
vệ và phát triển rừng đặc biệt là đất rừng  
phòng hộ, tuy nhiên vẫn chưa có các văn  
bản hướng dẫn thi hành một cách cụ thể.  
Việc rà soát và xác định ranh giới đất rừng  
phòng hộ còn gặp nhiều khó khăn, người  
1690  
Nguyễn Văn Bình và cs.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 4(1)-2020:1688-1696  
dân vẫn tiến hành khai hoang và trồng cây  
kinh tế rất nhiều. Giai đoạn này người dân  
trên địa bàn huyện phụ thuộc nhiều vào  
rừng để sinh sống và có thu nhập. Đến cuối  
năm 2013 thì luật pháp mới quy định rõ về  
đất rừng phòng hộ cũng như cách giải  
quyết các vi phạm liên quan đến đất RPH.  
Từ giai đoạn 2014 - 2016, diện tích đất  
RPH giảm đi rất ít chỉ gần bằng 0,01% so  
với 2013 - 2014. Đến giai đoạn 2016 -  
2018 thì diện tích RPH vẫn giữ nguyên  
11.063,29 ha. Điều này chứng tỏ công tác  
quản lý, bảo vệ cũng như xử lý các vụ xâm  
phạm đất RPH đã được chú trọng trong  
thời gian gần đây.  
Bảng 1. Tình hình lấn chiếm đất rừng phòng hộ của 3 xã điều tra  
Diện tích bị  
lấn chiếm (ha)  
Quảng Quảng Quảng Quảng Quảng  
Số tiền phạt  
(triệu đồng)  
Quảng  
Thạch  
Số vụ  
Năm  
Quảng  
Kim  
8,5  
1,5  
0,6  
Quảng  
Hợp  
Quảng  
Kim  
-
-
10  
Hợp  
Thạch  
Kim  
Hợp  
Thạch  
2014  
2015  
2016  
2017  
Tổng  
2
-
1
-
3
2
2
-
4
2
3
2
5
-
0,5  
-
7
2
0,7  
-
-
-
2
-
-
-
10  
2
0,2  
10,8  
3
7
11  
5,5  
9,7  
2
12  
10  
Nguồn: Hạt kiểm lâm huyện Quảng Trạch (2018)  
và RPH để lấn thêm đất để sản xuất. Hơn  
nữa, đất RPH rất gần với các hộ dân, một  
số ranh giới chưa được phân chia rõ ràng  
nên dẫn đến tình trạng lấn chiếm xảy ra  
nhiều như vậy.  
Qua số liệu ở Bảng 1 cho thấy, số vụ  
và diện tích lấn chiếm xảy ra ở các xã  
nhiều nhất ở năm 2014, các năm sau này  
thì số vụ và diện tích đất RPH bị lấn chiếm  
ít hơn dần và đến năm 2018 thì không có  
vụ lấn chiếm nào. Điều này chứng tỏ càng  
ngày công tác quản lý, sử dụng đất và giải  
quyết lấn chiếm đất RPH được chú trọng  
và có hiệu quả hơn.  
+ Xã Quảng Thạch là xã có diện tích  
đất trồng cây lâu năm lớn nhất trong 3 xã,  
đất rừng sản xuất cũng tương đối lớn. Tuy  
nhiên đất trồng lúa và trồng cây hằng năm  
khác lại ít nhất. Nên người dân lấn đất  
phần lớn là để trồng cây hằng năm khác và  
cây rừng.  
Trong các xã điều tra thì xã Quảng  
Kim là địa phương xảy ra nhiều vụ lấn  
chiếm và diện tích RPH bị lấn chiếm lớn  
nhất, sau đó là xã Quảng Thạch và cuối  
cùng là xã Quảng Hợp. Qua quá trình điều  
tra, nghiên cứu đã tìm ra được nguyên  
nhân của sự khác biệt này:  
+ Xã Quảng Hợp là xã có diện tích  
đất RPH, đất hằng năm khác, đất rừng sản  
xuất lớn nhất trong 3 xã do đó lợi ích kinh  
tế mang lại rất lớn, nên tình trạng lấn  
chiếm đất RPH xảy ra khá ít. Mặt khác, do  
xã có đất RPH lớn nên các cơ quan chính  
quyền sẽ chú trọng việc bảo vệ và phát  
triển bởi họ nhận biết được vai trò to lớn  
của RPH.  
+ Xã Quảng Kim là xã có diện tích  
đất nuôi trồng thủy sản và đất trồng lúa  
nhiều nhưng hiệu quả kinh tế mang lại của  
2 loại hình sử dụng đất này theo đánh giá  
người dân địa phương và cán bộ chuyên  
môn là chưa cao. Trong khi đó, diện tích  
đất rừng sản xuất và cây lâu năm của xã lại  
ít hơn 2 xã còn lại, nhưng đây lại là 2 loại  
hình sử dụng đất đem lại hiệu quả kinh tế  
cao hơn. Vì vậy, một số hộ dân ở đây đã  
lợi dụng ranh giới giữa đất rừng sản xuất  
3.1.2. Những tồn tại về công tác quản lý và  
sử dụng đất rừng phòng hộ.  
Qua tham vấn và khảo sát ý kiến của  
các cán bộ quản lý tại địa bàn nghiên cứu,  
những tồn tại trong công tác quản lý và sử  
1691  
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 4(1)-2020:1688-1696  
dụng đất RPH được thể hiện ở Bảng 2 như  
sau:  
Bảng 2. Những tồn tại của các cấp về công tác quản lý và sử dụng đất rừng phòng hộ  
Tỉ lệ ý kiến  
đồng ý (%)  
Những tồn tại của các cấp về công tác quản lý và sử dụng đất rừng phòng hộ  
Về cấp chính quyền  
BQLRPH không thường xuyên rà soát, thanh tra, kiểm tra đất RPH.  
Các cơ quan quản lý còn đùn đẩy trách nhiệm, chưa liên kết chặt chẽ với nhau.  
Công tác giao đất cho người dân còn nhiều bất cập, dẫn đến tình trạng lấn chiếm nhiều.  
Trình độ chuyên môn chưa cao, còn hạn chế trong việc áp dụng công nghệ thông tin  
vào quản lý.  
50,2  
48,3  
85,4  
91,5  
51,2  
Một số cán bộ lợi dụng chức quyền và sự thiếu hiểu biết về pháp luật của người dân để  
bao che tiếp tay cho hành vi phạm pháp.  
Về phía người dân  
Một số người dân lợi dụng sự quen biết cán bộ quản lý để lấn chiếm đất RPH.  
Trình độ dân trí thấp chưa hiểu biết về pháp luật đất đai, thiếu hợp tác với chính quyền.  
Sử dụng đất không đúng mục đích, thiếu trình độ canh tác và trồng trọt.  
Người dân ven rừng sống còn phụ thuộc vào rừng  
52,6  
86,9  
89,5  
93,7  
Nguồn: Số liệu điều tra (2018)  
- Về phía người dân, các cán bộ  
quản lý đa số đồng ý với những tồn tại như  
do trình độ dân trí thấp chưa hiểu biết về  
pháp luật; sử dụng đất không đúng mục  
đích, thiếu trình độ canh tác và trồng trọt;  
đặc biệt là người dân ven rừng sống còn  
phụ thuộc vào rừng.  
Qua Bảng 2 cho thấy, tỷ lệ ý kiến  
đồng ý của các cán bộ về những tồn tại của  
các cấp về công tác quản lý và sử dụng đất  
RPH tương đối cao, cụ thể:  
- Về cấp chính quyền, các cán bộ  
quản lý đa số đồng ý với những tồn tại như  
do trình độ chuyên môn chưa cao, còn hạn  
chế áp dụng công nghệ thông tin vào quản  
lý; Công tác giao đất cho người dân còn  
nhiều bất cập, dẫn đến tình trạng lấn chiếm  
nhiều.  
3.2. Đánh giá tình hình giải quyết lấn  
chiếm đất rừng phòng hộ  
3.2.1. Tình hình giải quyết lấn chiếm đất  
rừng phòng hộ  
Bảng 3. Tình hình giải quyết lấn chiếm đất rừng phòng hộ của huyện Quảng Trạch  
Diện tích đất đã Diện tích đất bị lấn  
Diện tích đất  
thu hồi được  
(ha)  
Số tiền phạt  
thu được  
(triệu đồng)  
xử lí nhưng  
không thu hồi  
được (ha)  
407,34  
chiếm nhưng  
không phát hiện  
được (ha)  
678,91  
Năm  
Tổng  
2013-2014  
2014-2015  
2015-2016  
2016-2017  
1.357,81  
0,21  
1,14  
271,56  
0,042  
0,456  
1,2  
-
-
8
0,063  
0,105  
0,513  
0,456  
1,2  
-
-
10  
Nguồn: Phòng TNMT huyện Quảng Trạch  
đất thu hồi được là ít nhất; số tiền phạt để  
nộp ngân sách nhà nước là không đáng kể.  
Cụ thể là:  
Từ Bảng 3 cho thấy, các năm càng  
trở về trước số diện tích đất rừng phòng hộ  
bị lấn chiếm là rất cao. Nhưng điều đáng  
nói ở đây là diện tích bị lấn chiếm nhưng  
chưa được phát hiện hoặc không xử lý rất  
lớn, tiếp đó là diệnt ích đất đã xử lý nhưng  
không thu hồi được, cuối cùng diện tích  
- Giai đoạn 2013 – 2014, đất RPH bị  
mất rất nhiều. Diện tích đất thu hồi được  
chiếm 20% tổng số đất bị lấn chiếm, số  
diện tích thu hồi này chủ yếu rơi vào  
1692  
Nguyễn Văn Bình và cs.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 4(1)-2020:1688-1696  
những trường hợp phát hiện kịp thời nên  
xử lý được. Diện tích đất đã xử lý nhưng  
không thu hồi được chiếm 30%. Số diện  
tích không thu hồi được rơi vào các trường  
hợp đã xây dựng nhà ở, công trình trên đất  
rừng phòng hộ do đó rất khó để thu hồi vì  
những vấn đề nhạy cảm như người dân  
không còn nơi nào để ở, thiệt hại của  
người dân về kinh tế. Diện tích đất bị lấn  
chiếm chưa phát hiện được chiếm 70%,  
những diện tích không phát hiện được là  
do nhiều người dân lẻn vào rừng sâu để  
khai hoang đất rừng nhằm xây dựng lán  
trại, nhà ở và canh tác trên đất đó. Mặt  
khác, các cán bộ quản lý giai đoạn này  
không thường xuyên tuần tra, giám sát,  
công tác thống kê, kiểm kê đất đai hằng  
năm không trùng khớp với thực tế nên  
không phát hiện được số đất bị lấn chiếm.  
- Giai đoạn 2016 - 2018, đất RPH  
được sử dụng ổn định nhờ sự quản lý  
nghiêm ngặt nên tình trạng lấn chiếm xảy  
ra ít nhưng được phát hiện kịp thời nên thu  
hồi được đất.  
Như vậy các năm sau này số diện  
tích đất bị lấn chiếm ít hơn rất nhiều cụ thể  
là 2014-2018 tổng diện tích bị lấn chiếm  
chỉ bằng 0,008 - 0,015% tổng diện tích bị  
lấn chiếm 2013 - 2014. Và công tác tuần  
tra được tăng cường nên phát hiện kịp thời  
vì vậy mà thu hồi được đất.  
3.2.2. Ý kiến của người dân về công tác  
giải quyết lấn chiếm diện tích đất rừng  
phòng hộ  
Công tác lấn chiếm đất rừng phòng  
hộ trong những năm qua còn tồn tại nhiều  
bất cập do đó số người dân đồng tình với  
quá trình giải quyết vi phạm rất ít. Qua quá  
trình điều tra, phỏng vấn người dân trên  
địa bàn huyện Quảng Trạch, tôi đã tổng  
hợp những ý kiến từ người dân cụ thể như  
sau:  
- Giai đoạn 2014 - 2015, diện tích  
đất thu hồi được chiếm 20% tổng số đất bị  
lấn chiếm. Diện tích đất đã xử lý nhưng  
không thu hồi được chiếm 35%. Diện tích  
đất bị lấn chiếm chưa phát hiện được  
chiếm 65%. Giai đoạn này tuy số vụ lấn  
chiếm có giảm hơn so với trước do công  
tác quản lý được tăng cường hơn nhưng  
cũng chưa cải thiện được nhiều do các cán  
bộ chưa áp dụng đúng theo quy định của  
pháp luật trong xử phạt vi phạm lấn chiếm  
nên người dân không thấy sợ, họ vẫn lấn  
chiếm nhiều.  
- Trong quá trình giải quyết lấn  
chiếm đất RPH phần lớn người vi phạm  
đồng tình với cách xử lý của các ban quản  
lý. Nhưng một số ý kiến cho rằng cách xử  
lý của các cán bộ còn chậm, không kịp thời  
hay giải quyết theo cảm giác. Các cán bộ  
xử lý lấn chiếm đất RPH còn nhẹ tay, hầu  
như chỉ lập biên bản phạt tiền mà không  
khởi tố, đặc biệt là đối với những vụ vi  
phạm nghiêm trọng. Một số trường hợp xử  
lý cùng một loại đất và cùng diện tích  
nhưng xử phạt lại chênh lệch nhau về số  
tiền phạt, điều này chứng tỏ các cán bộ xử  
lý không đúng pháp luật qui định.  
- Giai đoạn 2015 - 2016, diện tích  
thu hồi được chiếm 40% tổng số đất bị lấn  
chiếm. Diện tích đất đã xử lý nhưng không  
thu hồi được chiếm 45%. Diện tích đất bị  
lấn chiếm chưa phát hiện được chiếm 15%.  
Giai đoạn này thì ranh giới đất RPH được  
xác định tương đối rõ ràng, các cán bộ thắt  
chặt quản lý hơn, xử phạt theo pháp luật  
đối với các vi phạm nên tình trạng lấn  
chiếm ít hơn.  
- Các vụ giải quyết lấn chiếm hầu  
hết đều tái vi phạm vì liên quan đến sinh  
kế của người dân.  
1693  
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 4(1)-2020:1688-1696  
Hình 2. Tỷ lệ ý kiến người dân về công tác giải quyết lấn chiếm đất rừng phòng hộ  
Nguồn: Số liệu điều tra (2018)  
Qua số liệu Hình 2 cho thấy, trong  
số 60 người được phỏng vấn thì số người  
đồng tình với ý kiến giải quyết lấn chiếm  
đất rừng phòng hộ kịp thời chiếm tỉ lệ cao  
nhất và giải quyết chậm có số người đồng  
tình thấp nhất.  
quá trình giải quyết rất chậm, các cán bộ  
đùn đẩy trách nhiệm cho nhau và cuối  
cùng không giải quyết được vấn đề.  
3.2.3. Minh họa vụ lấn chiếm đất rừng  
phòng hộ nổi bật trên địa bàn huyện  
Quảng Trạch  
Những người đồng tình với ý kiến  
giải quyết kịp thời và giải quyết theo cảm  
giác lấn chiếm đất rừng phòng hộ phần lớn  
là những người từng vi phạm lấn chiếm đất  
rừng. Bởi vì theo họ các cán bộ đi tuần tra  
sau khi phát hiện hành vi chặt phá rừng để  
lấn chiếm thì họ chỉ nhắc nhở nhưng  
không phạt tiền, còn đối với những trường  
hợp đã trồng cây kinh tế lên phần đất lấn  
chiếm thì sẽ đem về UBND xã, hoặc trạm  
kiểm lâm gần nhất để xử lý chủ yếu là phạt  
tiền và bắt buộc nhổ cây đã trồng ra khỏi  
đất lấn chiếm.  
Trường hợp: “Vụ nhà hàng xây  
dựng trái phép ở xã Quảng Tùng, huyện  
Quảng Trạch”.  
Đây là vụ lấn chiếm đất rừng phòng  
hộ nhận được nhiều phản ánh của người  
dân năm 2015. Nhà hàng tiệc cưới Lĩnh  
Tiền, trên địa bàn thôn Di Luân, xã Quảng  
Tùng huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng  
Bình xây dựng không phép, vi phạm  
nghiêm trọng hành lang giao thông đường  
bộ và giao thông đường thủy. Cụ thể, trong  
biên bản xác minh thực địa ngày 4/5/2015,  
do UBND xã Quảng Tùng có nêu rõ: “Hộ  
gia đình ông Bùi Quang Phú (chủ nhà hàng  
Lĩnh Tiền) đã tự ý xâm lấn, san lấp một số  
diện tích đất rừng trồng cây mắm ước tính  
20 năm tuổi, thuộc rừng phòng hộ sông  
Loan với diện tích 595 m2và đã tự ý đổ đất  
pha cát trong diện tích trên, ước tính  
khoảng 1550 m3 để xây dựng hạng mục  
phụ, bếp.”  
Những người không vi phạm phần  
lớn đồng tình với ý kiến giải quyết chậm  
và né tránh lấn chiếm đất rừng phòng hộ.  
Bởi vì theo họ thì những trường hợp vi  
phạm sau khi đã bị xử phạt nhưng họ  
không nhổ cây đi hoặc còn tiếp tục canh  
tác trên đất lấn chiếm đó. Các cơ quan  
quản lý biết nhưng chỉ nhắc nhở hoặc lảng  
tránh trách nhiệm dẫn đến quá trình giải  
quyết dứt điểm các vụ lấn chiếm đất rừng  
phòng hộ diễn ra chậm. Đặc biệt là những  
vụ lấn chiếm đất rừng phòng hộ để xây  
dựng nhà ở, nhà hàng, cơ sở kinh doanh thì  
Những hành vi này, UBND xã  
Quảng Tùng đã lập biên bản và ban hành  
quyết định xử phạt nhưng quá trình xử lý  
chưa quyết liệt, tới nơi tới chốn. Cụ thể,  
1694  
Nguyễn Văn Bình và cs.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 4(1)-2020:1688-1696  
ngày 3/6/2015, UBND xã Quảng Tùng ra  
quyết định xử phạt hành chính ông Bùi  
Quang Phú 4 triệu đồng, buộc nhà hàng  
phải khôi phục lại hiện trạng diện tích rừng  
bị san lấp, cơi nới lấn chiếm như ban đầu  
và yêu cầu khắc phục trong 20 ngày kể từ  
ngày nhận được quyết định.  
- Tổ chức lại các tổ bảo vệ rừng hiện  
có ở các thôn và xây dựng mô hình “Tổ  
lâm nghiệp cộng đồng” do UBND xã trực  
tiếp quản lý và giám sát, cùng với sự hỗ trợ  
của các đơn vị chủ rừng.  
- Báo cáo số hộ gia đình, cá nhân,  
tổ chức đang dựng nhà ở, các công trình  
dân sinh trái phép trong khu vực rừng  
phòng hộ hiện nay (số hộ, cá nhân dựng  
nhà, thực trạng nhà cấp 3, cấp 4, nhà tạm,  
lán trại các biện pháp đã và đang thực hiện  
hiện nay) chi tiết tại các, xã, thôn trên địa  
bàn huyện.  
Trong quá trình xử lý thì UBND xã  
Quảng Tùng đã xử phạt hành chính bằng  
cách phạt tiền lấn chiếm đất rừng phòng hộ  
và hành lang giao thông, còn các hạng mục  
công trình thì không xử lý được. Các cơ  
quan quản lý đùn đẩy trách nhiệm như vị  
chủ tịch xã cho rằng: Việc lấn chiếm hành  
lang giao thông thuộc quản lý của đường  
bộ và đường sông; phó trưởng phòng Tài  
nguyên và Môi trường huyện Quảng Trạch  
lại cho rằng: “Đây là trách nhiệm của địa  
phương chứ không thể đổ lỗi cho cơ quan  
cấp trên được. Đúng ra xã khi phát hiện  
phải ngăn chặn, kịp thời báo lên Quản lý  
đường bộ để xử lý, chứ anh không thể chối  
bỏ trách nhiệm của mình”.  
- Tập huấn về kĩ năng tuần tra bảo  
vệ rừng, sử dụng thiết bị kỹ thuật tuần tra  
bảo vệ rừng, sử dụng thiết bị kỹ thuật trong  
quản lý rừng, báo cáo vi phạm rừng, nâng  
cao hiểu biết về pháp luật bảo vệ rừng, kết  
hợp với giám sát đa dạng sinh học.  
- Muốn giữ được rừng phòng hộ  
phải tạo được sinh kế bền vững cho người  
dân. Mức chi trả dịch vụ môi trường rừng  
tăng lên hằng năm. Tuy nhiên tại nhiều nơi  
số tiền bị chia nhỏ nên mức chi vẫn còn  
thấp, chưa đảm bảo đời sống cho người  
dân làm nghề rừng và không tạo thành  
động lực để bảo vệ rừng. Do vậy cần tăng  
cường đôn đốc thu các loại dịch vụ mới  
tránh để tình trạng nợ đọng và lồng ghép  
các nguồn vốn để nâng cao thu nhập đảm  
bảo cho người dân sống được bằng nghề  
rừng.  
Tuy vậy, hiện nay các hạng mục xây  
dựng trái phép, lấn chiếm đất rừng phòng  
hộ vẫn đang tồn tại, không những thế còn  
xây dựng thêm cổng nhà gây ảnh hưởng  
lớn đến hành lang an toàn giao thông Quốc  
lộ 1A. Từ vụ lấn chiếm trên cho thấy ngay  
việc lấn chiếm xây dựng trái phép trên đất  
RPH không được các cán bộ quản lý ngăn  
ngừa ngay từ đầu, để đến khi xây xong và  
bị người dân phản ánh thì mới xử lý thì  
quá muộn.  
3.3.2. Giải pháp về sử dụng đất rừng  
phòng hộ  
3.3. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng  
cao hiệu quả trong công tác quản lý, sử  
dụng đất và giải quyết lấn chiếm diện  
tích đất rừng phòng hộ trên địa bàn  
huyện Quảng Trạch trong thời gian tới  
- Triển khai giao khoán bảo vệ rừng  
cho các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng  
dân cư để họ quản lý, trồng và chăm sóc  
cây sẽ đạt hiệu quả rất cao.  
- Hạn chế thấp nhất việc chuyển  
mục đích sử dụng đất RPH thành các loại  
đất khác, đặc biệt là RPH đầu nguồn.  
3.3.1. Giải pháp về quản lý  
- Củng cố mở rộng làm giàu hệ  
thống RPH hiện có đồng thời cân nhắc các  
hoạt động chuyển đổi rừng phòng hộ sang  
các mục đích sử dụng khác.  
- Đối với những khu vực đất RPH bị  
đốt, chặt phá cây cần tiến hành trồng rừng  
ngay để tránh đất bị bạc màu, sạt lở.  
- Mỗi năm cần phải thống kê, kiểm  
kê chính xác đất RPH so với thực địa.  
1695  
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 4(1)-2020:1688-1696  
- RPH ven biển cần được sử dụng  
đúng mục đích là chắn sóng, lấn biển bằng  
cách trồng các cây ngập mặn.  
hành vi vi phạm nhờ vậy mà hạn chế được số  
vụ lấn chiếm.  
- Nhằm bảo vệ và phát triển rừng  
phòng hộ bền vững và đạt hiệu quả cao thì  
trong thời gian tới huyện Quảng Trạch cần  
có những biện pháp quản lý, sử dụng đất và  
giải quyết lấn chiếm đất rừng phòng hộ như:  
các cơ quan quản lý rừng phòng hộ cần phải  
liên kết chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau trong quản  
lý nhằm phát hiện và xử lý kịp thời; triển  
khai giao khoán bảo vệ rừng cho các hộ gia  
đình, cá nhân, cộng đồng dân cư để họ quản  
lý, trồng và chăm sóc cây sẽ đạt hiệu quả  
cao. Ngày càng hoàn thiện hệ thống pháp  
luật về xử lý các hành vi lấn chiếm đất rừng  
phòng hộ; khuyến khích người dân tham gia  
công tác giải quyết rừng phòng hộ thông qua  
việc báo cáo các hành vi lấn chiếm lên cơ  
quan quản lý bằng cách trao phần thưởng  
cho họ.  
3.3.3. Giải pháp về giải quyết lấn chiếm  
đất rừng phòng hộ  
- Nhanh chóng cấp giấy chứng nhận  
quyền sử dụng đất theo quy định tại điều  
22, Nghị định 43/2014/NĐ-CP.  
- Các cán bộ giải quyết lấn chiếm  
cần phải nắm rõ luật và xử lý mạnh tay  
hơn nữa đối với những trường hợp vi  
phạm.  
- Các trình tự xử phạt phải ngắn  
gọn, nhanh chóng tránh mất nhiều thời  
gian.  
- Khuyến khích người dân kiểm tra  
tình trạng tái lấn chiếm sau khi xử lý bằng  
cách trao phần thưởng cho họ khi họ báo  
kịp thời cho các cán bộ để xử lý.  
4. KẾT LUẬN  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Qua quá trình nghiên cứu, một số kết  
luận được rút ra như sau:  
Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa  
Việt Nam (11/11/2013). Nghị định  
157/2013/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm  
2013 về quy định xử phạt vi phạm hành  
chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo  
vệ rừng và quản lý lâm sản. Khai thác từ  
goc.aspx?ItemID=32584  
- Thực trạng lấn chiếm đất rừng  
phòng hộ trên địa bàn huyện Quảng Trạch có  
xu hướng giảm dần qua các năm. Tình trạng  
lấn chiếm đất rừng phòng hộ diễn ra đặc biệt  
nhiều từ năm 2013 trở về trước vì giai đoạn  
này ranh giới đất rừng phòng hộ chưa được  
xác định rõ ràng cho nên người dân lợi dụng  
để khai hoang đất rừng để trồng cây kinh tế.  
Giai đoạn 2014 đến nay nhờ vào việc chú  
trọng việc quản lý và bảo vệ rừng, đặc biệt là  
rừng phòng hộ của các cơ quan ban ngành  
trong huyện cũng như ý thức người dân được  
nâng cao nên tình trạng lấn chiếm đất rừng  
phòng hộ giảm rất nhiều. Bên cạnh đó công  
tác giải quyết lấn chiếm đất rừng phòng hộ  
trong những năm qua đã được thực thi theo  
quy định pháp luật, tăng cường công tác tuần  
tra, giám sát nên phát hiện và xử lý kịp thời  
Thạch Thảo và Ngọc Thăng. (07/12/2017).  
Rừng phòng hộ tại Việt Nam, thực trạng và  
thách thức, Tạp chí điện tử Bảo vệ rừng và  
Môi  
trường.  
Khai  
thác  
từ  
ho-tai-viet-nam-hien-trang-va-thach-  
thuc/24  
UBND huyện Quảng Trạch (2018), Báo cáo  
kết quả thống kê đất đai huyện Quảng  
Trạch năm 2018.  
1696  
Nguyễn Văn Bình và cs.  
pdf 9 trang yennguyen 10140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá thực trạng lấn chiếm đất rừng phòng hộ tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_thuc_trang_lan_chiem_dat_rung_phong_ho_tai_huyen_qu.pdf