Chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Kinh tế & Chính sách  
CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG Ở VIỆT NAM:  
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP  
Phạm Hồng Lượng  
Tổng cục Lâm nghiệp  
Bài báo trình bày tóm tắt kết quả tình hình thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam theo  
Nghị Định 99/2010/NĐ-CP. Sử dụng các nguồn tài liệu thứ cấp, bài báo đã tổng hợp được những kết quả nổi  
bật của việc thực thi chính sách từ năm 2011 đến 2016. Sau 6 năm triển khai, tổng nguồn thu DVMTR là  
6.510,6 tỷ đến từ ba đối tượng sử dụng dịch vụ là cơ sở thủy điện, cung cấp nước sạch và kinh doanh du lịch,  
trong đó phần lớn nguồn thu là từ các cơ sở thủy điện (97,04%). Chính sách chi trả DVMTR đã góp phần quản  
lý và bảo vệ hiệu quả 5.875 triệu ha rừng, góp phần xóa đói giảm nghèo và thúc đẩy xã hội hóa nghề rừng.  
Trong giai đoạn sắp tới, nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng sẽ tiếp tục tăng lên và cơ cấu nguồn thu sẽ đa  
dạng hơn, do mức thu được điều điều chỉnh tăng theo Nghị định147/2016/NĐ-CP và tham gia các thị trường  
mua bán tín chỉ carbon.  
Từ khóa: Chi trả, chính sách, dịch vụ môi trường rừng.  
thuỷ điện, nước sạch và du lịch) trong vai trò là  
bên sử dụng dịch vụ môi trường. Bài báo trình  
bày tóm tắt kết quả đánh giá thực trạng triển  
khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường  
rừng và dự kiến triển khai trong thời gian tới ở  
Việt Nam.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Sau khi thí điểm thành công chi trả dịch vụ  
môi trường rừng (DVMTR) tại 2 tỉnh Sơn La  
và Lâm Đồng trong giai đoạn từ năm 2008 đến  
2010, ngày 24/9/2010 Chính phủ đã chính thức  
ban hành Nghị định số 99/2010/NĐ-CP về  
chính sách chi trả DVMTR để triển khai áp  
dụng thống nhất trên phạm vi cả nước kể từ  
ngày 01/01/2011. Đây là một bước tiến mới,  
thể hiện sự thay đổi đột phá, có tính chiến lược  
không chỉ trong tư duy, nhận thức mà còn cả  
hành động trong suốt quá trình thiết kế, xây  
dựng, ban hành và thực thi chính sách kinh tế  
đối với ngành Lâm nghiệp ở Việt Nam; chuyển  
hướng tiếp cận hoàn toàn dựa vào nguồn ngân  
sách nhà nước theo truyền thống sang tăng  
cường huy động các nguồn vốn đầu tư ngoài  
ngân sách nhà nước, nguồn vốn xã hội cho  
phát triển ngành. Lần đầu tiên, một chính sách  
kinh tế mới trong Lâm nghiệp được thiết lập,  
vận hành ở tầm quy mô quốc gia, được các  
cấp, các ngành và người dân địa phương rất  
ủng hộ; có tác động lan toả, tạo ra hiệu ứng  
tích cực, phù hợp với quy luật của nền kinh tế  
thị trường, mang lại động lực, lợi ích chung  
cho cộng đồng; tạo ra mối quan hệ chặt chẽ  
giữa các chủ rừng trong vai trò là bên cung ứng  
dịch vụ với các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh  
doanh hưởng lợi từ môi trường rừng (cơ sở  
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Bài báo sử dụng các nguồn số liệu thứ cấp  
như sau:  
- Các báo cáo đánh giá và kết quả thực thi  
chính sách chi trả DVMTR của Quỹ Bảo vệ và  
Phát triển rừng Trung ương và địa phương;  
- Số liệu tài chính hàng năm về cơ cấu  
nguồn thu và chi của các bên liên quan về  
DVMTR;  
- Các văn bản và chính sách liên quan về  
DVMTR.  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
3.1. Tình hình thực hiện chính sách chi trả  
dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam  
3.1.1. Những kết quả chủ yếu trong thực hiện  
chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng  
Ngày 10/4/2008, Thủ tướng Chính Phủ ban  
hành quyết định 380/QĐ-TTg, về thí điểm  
chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại  
tỉnh Sơn La và Lâm Đồng. Thông qua Quyết  
định thí điểm này, một cơ chế tài chính giữa  
người cung ứng DVMTR và người sử dụng  
DVMTR ủy thác qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển  
198  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1-2018  
Kinh tế & Chính sách  
rừng được hình thành và được Chính phủ, các  
bên liên quan đánh giá cao về hiệu quả mang lại.  
Ngày 24/9/2010, Chính phủ đã ban hành  
Nghị định số 99/2010/NĐ-CP về chính sách  
chi trả DVMTR có hiệu lực từ ngày  
01/01/2011. Ba loại DVMTR đã thực hiện chi  
trả từ năm 2011 đến nay, gồm: (1) Dịch vụ bảo  
vệ đất, hạn chế xói mòn, bồi lắng lòng hồ, lòng  
sông, lòng suối; (2) Dịch vụ điều tiết và duy trì  
nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội;  
(3) Dịch vụ bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo  
tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng  
phục vụ cho dịch vụ du lịch, cụ thể: Các nhà  
máy thủy điện chi trả cho dịch vụ bảo vệ đất,  
hạn chế xói mòn, bồi lắng lòng hồ, lòng sông,  
lòng suối: 20 đồng/kwh điện thương phẩm;  
Các cơ sở cung ứng nước sạch chi trả cho dịch  
vụ điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất  
và đời sống xã hội: 40 đồng/m3 nước thương  
phẩm; Các cơ sở kinh doanh du lịch có sử  
dụng môi trường rừng chi trả cho dịch vụ bảo  
vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh  
học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch  
vụ du lịch: 1% - 2% tổng doanh thu trong kỳ.  
Từ năm 2011 đến nay, Quỹ Bảo vệ và Phát  
triển rừng các cấp với vai trò là tổ chức nhận  
uỷ thác, kết nối giữa các bên cung ứng và sử  
dụng dịch vụ đã đàm phán, ký được 474 hợp  
đồng uỷ thác chi trả DVMTR.  
Tổng thu tiền DVMTR toàn quốc đến  
30/12/2016 là 6.510,6 tỷđồng; cơ cấu thu như sau:  
- Theo cấp quản lý: Quỹ Trung ương thu  
4.768,5 tỷ đồng (chiếm 73,2%), Quỹ tỉnh thu  
1.742,2 tỷ đồng (chiếm 26,8%).  
- Theo loại dịch vụ: Thu từ cơ sở sản xuất  
thủy điện là 6.318,4 tỷ đồng (chiếm 97,04%),  
thu từ cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch là  
178,4 tỷ đồng (chiếm 2,73%), thu từ dịch vụ  
du lịch là 13,868 tỷ đồng (chiếm 0,23%).  
- Theo thời gian: Năm 2011 thu 282,928 tỷ  
đồng, năm 2012 thu 1.183,915 tỷ đồng, năm  
2013 thu 1.096,389 tỷ đồng, năm 2014 thu  
1.335,013 tỷ đồng, năm 2015 thu 1.327,779 tỷ  
đồng, năm 2016 thu 1.284,66 tỷ đồng, năm  
2017 dự kiến khoảng 1.700 tỷ đồng.  
ĐVT: Tỷ đồng  
Hình 01. Nguồn thu dịch vụ môi trường rừng qua các năm  
Việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR  
trong thời gian qua đã góp phần:  
phạm và diện tích rừng bị thiệt hại trong toàn  
quốc. Cải thiện thu nhập cho trên 500 ngàn hộ  
dân sống trong và gần rừng, phần lớn họ là  
đồng bào dân tộc thiểu số nghèo tham gia nhận  
khoán bảo vệ rừng; mức chi trả bình quân  
Nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ cho hơn  
5,875 triệu ha rừng, chiếm 44% tổng diện tích  
rừng toàn quốc, góp phần làm giảm số vụ vi  
199  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1-2018  
Kinh tế & Chính sách  
chung cả nước khoảng trên  
2
triệu  
cấp đầy đủ, kịp thời và công khai các thông tin  
cho các bên quan tâm tới chính sách.  
đồng/hộ/năm, góp phần tạo sinh kế ổn định và  
nâng cao đời sống. Thúc đẩy xã hội hóa nghề  
rừng, giải quyết một phần khó khăn về kinh  
phí hoạt động quản lý, bảo vệ rừng cho các chủ  
rừng trong bối cảnh phải dừng khai thác chính  
gỗ từ rừng tự nhiên và bổ sung kinh phí đáng  
kể cho các Ban quản lý rừng, chủ rừng tổ chức  
và các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn, trong đó:  
208 Ban quản lý rừng đặc dụng và phòng hộ;  
81 Công ty Lâm nghiệp; 467 UBND cấp xã;  
195 chủ rừng khác là các đơn vị công an, bộ  
đội, doanh nghiệp và trung tâm nghiên cứu;  
115.138 chủ rừng là cá nhân, hộ gia đình, cộng  
đồng. Ngoài ra, việc thực hiện chính sách đã  
tạo ra nguồn tài chính bền vững, giảm áp lực  
chi ngân sách nhà nước; trong giai đoạn 5 năm,  
từ 2011 đến 2015, tiền DVMTR đóng góp  
khoảng trên 20% tổng mức đầu tư cho ngành  
Lâm nghiệp.  
3.2. Bối cảnh thực thi chính sách chi trả  
dịch vụ môi trường rừng trong thời gian tới  
3.2.1. Những thay đổi trong hệ thống chính  
sách có liên quan  
Nhận thức rõ được một số bất cập, tồn tại  
nêu trên, trong thời gian qua, Bộ Nông nghiệp  
và Phát triển nông thôn đã tham mưu cho  
Chính phủ ban hành Nghị định số  
147/2016/NĐ-CP ngày 02/11/2016 về sửa đổi  
bổ sung một số điều của Nghị định số  
99/2010/NĐ-CP, ngày 24/9/2010 về chính sách  
chi trả DVMTR. Theo đó, lần điều chỉnh giá  
điện bán lẻ bình quân đầu tiên tính từ thời điểm  
01/01/2017 cho phép đơn giá tiền DVMTR đối  
với các nhà máy thủy điện sẽ được tăng từ 20  
đ/kwh lên 36 đ/kwh điện thương phẩm; đối với  
các nhà máy cung ứng nước sạch, đơn giá sẽ  
tăng từ 40 đồng/m3 lên 52 đồng/m3 nước sạch.  
Ngày 15/11/2017 vừa qua, Quốc Hội đã  
thông qua Luật Lâm nghiệp với tổng số 12  
chương, 108 điều, trong đó dành hẳn một mục  
trong Chương VI, từ Điều 61 đến Điều 65 quy  
định về dịch vụ môi trường rừng. Việc thể chế  
hoá các quy định này trong Luật Lâm nghiệp  
đã thiết lập khuôn khổ pháp lý vững chắc, tạo  
điều kiện cho các văn bản hướng dẫn thi hành  
Luật sớm được ban hành đi vào thực tiễn. Theo  
quy định của Luật, ngoài các đối tượng đã  
được cụ thể hoá trong Nghị định số  
99/2010/NĐ-CP trước đây, Điều 63 của Luật  
quy định cụ thể: Tổ chức, cá nhân có hoạt động  
sản xuất kinh doanh gây phát thải khí nhà kính  
lớn phải trả tiền dịch vụ về hấp thụ và lưu giữ  
các bon của rừng và các đối tượng khác theo  
quy định của pháp luật. Cũng tại Điều 63 của  
Luật, Quốc hội giao Chính phủ quy định chi  
tiết về đối tượng, hình thức chi trả, mức chi trả  
DVMTR và điều chỉnh, miễn giảm mức chi trả  
DVMTR; quản lý sử dụng tiền DVMTR.  
3.1.2. Những tồn tại hạn chế trong thực hiện  
chính sách chi trả dich vụ môi trường rừng  
Những kết quả trên rất ấn tượng, tuy nhiên  
trong quá trình triển khai thực hiện chính sách  
cũng còn không ít những tồn tại và hạn chế, cụ  
thể như:  
- Nguồn thu và đối tượng thu còn hạn chế,  
mức thu còn thấp so với tiềm năng; một số quy  
định đối với cơ sở du lịch, công nghiệp, thủy  
sản và cơ sở sử dụng dịch vụ hấp thụ các bon  
chưa được hướng dẫn cụ thể.  
- Nguồn thu toàn quốc lớn, nhưng mức chi  
cho từng chủ rừng còn chưa cao; người làm  
nghề rừng chưa sống được bằng nghề rừng,  
chưa thực sự yên tâm để bảo vệ, phát triển rừng.  
- Ý thức chấp hành chính sách chi trả  
DVMTR ở một số đơn vị sử dụng dịch vụ còn  
chưa nghiêm túc; vẫn còn một số đơn vị trì  
hoãn, chậm thực hiện nghĩa vụ chi trả theo cam  
kết trong hợp đồng.  
- Hệ thống quy định, hướng dẫn về tiêu chí,  
chế độ báo cáo giám sát, đánh giá còn chưa cụ  
thể, thống nhất; do vậy, chưa đảm bảo cung  
Như vậy, với việc sửa đổi, nâng mức chi trả  
đối với cơ sở thủy điện, nước sạch theo quy  
200  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1-2018  
Kinh tế & Chính sách  
định tại Nghị định số 147/2016/NĐ-CP của  
Chính phủ và việc bổ sung, cụ thể hóa một số  
đối tượng sử dụng dịch vụ trong Luật Lâm  
nghiệp mới được Quốc hội Khoá XIV, Kỳ họp  
thứ tư thông qua, trong thời gian tới nguồn thu  
từ DVMTR sẽ tăng lên khoảng 2.000 - 2.500 tỷ  
đồng/năm, qua đó tiếp tục khẳng định, nâng  
cao vai trò, giá trị của rừng; góp phần bảo vệ,  
phát triển rừng bền vững; đóng góp vào công  
cuộc xóa đói, giảm nghèo, nâng cao thu nhập,  
cải thiện đời sống của đồng bào sống trong và  
gần rừng gắn liền với phát triển nông thôn mới  
ở các khu vực miền núi.  
hoàn thiện các điều kiện sẵn sàng thực thi  
REDD+ theo quy định, hướng dẫn của Uỷ ban  
liên chính phủ Công ước khung của Liên hợp  
quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC).  
3.3. Giải pháp hoàn thiện công tác thực thi  
chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng  
ở Việt Nam  
- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến nội dung  
Nghị định 147/2016/NĐ-CP, ngày 02/11/2016  
của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều  
của Nghị định số 99/2010/NĐ-CP, ngày  
24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả  
dịch vụ môi trường rừng cho các bên cung  
ứng, bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng và  
đối tượng liên quan.  
3.2.2. Tiềm năng hợp tác quốc tế về lĩnh vực  
dịch vụ môi trường rừng  
Song song với việc thực thi các cơ chế,  
chính sách trong nước, hiện nay ngành Lâm  
nghiệp Việt Nam đã và đang tích cực, chủ  
động hưởng ứng các sáng kiến quốc tế, kết nối,  
gia nhập thị trường mua bán tín chỉ các bon  
thông qua các chương trình, dự án “Giảm phát  
thải khí nhà kính thông qua hạn chế mất và suy  
thoái rừng; bảo tồn, nâng cao trữ lượng các  
bon và quản lý bền vững tài nguyên rừng” (gọi  
tắt là REDD+). Dự kiến cuối năm 2017, Việt  
Nam sẽ trình Quỹ đối tác các bon trong Lâm  
nghiệp (FCPF/WB) văn kiện Dự án giảm phát  
thải thông qua nỗ lực giảm mất rừng và suy  
thoái rừng vùng Bắc Trung Bộ, tại 6 tỉnh gồm:  
Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,  
Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Theo tính toán,  
việc thực hiện dự án này sẽ góp phần giảm hơn  
24 triệu tấn các bon; trong đó phía FCPF/WB  
dự kiến cam kết mua 10,3 triệu tấn với tổng  
kinh phí khoảng 51,5 triệu USD.  
- Tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành  
đảm bảo thu đúng, thu đủ các loại dịch vụ đã  
quy định đối tượng thu, mức thu; kịp thời xử  
lý, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát  
sinh ở địa phương.  
- Đôn đốc các đơn vị thực hiện nghiêm túc  
việc thu nộp tiền DVMTR và các khoản đóng  
góp bắt buộc theo quy định.  
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát  
thực hiện chính sách chi trả DVMTR; giải  
ngân tiền DVMTR kịp thời, đầy đủ.  
IV. KẾT LUẬN  
Chi trả DVMTR là một chính sách đột phá  
của ngành Lâm nghiệp trong việc huy động các  
nguồn vốn đầu từ ngoài ngân sách nhà nước,  
nguồn vốn xã hội cho bảo vệ và phát triển rừng.  
Chính sách chi trả DVMTR được triển khai trên  
cả nước từ năm 2011, đã thu được nhiều thành  
quả to lớn, góp phần quản lý, bảo vệ hơn 5,875  
triệu ha rừng, thúc đẩy xã hội hóa nghề rừng,  
giảm áp lực chi ngân sách nhà nước. Tổng nguồn  
thu DVMTR đến hết năm 2016 là 6.510,6 tỷ từ 3  
nhóm đối tượng sử dụng dịch vụ. Trong đó, phần  
lớn nguồn thu là từ các cơ sở sản xuất thủy điện  
(97,04%), nguồn thu từ cơ sở sản xuất nước sạch  
chiếm 2,73%, nguồn thu từ du lịch chiếm 0,23%.  
Trong giai đoạn sắp tới, chính sách chi trả  
DVMTR sẽ tiếp tục phát huy hiệu quả hơn  
Ngoài ra, một kênh huy động tiềm năng, rất  
cạnh tranh, Việt Nam có thể tranh thủ tham gia  
vào Chương trình thí điểm chi trả dựa trên kết  
quả của Quỹ Khí hậu xanh (GCF) với giá mua  
5 USD/tấn CO2 và tổng kinh phí cam kết dành  
cho các dự án thí điểm khoảng 500 triệu USD.  
Để làm được điều này, trong giai đoạn từ nay  
đến năm 2020, Việt Nam cần khẩn trương  
201  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1-2018  
Kinh tế & Chính sách  
nữa, mức thu DVMTR được điều chỉnh tăng  
lên theo Nghị định 147/2016/NĐ-CP, Luật  
Lâm nghiệp ban hành bổ sung các điều khoản  
quy định về dịch vụ môi trường rừng. Nguồn  
thu từ DVMTR sẽ tiếp tục tăng lên, góp phần  
nâng cao vai trò và giá trị của rừng, xóa đói  
giảm nghèo và quản lý hiệu quả tài nguyên  
rừng. Ngoài ra, với việc tích cực tham gia thị  
trường mua bán tín chỉ các bon, sẽ mở ra tiềm  
năng rất lớn cho Việt Nam trong việc nâng cao  
nguồn thu từ DVMTR.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2017).  
Báo cáo trình bày tại Hội nghị phát triển dịch vụ môi  
trường rừng bền vững, tháng 3/2017.  
2. Quốc hội Khóa XIV, Kỳ họp thứ tư (2017). Hồ  
sơ Dự án Luật Lâm nghiệp, tháng 11/2017.  
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2017).  
Văn kiện Dự án giảm phát thải thông qua nỗ lực giảm  
mất rừng và suy thoái rừng vùng Bắc Trung Bộ. Tài liệu  
trình bày tại Hội thảo tháng 11/2017, Đà Nẵng.  
4. Quỹ Khí hậu xanh (GCF) (2017). Quyết định  
GCF/B.18/23 ngày 22/10/2017 của Hội đồng quản lý  
Quỹ tại phiên họp thứ 18 họp từ ngày 30/9 đến ngày  
02/10/2017, trang 8.  
PAYMENTS FOR FOREST ENVIRONMENTAL SERVICES  
IN VIETNAM: SITUATION AND SOLUTION  
Pham Hong Luong  
Vietnam Administration of Forestry  
This paper presents a summary of the results of implementation of Payment for Forest Environmental Services  
(PFES) policy in Vietnam under Decree 99/2010/ ND-CP. Using secondary data sources, the article  
summarizes the results of implementing PFES policy from 2011 to 2016. After 6 years of implementation, total  
FES revenue is 6,510.6 billion VND coming from three service users: hydropower plants, clean water supply  
and tourism business. Of which, most of the revenues come from hydropower plants (97.04%). PFES policy  
has contributed to effective management and protection of 5.875 million ha of forests, contributing to poverty  
reduction and promoting the socialization of forestry. In the coming period, revenues from forest environmental  
services will continue to increase and more diversify, as the fee of payment for forest environmental services is  
adjusted in accordance with Decree 147/2016/NĐ-CP and participation in carbon creditstrading markets.  
Keywords: Forest environmental services, payments, policy.  
Ngày nhận bài  
: 27/11/2017  
: 25/12/2017  
: 02/01/2018  
Ngày phản biện  
Ngày quyết định đăng  
202  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1-2018  
pdf 5 trang yennguyen 16380 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchi_tra_dich_vu_moi_truong_rung_o_viet_nam_thuc_trang_va_gia.pdf