Tóm tắt Luận án Các mô hình phân tích sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH  
Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o  
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN  
Tr-êng ®¹i häc kinh tÕ quèc d©n  
------------  
Người hướng dẫn khoa học:  
GS.TS. NGUYÔN kh¾c minh  
NguyÔn thÞ cÈm v©n  
Phản biện 1:  
TS. NguyÔn thÞ tuÖ anh  
viÖn nghiªn cøu qu¶n lý kinh tÕ trung -¬ng  
C¸c m« h×nh ph©n tÝch sù chuyÓn dÞch c¬ cÊu  
kinh tÕ trong qu¸ tr×nh c«ng nghiÖp ho¸,  
hiÖn ®¹i ho¸ ®Êt n-íc  
Phản biện 2:  
Phản biện 3:  
pgs.ts. t« trung thµnh  
®¹i häc kinh tÕ quèc d©n  
Chuyªn ngµnh: to¸n kinh tÕ  
M· sè: 62310101  
pgs.ts. bïi quang tuÊn  
viÖn nghiªn cøu ph¸t triÓn bÒn v÷ng vïng  
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp trường,  
họp tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân,  
Vào hồi 16h00 giờ, ngày 07 tháng 02 năm 2015  
Có thể tìm hiểu luận án tại  
-
-
Thư viện Quốc gia  
Thư viện Trường Đại học Kinh tế Quốc dân  
Hµ néi, n¨m 2015  
1
2
MỞ ĐẦU  
3.  
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
Nghiên cứu tập trung phân tích và đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu  
ngành kinh tế trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai  
đoạn 1989 - 2014 bằng các mô hình định lượng.  
1.  
Lý do lựa chọn đề tài  
Việt Nam đã thực sự chuyển đổi kể từ khi bắt đầu thực hiện công  
cuộc Đổi mới. Tăng trưởng kinh tế với tốc độ khá cao và liên tục đã giúp  
Việt Nam thoát khỏi tình trạng kém phát triển, thu nhập thấp, trở thành  
quốc gia đang phát triển có mức thu nhập trung bình và tạo ra những tiền  
đề quan trọng để đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH. Những năm gần đây,  
khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động tiêu cực  
trên nhiều mặt đến nền kinh tế nước ta: tốc độ tăng trưởng kinh tế đã suy  
giảm; chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là cơ cấu ngành theo hướng  
CNH, HĐH đã chững lại, các điểm yếu của nền kinh tế càng bộc lộ rõ như:  
năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp, chậm cải thiện...  
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đã được đề cập đến khá nhiều  
trong các tài liệu nghiên cứu về chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt  
Nam, tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu ngành mới chỉ được xem xét qua  
những phân tích thống kê ban đầu về những thay đổi của tỷ trọng các  
ngành trong cơ cấu GDP hay cơ cấu lao động. Cho đến nay, số lượng các  
công trình có nội dung nghiên cứu sâu về chủ đề này còn rất hạn chế.  
Đáng chú ý có một số nghiên cứu: của Nguyễn Khắc Minh (2009) về  
nguồn tăng trưởng và thay đổi cơ cấu kinh tế ở Việt Nam; và của Nguyễn  
Thị Minh (2009, 2010) về hiệu quả phân bổ giữa các ngành và về mối  
quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam…  
Các nghiên cứu đã có ở Việt Nam về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đã  
cố gắng phân tích theo các cách tiếp cận khác nhau và thực hiện trong  
những khoảng thời gian khác nhau nhưng tác giả vẫn chưa tìm thấy một  
nghiên cứu tổng hợp, sử dụng các phương pháp tiếp cận khác nhau để đo  
lường thận trọng và đánh giá một cách đầy đủ, chính xác diễn biến của  
quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam kể từ sau đổi mới.  
Vì vậy, nghiên cứu: “Các mô hình phân tích sự chuyển dịch cơ cấu  
kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” là rất  
cần thiết hiện nay.  
4.  
Phương pháp nghiên cứu  
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:  
- Phương pháp tổng hợp và so sánh, phân tích thống kê.  
- Phương pháp nghiên cứu định lượng: Luận án sử dụng ba mô hình:  
mô hình vào - ra (tiếp cận vào – ra) để phân tích sự chuyển cơ cấu ngành  
diễn ra như thế nào từ phía cầu và phía cung; mô hình cơ bản (tiếp cận lý  
thuyết tăng trưởng mới) để đánh giá vai trò của chuyển dịch cơ cấu lao động  
giữa các ngành đối với tăng trưởng năng suất lao động của nền kinh tế; các  
mô hình kinh tế lượng để phân tích mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu  
ngành kinh tế và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.  
5.  
Những đóng góp mới của luận án  
5.1. Những đóng góp mới về học thuật, lý luận  
Khác với các nghiên cứu trước về chuyển dịch cơ cấu và tăng  
trưởng kinh tế, nghiên cứu này sử dụng ba cách tiếp cận khác nhau để phân  
tích sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 1989 –  
2014 và đã chỉ ra rằng:  
1. Sự thay đổi cơ cấu nền kinh tế Việt Nam được thúc đẩy bởi sự  
dịch chuyển trong nhu cầu cuối cùng - chủ yếu là tiêu dùng, thương mại, và  
những thay đổi trong mối quan hệ giữa các ngành.  
2. Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành cho thấy có sự thay đổi đáng  
kể trong vai trò của các ngành sơ cấp và các ngành công nghiệp chế biến  
chế tạo đối với tăng trưởng tổng giá trị sản xuất của nền kinh tế. Sự chuyển  
dịch diễn ra theo hướng giảm tỷ trọng đóng góp của các ngành sơ cấp, tăng  
tỷ trọng của các ngành chế biến chế tạo vào tăng trưởng đầu ra của nền  
kinh tế. Ngành công nghiệp chế biến chế tạo không chỉ đóng vai trò then  
chốt trong tăng trưởng giá trị sản xuất của nền kinh tế qua các thời kỳ  
mà cơ cấu ngành còn chuyển dịch tích cực từ các ngành thâm dụng tài  
nguyên và lao động đến các ngành thâm dụng vốn và công nghệ.  
3. Các nhân tố đặc trưng riêng của từng ngành và sự khác nhau về  
định hướng thương mại của các ngành tạo nên tính đa dạng trong tăng  
trưởng và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam.  
2.  
Mục tiêu nghiên cứu  
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là sử dụng các mô hình định lượng  
để phân tích sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam trong quá  
trình CNH, HĐH đất nước.  
3
4
4. Chuyển dịch cơ cấu ngành có đóng góp quan trọng vào tăng  
trưởng năng suất lao động của Việt Nam thời kỳ 1995 – 2014, và tầm quan  
trọng của chuyển dịch cơ cấu ngành thay đổi mạnh mẽ qua các thời kỳ  
nghiên cứu, trong đó ảnh hưởng mạnh nhất ở thời kỳ 2000 - 2010.  
5. Chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng CNH, HĐH có quan hệ chặt chẽ  
và có tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam thời kỳ 1998 - 2011.  
5.2. Những kết luận, đề xuất mới rút ra từ các kết quả nghiên cứu  
Từ các kết quả nghiên cứu, luận án rút ra một số kết luận sau:  
Chương 1:  
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU  
1.1. Khái niệm cơ cấu ngành kinh tế  
Cơ cấu ngành kinh tế là tổng hợp các ngành kinh tế và mối quan hệ  
tỷ lệ giữa các ngành thể hiện ở vị trí và tỷ trọng của mỗi ngành trong tổng  
thể nền kinh tế.  
1.2. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế  
1. Cơ cấu ngành của khu vực sơ cấp chuyển dịch từ nông nghiệp  
sang khai khoáng rồi đến thủy sản. So với các nền kinh tế khác, Việt Nam  
là một trong số rất ít các quốc gia mà khu vực sơ cấp đi theo định hướng  
xuất khẩu. Đặc điểm này chứng tỏ CNH ở Việt Nam vẫn ở giai đoạn thấp.  
2. Mặc dù đã có tín hiệu chuyển dịch tích cực trong cơ cấu ngành của  
khu vực chế biến chế tạo nhưng sự chuyển dịch này diễn ra chậm. Các  
ngành thâm dụng tài nguyên và lao động vẫn chiếm ưu thế hơn so với các  
ngành thâm dụng vốn và công nghệ.  
3. Quá trình chuyển dịch chậm chạp đã tạo ra một cơ cấu ngành có  
hiệu quả và năng lực cạnh tranh thấp. Xu hướng giảm giá trị gia tăng, tăng  
chi phí trung gian ở cả ba nhóm ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch  
vụ là một đặc điểm quan trọng của quá trình CNH ở Việt Nam.  
4. Các kết quả đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng tỷ trọng  
vốn, đặc biệt là tỷ trọng lao động công nghiệp đối với tăng trưởng của các  
ngành phi nông nghiệp và của nền kinh tế. Đây là kết quả chưa được trả lời rõ  
ràng trong các nghiên cứu trước.  
5. Các phát hiện của luận án sẽ giúp các nhà quản lý và hoạch định chính  
sách nhận diện được những đặc trưng trong chuyển dịch cơ cấu ngành và tăng  
trưởng kinh tế ở Việt Nam, và giúp gợi ý một số khuyến nghị về cơ cấu ngành  
hợp lý để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh và CNH thành công.  
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là quá trình thay đổi của cơ cấu  
ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn,  
phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển.  
1.3. Chuyển dịch cơ cấu ngành trong quá trình công nghiệp hóa, hiện  
đại hóa  
Xu hướng có tính quy luật chung ở các nước đang phát triển là cơ  
cấu ngành kinh tế chuyển dịch từ sản xuất sơ cấp tới các hoạt động chế biến  
chế tạo; và sự dịch chuyển trong khu vực chế biến chế tạo từ các hoạt động  
dựa trên các nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên đến các hoạt động tinh vi  
hơn, rồi tới các hoạt động thâm dụng kỹ năng và công nghệ cao. Trong quá  
trình CNH, các hoạt động chế biến chế tạo thâm dụng lao động tăng trưởng  
nhanh hơn hoạt động sơ cấp. Tích lũy vốn dẫn đến cơ cấu của khu vực chế  
biến chế tạo dịch chuyển đến các lĩnh vực thâm dụng kỹ năng và công nghệ  
cao. Một xu hướng khác đã được quan sát thấy từ những năm 1970: dịch vụ  
đã trở thành hoạt động kinh tế chiếm ưu thế, trong khi vai trò của nông  
nghiệp và công nghiệp chế biến chế tạo đã giảm xuống. Và như vậy, con  
đường lịch sử mạnh mẽ của chuyển dịch cơ cấu là tất cả các nước dịch  
chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp và sau đó đến dịch vụ.  
Các tài liệu đã trình bày một số lập luận để ủng hộ ý tưởng rằng:  
trong quá trình CNH, HĐH, sự mở rộng của công nghiệp chế biến chế tạo  
là động cơ chính của tăng trưởng kinh tế. Bởi vì so với các ngành khác,  
công nghiệp chế biến chế tạo cung cấp nhiều cơ hội hơn để tích lũy vốn,  
khai thác tính kinh tế theo quy mô, tiếp thu công nghệ mới, có khả năng  
tạo ra năng suất cao hơn so với các ngành khác thông qua việc mở rộng  
sản xuất. Sự năng động của khu vực chế biến chế tạo cũng có ảnh hưởng  
quan trọng đến các khu vực còn lại của nền kinh tế thông qua các mối liên  
kết sản xuất.  
6.  
Cấu trúc của luận án  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, cam kết của tác giả, phụ lục và tài liệu  
tham khảo, luận án gồm ba chương:  
Chương 1. Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu.  
Chương 2. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam giai  
đoạn 1989 - 2014.  
Chương 3. Cơ sở phương pháp luận các mô hình phân tích chuyển dịch cơ  
cấu ngành kinh tế và ước lượng thực nghiệm cho nền kinh tế Việt Nam giai  
đoạn 1989 - 2014.  
5
6
Thứ hai, tiếp cận lý thuyết tăng trưởng mới, các nghiên cứu điển hình  
của Ghani và Suri , Jan Fagerberg (2000), Peneder 2003, Bartelman,  
Haltiwanger và Scarpetta 4, Yilimaz Kilicaslan (2005, Brown và Earle  
, Brosworth 8, Saccone và Valli , Dani Rodrik 2012… đều  
thống nhất rằng đối với một nền kinh tế, tăng trưởng NSLĐ có thể đạt được  
thông qua cải tiến công nghệ và/hoặc di chuyển các nguồn lực từ khu vực năng  
suất thấp sang các khu vực có mức năng suất cao hơn. Hơn nữa, các nghiên  
cứu đều chỉ ra rằng sự dịch chuyển lao động từ các hoạt động năng suất thấp  
sang các hoạt động năng suất cao là nguồn tăng trưởng quan trọng đối với các  
nước đang phát triển hơn là ở các nước phát triển, đặc biệt là ở các nước Châu  
Á. Sự chuyển dịch diễn ra theo hướng ngược lại ở Châu Phi và Châu Mỹ Latin,  
do đó, thay đổi cơ cấu làm giảm tăng trưởng ở các khu vực này.  
Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu ngành và tăng trưởng NSLĐ là chủ  
đề mới được nghiên cứu ở Việt Nam. Đáng chú ý có nghiên cứu của Nguyễn Thị  
Tuệ Anh (2007) về tăng trưởng và thay đổi cơ cấu ở Việt Nam giai đoạn trước  
khủng hoảng 1991 - 2006 bằng phương pháp SSA (Shift - Share Analysis). Sau  
đó, Trần Văn Ẩn (2011) cũng sử dụng phương pháp này để phân tích vai trò  
của chuyển dịch cơ cấu đối với tăng trưởng NSLĐ tỉnh Quảng Nam giai đoạn  
1998 - 2010. Vậy chuyển dịch cơ cấu ngành có tầm quan trọng như thế nào đối  
với tăng trưởng NSLĐ ở Việt Nam (cả trước và sau khủng hoảng kinh tế) là  
một câu hỏi chưa được trả lời đầy đủ trong các nghiên cứu trước.  
Thứ ba, tiếp cận kinh tế lượng, các nghiên cứu điển hình của:  
Nguyễn Thị Minh (2009) chứng tỏ rằng chuyển dịch cơ cấu là rất cần thiết  
nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam thời kỳ 2000 - 2007; Đinh  
Phi Hổ và Nguyễn Khánh Duy (2013) cho thấy chuyển dịch cơ cấu ngành  
theo hướng CNH, HĐH có tác động thúc đẩy tăng trưởng NSLĐ và trình  
độ phát triển ở Bến Tre thời kỳ 1998 - 2011.  
Tóm lại, các nghiên cứu đã có ở Việt Nam về chủ đề này đã cố gắng  
phân tích theo các cách tiếp cận khác nhau và trong những khoảng thời gian  
khác nhau, nhưng tác giả vẫn chưa tìm thấy một nghiên cứu tổng hợp, sử dụng  
các phương pháp tiếp cận khác nhau để đánh giá một cách đầy đủ và chính xác  
về quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế kể từ sau Đổi mới. Nghiên cứu  
này hy vọng có thể bổ sung cho các nghiên cứu trước bằng cách sử dụng ba  
mô hình định lượng để thực hiện mục tiêu nghiên cứu đặt ra.  
1.4. Các lý thuyết về sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế  
Hầu hết các lý thuyết kinh điển của kinh tế phát triển như: lý thuyết  
“cất cánh” của Walt Rostow (1960), các lý thuyết nhị nguyên (1954), lý  
thuyết tăng trưởng cân đối (1953), lý thuyết tăng trưởng bất cân đối (1958),  
mô hình đàn ngỗng bay (1960s), lý thuyết chuyển dịch cơ cấu của Moshe  
Syrquin (1988), và lý thuyết kinh tế cơ cấu mới của Lin (2010) đều coi  
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là một trong những nội dung quan trọng  
của sự phát triển trong thời kỳ CNH. Các lý thuyết đều thống nhất rằng sự  
dịch chuyển các nguồn lực ra khỏi khu vực nông nghiệp truyền thống và các  
hoạt động sơ cấp khác có năng suất thấp đã duy trì việc tăng năng suất, đó là  
đặc trưng của phát triển kinh tế. Và trong quá trình CNH, sự lớn mạnh của  
khu vực chế biến chế tạo là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Các  
lý thuyết này cũng chỉ ra rằng hình thức chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các  
nước chậm phát triển trong thời kỳ CNH, HĐH diễn ra rất phong phú, đa  
dạng, khó tìm thấy một khuôn mẫu chung duy nhất cho mọi quốc gia. Đồng  
thời, các lý thuyết này nêu ra một giải pháp mang tính nguyên tắc là phải xây  
dựng một cơ cấu kinh tế có sự liên kết, thúc đẩy lẫn nhau trong quá trình  
CNH, và vai trò của chính phủ không thể được xem nhẹ trong quá trình này.  
1.5. Tổng quan nghiên cứu về sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế  
Luận án này trình bày tổng quan nghiên cứu theo ba phương pháp  
tiếp cận phân tích:  
Thứ nhất, đã có rất nhiều các nghiên cứu về nguồn tăng trưởng sản  
lượng và thay đổi cơ cấu dựa trên mô hình vào - ra. Một số nghiên cứu điển  
hình của: H.Chenery (1986); De Melo (1982), Takahiro Akita và Agus  
Hermawan (2000), Mitsuhiro Hayashi (2005) … đã áp dụng tiếp cận vào -  
ra để xác định nguồn tăng trưởng và thay đổi cơ cấu ở một quốc gia trong  
các thời kỳ khác nhau và so sánh giữa các quốc gia khác nhau trên cơ sở so  
sánh sự khác nhau trong đóng góp tương đối của các thành phần của cầu  
vào tăng trưởng tổng giá trị sản xuất.  
Ở Việt Nam, tiếp cận vào - ra cũng được sử dụng trong một số ít các  
nghiên cứu của: Takahiro Akita và Chu Thị Trung Hậu (2006) về “Mức độ  
phụ thuộc lẫn nhau giữa các khu vực kinh tế và tăng trưởng kinh tế ở Việt  
Nam: Phân tích so sánh với Indonesia và Malaysia” dựa trên các bảng vào -  
ra của Việt Nam năm 1996 và 2000; Nguyễn Khắc Minh và Nguyễn Việt  
Hùng (2008) về “Nguồn tăng trưởng công nghiệp ở Việt Nam: phân tích vào  
- ra” đã sử dụng các bảng vào - ra của Việt Nam các năm 1989, 1996, 2000 .  
7
8
vụ vào GDP không tương xứng. Khu vực nông nghiệp đóng góp khoảng  
20% GDP nhưng trong những năm gần đây vốn nông nghiệp chỉ chiếm 6 -  
8% lượng vốn của nền kinh tế.  
Chương 2:  
THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ  
Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1989 – 2014  
Cơ cấu lao động theo ngành có những thay đổi quan trọng theo hướng  
tiến bộ. Tuy nhiên, sự chuyển dịch này không chỉ chậm mà còn có dấu hiệu  
chững lại kể từ năm 2010, và nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chủ đạo  
cung cấp việc làm cho phần lớn lực lượng lao động có việc làm của nền  
kinh tế (từ năm 2010 trở lại đây, lao động nông nghiệp vẫn chiếm 46,9%).  
2.3. Cơ cấu giá trị gia tăng và giá trị sản xuất, xuất khẩu và nhập khẩu  
theo ngành của nền kinh tế  
Cơ cấu giá trị gia tăng và cơ cấu xuất khẩu theo ngành của nền kinh tế đã  
có những tín hiệu chuyển dịch tích cực. Tỷ trọng đóng góp vào tổng giá trị gia  
tăng, và tổng giá trị xuất khẩu của nhóm ngành nông nghiệp có xu hướng giảm  
mạnh; của nhóm ngành công nghiệp có xu hướng tăng dần. Ngành công nghiệp,  
đặc biệt là công nghiệp chế biến chế tạo, có đóng góp chủ yếu cho xuất khẩu của  
Việt Nam. Tuy nhiên, tình trạng gia tăng chi phí trung gian trong quá trình sản  
xuất của các ngành là điểm đáng lưu ý đối với quá trình CNH ở Việt Nam.  
Cơ cấu nhập khẩu của nền kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng cường  
nhập khẩu tư liệu sản xuất phục vụ cho các hoạt động sản xuất trong nước và  
gia công xuất khẩu. Phần lớn nhập khẩu của nền kinh tế phục vụ cho sản xuất  
công nghiệp, đặc biệt là sản xuất của khu vực công nghiệp chế biến chế tạo.  
2.4. Năng suất lao động của các ngành và nền kinh tế  
Chương 2 của luận án trình bày một số phân tích ban đầu về thực  
trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 1989 – 2014  
2.1. Một số chính sách liên quan đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh  
tế ở Việt Nam  
Các chính sách có tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu nền kinh  
tế bao gồm: chính sách công nghiệp, chính sách thuế, chính sách tín dụng  
và chính sách cán cân thanh toán quốc tế… Cùng với các chính sách cạnh  
tranh, khuyến khích chuyển giao khoa học và công nghệ, đầu tư và xúc tiến  
xuất khẩu, phát triển nguồn nhân lực và các hình thức hỗ trợ doanh nghiệp  
vừa và nhỏ…, hệ thống các chính sách đã và đang từng bước đáp ứng được  
yêu cầu của CNH, HĐH đất nước trong quá trình hội nhập với thế giới.  
Quyết tâm CNH, HĐH nền kinh tế được thể hiện trong rất nhiều:  
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án, chương trình (phát triển vùng kinh  
tế, vùng kinh tế trọng điểm, ngành, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế  
xuất, khu công nghệ cao…)… đã được phê duyệt và công bố rộng rãi. Tuy  
nhiên, do có quá nhiều chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề  
án… tầm nhìn đến năm 2020, 2030 được xây dựng với nguồn lực hạn chế  
cả về tài chính và nhân lực nên các chính sách có sự phân tán, thiếu trọng  
tâm, và chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn.  
Khoảng cách lớn về NSLĐ giữa các ngành kinh tế đã dẫn đến sự dịch  
chuyển lao động từ ngành có năng suất thấp sang các ngành có năng suất  
cao hơn. Sự dịch chuyển này góp phần nâng cao NSLĐ và cải thiện năng  
lực cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên, mức NSLĐ thấp và tốc độ tăng  
NSLĐ chậm chạp của các ngành và nền kinh tế, đi cùng với quá trình  
chuyển dịch chậm chạp của lao động ra khỏi các ngành có năng suất thấp  
đã tạo ra một cơ cấu ngành phát triển theo chiều rộng có giá trị gia tăng và  
năng lực cạnh tranh thấp, chưa thực sự tạo ra các ngành phát triển theo  
chiều sâu có giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh cao.  
Trên đây là những kết quả nghiên cứu ban đầu về thực trạng chuyển  
dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam. Những  
kết luận này sẽ tiếp tục được kiểm chứng sâu hơn bằng các nghiên cứu định  
lượng trong chương tiếp theo.  
Vậy, dưới tác động của hệ thống các chính sách kinh tế đan xen  
nhau, quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam diễn ra như  
thế nào? Phần tiếp theo trình bày một số phân tích ban đầu về diễn biến quá  
trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam kể từ sau Đổi mới.  
2.2. Cơ cấu GDP, vốn và lao động theo ngành của nền kinh tế Việt Nam  
Trong hơn hai thập kỷ vừa qua, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua một  
thời kỳ tăng trưởng cao và cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng công  
nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH). Tỷ trọng đóng góp của nhóm ngành  
nông nghiệp trong GDP có xu hướng giảm dần, và tỷ trọng đóng góp của các  
ngành công nghiệp và dịch vụ tăng dần. Tuy nhiên, từ năm 2005 trở lại đây,  
phần chia của khu vực công nghiệp trong GDP có xu hướng chững lại.  
Cơ cấu vốn của nền kinh tế bộc lộ nhiều điểm bất hợp lý. Hơn một  
nửa lượng vốn chảy vào khu vực dịch vụ nhưng đóng góp của khu vực dịch  
9
10  
Chương 3:  
Thay đổi công nghệ (IO) (3.2)  
R (1) D (1) (A)X  
(2)  
CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CÁC MÔ HÌNH PHÂN TÍCH  
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ VÀ ƯỚC LƯỢNG  
THỰC NGHIỆM CHO NỀN KINH TẾ VIỆT NAM  
GIAI ĐOẠN 1989 - 2014  
R(1) (I D(1) A(1) )1  
3.2. “Mô hình cơ bản” phân tích vai trò của chuyển dịch cơ cấu ngành  
đối với tăng trưởng năng suất lao động  
trong đó,  
và các chỉ số 1, 2 ký hiệu cho các thời kỳ.  
Chương 3 trình bày cơ sở phương pháp luận ba mô hình định lượng  
về CDCCN kinh tế và áp dụng ba mô hình này để phân tích sự CDCCN và  
nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 1989 - 2014.  
A. CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CÁC MÔ HÌNH PHÂN TÍCH  
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ  
3.1. Mô hình vào - ra phân tích nguồn tăng trưởng đầu ra và thay đổi  
cơ cấu  
Các ký hiệu:  
R = tốc độ tăng trưởng năng suất trung bình của nền kinh tế;  
λi = tỷ trọng lao động của khu vực i trong nền kinh tế;  
qi = NSLĐ trung bình của khu vực i;  
ri = tăng trưởng năng suất ở khu vực i;  
Q = λ q , năng suất trung bình của nền kinh tế;  
i
i
, tỷ trọng sản lượng của khu vực i.  
ki λiqi /Q  
Các ký hiệu:  
Xi là sản lượng trong nước của ngành i, X là véc tơ tổng đầu ra của nền  
kinh tế;  
Tốc độ tăng năng suất tổng thể được tính theo công thức:  
R ki ri [(λ'm λm )(q'm qa' ) (λs' λs )(qs' q'a )]/Q (3.17)  
Xij  
3.3. Các mô hình kinh tế lượng đánh giá tác động của chuyển dịch cơ  
cấu ngành kinh tế đến tăng trưởng kinh tế trong quá trình CNH, HĐH  
Các biến:  
   
A aij  
a   
n là ma trận hệ số vào - ra, với hệ số  
ij  
Xj  
;
V là véc tơ cầu trung gian, xác định theo công thức: V AX;  
Fi là cầu cuối cùng trong nước đối với ngành i, F là véc tơ cầu cuối cùng  
trong nước;  
Ei là xuất khẩu hàng trong nước của ngành i, E là véc tơ xuất khẩu hàng  
trong nước;  
Các tỷ lệ cầu trong nước được giả thiết là cố định theo ngành được xác định  
bởi công thức:  
lngdp, lngdpnn, lngdpcn, lngdpdv, lngdppnn thứ tự là logarit của  
gdp, gdp nông nghiệp, gdp công nghiệp, gdp dịch vụ, và gdp phi nông  
nghiệp của tỉnh;  
lnk, lnknn, lnkcn, lnkdv, lnkpnn thứ tự là logarit của vốn, vốn nông  
nghiệp, vốn công nghiệp, vốn dịch vụ, và vốn phi nông nghiệp của tỉnh;  
lnl, lnlnn, lnlcn, lnldv, lnlpnn thứ tự là logarit của lao động, lao  
động nông nghiệp, lao động công nghiệp, lao động dịch vụ, và lao động phi  
nông nghiệp của tỉnh;  
knn, kcn, kdv lần lượt là tỷ trọng vốn của các ngành nông nghiệp,  
công nghiệp, dịch vụ trong tổng vốn của tỉnh;  
l_nn, l_cn, l_dv lần lượt là tỷ trọng lao động của các ngành nông  
nghiệp, công nghiệp, dịch vụ trong tổng lao động của tỉnh;  
i là chỉ số các tỉnh, t là chỉ số thời gian;  
Xi E  
di   
i ,i 1,n,  
0 d 1  
.
i
F V  
i
i
Dạng ma trận của mô hình vào - ra trong nền kinh tế mở:  
X D(F V) E D(F AX) E  
trong đó, D là ma trận đường chéo (các phần tử trên đường chéo là di ).  
X (I DA)1 (DF E)  
Hay  
(3.1)  
c là tham số đặc trưng cho sự không đồng nhất về các điều kiện  
kinh tế khác của các tỉnh;  
u là thành phần sai số ngẫu nhiên.  
Mô hình 1 đánh giá tác động của chuyển dịch cơ cấu đầu vào đến tăng  
trưởng kinh tế:  
với DA là ma trận hệ số vào - ra hàng hoá trong nước.  
Những thay đổi sản lượng được xác định bởi công thức:  
ΔX X (2) X (1)  
Mở rộng cầu trong nước (DD)  
Mở rộng xuất khẩu (EE)  
Thay thế nhập khẩu (IS)  
R (1) D(1)  
R (1) ΔE  
R (1) (D)(F (2) V(2) )  
ΔF  
ꢀꢁꢂꢃꢄꢅꢆ = ꢇꢈꢀꢁꢉꢅꢆ + ꢇꢊꢀꢁꢀꢅꢆ + ꢇꢋꢉꢌꢁꢅꢆ + ꢇꢍꢉꢃꢎꢅꢆ  
+ꢇꢏꢀ_ꢌꢁꢅꢆ + ꢇꢐꢀ_ꢃꢎꢅꢆ + ꢌꢅ + ꢑꢅꢆ (3.3b)  
11  
12  
Phần B, tác giả sẽ áp dụng các mô hình đã trình bày trong phần A  
để phân tích sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình CNH,  
HĐH đất nước giai đoạn 1989 - 2014.  
3.5. Sử dụng mô hình vào - ra để phân tích sự chuyển dịch cơ cấu  
ngành và nguồn tăng trưởng sản lượng của các ngành và nền kinh tế  
Việt Nam thời kỳ 1989 - 2007  
Trong gần hai thập kỷ, tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam gắn liền với  
sự chuyển dịch cơ cấu ngành diễn ra theo hướng giảm tỷ trọng của các  
ngành sơ cấp và tăng tỷ trọng của các ngành chế biến chế tạo trong cơ cấu  
đóng góp vào tăng trưởng tổng giá trị sản xuất của nền kinh tế.  
Cơ cấu của khu vực sơ cấp có những thay đổi rõ rệt: thời kỳ 1989 -  
1996, mở rộng đầu ra của ngành nông nghiệp có ảnh hưởng lớn nhất đến tăng  
trưởng sản lượng của khu vực sơ cấp; thời kỳ 1996 - 2000, sự mở rộng đầu ra  
nhanh chóng của ngành khai khoáng chi phối tăng trưởng đầu ra của khu vực  
sơ cấp; đến thời kỳ 2000 - 2007, tăng trưởng sản lượng của ngành thủy sản  
giải thích hơn một nửa cho tăng trưởng đầu ra của khu vực sơ cấp. Cơ cấu  
của cầu đối với các sản phẩm sơ cấp cũng có sự chuyển dịch rõ nét: thời kỳ  
1989 - 1996, mở rộng cầu trong nước, đặc biệt là đối với các sản phẩm nông  
nghiệp, là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng đầu ra của khu vực sơ cấp;  
thời kỳ 1996 - 2000, tăng trưởng đầu ra sơ cấp dựa vào mở rộng xuất khẩu,  
chủ yếu là mở rộng xuất khẩu của nhóm ngành khai khoáng; thời kỳ 2000 -  
2007, tăng trưởng đầu ra của khu vực sơ cấp bị chi phối bởi mở rộng xuất  
khẩu, nhưng mở rộng xuất khẩu tập trung vào các sản phẩm nông nghiệp và  
thủy sản. So sánh với một số nền kinh tế khác, Việt Nam là một trong số rất  
ít các quốc gia mà khu vực sơ cấp là khu vực định hướng xuất khẩu.  
Ngành công nghiệp chế biến chế tạo đóng vai trò quan trọng đối  
với quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam. Sự mở rộng đầu ra của các ngành  
thâm dụng tài nguyên và lao động tuy vẫn đóng vai trò quan trọng đối với  
tăng trưởng đầu ra của ngành công nghiệp chế biến chế tạo nhưng quy mô  
ảnh hưởng đang giảm dần. Trong đó, các ngành chế biến thực phẩm và dệt  
may đóng góp hơn một nửa cho tăng trưởng đầu ra của nhóm ngành thâm  
dụng tài nguyên và lao động thời kỳ 1989 - 2007. Các ngành thâm dụng  
vốn và công nghệ ngày càng mở rộng ảnh hưởng đối với tăng trưởng đầu ra  
của ngành công nghiệp chế biến chế tạo và của nền kinh tế.  
trong đó ý nghĩa của hệ số: ꢒꢋ (ꢒꢍ) được giải thích là sự khác biệt giữa ảnh  
hưởng của tỷ trọng vốn công nghiệp (vốn dịch vụ) đến tăng trưởng kinh tế  
so với sự ảnh hưởng của tỷ trọng vốn nông nghiệp đến tăng trưởng kinh tế;  
ꢒꢏ (ꢒꢐ) được giải thích là sự khác biệt giữa ảnh hưởng của tỷ trọng lao  
động công nghiệp (lao động dịch vụ) đến tăng trưởng kinh tế so với sự ảnh  
hưởng của tỷ trọng lao động nông nghiệp đến tăng trưởng kinh tế.  
Mô hình 2 đánh giá tác động của chuyển dịch cơ cấu đầu vào đến tăng  
trưởng của ngành nông nghiệp:  
ꢀꢁꢂꢃꢄꢁꢁꢅꢆ = ꢇꢈꢀꢁꢉꢁꢁꢅꢆ + ꢇꢊꢀꢁꢀꢁꢁꢅꢆ + ꢇꢋꢉꢃꢎꢅꢆ + ꢇꢍꢀꢃꢎ  
ꢅꢆ  
+ꢇꢏꢉꢌꢁꢅꢆ + ꢇꢐꢀ_ꢌꢁꢅꢆ + ꢌꢅ + ꢑꢅꢆ (ꢋ. ꢋꢌ)  
Mô hình 3 đánh giá tác động của chuyển dịch cơ cấu đầu vào đến tăng  
trưởng của ngành công nghiệp:  
ꢀꢁꢂꢃꢄꢌꢁꢅꢆ = ꢇꢈꢀꢁꢉꢌꢁꢅꢆ + ꢇꢊꢀꢁꢀꢌꢁꢅꢆ + ꢇꢋꢉꢁꢁꢅꢆ + ꢇꢍꢉꢃꢎꢅꢆ  
+ꢇꢏꢀꢁꢁ + ꢇꢐꢀ_ꢃꢎꢅꢆ + ꢌꢅ + ꢑꢅꢆ (ꢋ. ꢋꢃ)  
ꢅꢆ  
Mô hình 4 đánh giá tác động của chuyển dịch cơ cấu đầu vào đến tăng  
trưởng của ngành dịch vụ:  
ꢀꢁꢂꢃꢄꢃꢎꢅꢆ = ꢇꢈꢀꢁꢉꢃꢎꢅꢆ + ꢇꢊꢀꢁꢀꢃꢎꢅꢆ + ꢇꢋꢉꢁꢁꢅꢆ + ꢇꢍꢉꢌꢁꢅꢆ  
+ꢇꢏꢀ_ꢁꢁꢅꢆ + ꢇꢐꢀ_ꢌꢁꢅꢆ + ꢌꢅ + ꢑꢅꢆ (ꢋ. ꢋꢓ)  
Mô hình 5 đánh giá tác động của chuyển dịch cơ cấu đầu vào đến tăng  
trưởng của các ngành phi nông nghiệp:  
ꢀꢁꢂꢃꢄꢄꢁꢁꢅꢆ = ꢇꢈꢀꢁꢉꢄꢁꢁꢅꢆ + ꢇꢊꢀꢁꢀꢄꢁꢁꢅꢆ + ꢇꢋꢉꢌꢁꢅꢆ + ꢇꢍꢀ_ꢌꢁꢅꢆ + ꢌꢅ  
+ ꢑꢅꢆ (ꢋ. ꢋꢔ)  
3.4. Số liệu sử dụng cho phân tích  
Thứ nhất, nghiên cứu này sử dụng 4 bảng vào - ra các năm: 1989  
(52 ngành); 1996 (52 ngành); 2000 (112 ngành); 2007 (138 ngành) đã được  
chuẩn hoá theo giá so sánh năm 2000. Sau đó, các ngành trong các bảng  
vào - ra được gộp thành 26 ngành.  
Thứ hai, các số liệu vĩ mô do Tổng cục Thống kê tiến hành điều tra  
trong thời kỳ 1995 – 2014 (được chuẩn hóa theo giá so sánh năm 2010) sẽ  
được sử dụng cho mô hình thứ hai.  
Thứ ba, để ước lượng các mô hình kinh tế lượng ở mục 3.3, tác giả  
sử dụng số liệu GDP, vốn và lao động của ba ngành nông nghiệp, công  
nghiệp và dịch vụ của các tỉnh trên cả nước thời kỳ 1998 - 2011 do Tổng  
cục Thống kê cung cấp.  
B. ƯỚC LƯỢNG THỰC NGHIỆM CÁC MÔ HÌNH PHÂN TÍCH  
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRONG QUÁ TRÌNH  
CNH, HĐH ĐẤT NƯỚC GIAI ĐOẠN 1989 - 2014  
Bên cạnh đó, mẫu hình tăng trưởng của Việt Nam trong thời kỳ  
1989 - 2007 đã có những thay đổi đáng kể do những thay đổi về cơ cấu  
đóng góp của các thành phần của cầu cuối cùng đối với tăng trưởng. CNH  
hướng về xuất khẩu đã tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng và  
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam. Thời kỳ 1989 - 1996, mở  
rộng cầu cuối cùng trong nước là nguồn chính đóng góp vào tăng trưởng  
14  
13  
Bảng 3.1. Tỷ lệ % của các nhân tố đóng góp vào tăng trưởng sản lượng ở Việt Nam thời kỳ 1989 - 2007  
(Đơn vị %)  
1989 - 1996  
IS IO  
8.79 5.98 -2.25 4.43  
5.36 4.37 -2.42 5.37 12.7 4.11 3.37 1.78 -1.36 7.91  
1996 - 2000  
IS IO  
5.69 4.46 1.72 -1.72 10.2 -1.7 4.9 -2.01 2.88 4.11  
-2 3.45 -1.65 1.77 1.53  
2000 - 2007  
giá trị sản xuất của nền kinh tế. Thời kỳ 1996 - 2000, tuy mở rộng cầu  
trong nước vẫn là thành phần chủ đạo đóng góp vào tăng trưởng (chiếm  
56,9%) nhưng mở rộng xuất khẩu cũng đóng vai trò quan trọng không kém  
(chiếm 51,8%). Nếu so sánh được thực hiện giữa mở rộng trong nước và  
mở rộng xuất khẩu trong các ngành: nông nghiệp, công nghiệp chế biến chế  
tạo thâm dụng tài nguyên và lao động thì mở rộng cầu trong nước vẫn có  
ảnh hưởng chi phối trong hầu hết các ngành này. Ngoài ra, tăng trưởng của  
các ngành công nghiệp thâm dụng vốn và công nghệ chủ yếu là dựa vào  
thay thế nhập khẩu. Thời kỳ 2000 - 2007, tầm quan trọng tương đối của mở  
rộng cầu trong nước đã giảm xuống, mở rộng xuất khẩu đã trở thành nguồn  
đóng góp chính cho tăng trưởng giá trị sản xuất của nền kinh tế. Mở rộng  
xuất khẩu cũng là động lực dẫn dắt tăng trưởng của các ngành thuộc khu  
vực nông nghiệp, và công nghiệp chế biến chế tạo.  
Sự mở rộng đầu ra của khu vực dịch vụ đóng góp vào tăng trưởng  
chung của nền kinh tế biểu hiện xu thế giảm. Hơn nữa, sự phát triển hướng nội  
của khu vực này chủ yếu để đáp ứng sự mở rộng quy mô của cầu trong nước.  
Trong thời kỳ 1989 - 2007, các ngành: chế biến thực phẩm, dệt may,  
hóa chất, sản xuất kim loại và các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn, sản xuất  
các sản phẩm điện - điện tử luôn là các ngành có các chỉ số liên kết xuôi FL  
và liên kết ngược BL đều lớn hơn 1. Sự phát triển của các ngành then chốt  
này sẽ tạo ra mức độ ảnh hưởng đến tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu lớn  
hơn so với các ngành còn lại trong hệ thống kinh tế.  
STT  
Ngành  
DD  
EE  
Tổng DD EE  
17  
Tổng DD EE  
IS IO  
Tổng  
I
Nhóm ngành nông - lâm - thủy sản  
Nông nghiệp  
1
2
3
Lâm nghiệp  
Thuỷ sản  
0.02 -0.02 -0.11 0.24 0.13 0.49 0.35 -0.08 -0.39 0.38 0.33 -0 -0.26 0.08 0.15  
3.41 1.63 0.28 -1.18 4.14 1.09 0.73 0.02 0.03 1.87 0.05 1.45 -0.1 1.03 2.44  
II Nhóm ngành công nghiệp  
4
34.8 18.9 6.48 -5.84 54.3  
0.77 2.61 0.41 0.48 4.27 1.31 10.7 -0.41 -1.61 9.95 -0.7 0.4 -0.1 0.04 -0.36  
22.8 15.4 4.62 -5.6 37.2 20.5 20.7 -6.97 8.75 43 12.1 38.1 -8.3 18.8 60.8  
12.5 6.94 2.16 -5.32 16.3 4.23 3.28 -0.04 2.09 9.56 -3.8 5.85 -1.28 9.14 9.92  
2.8  
1.41 0.26 -0.1 -0.29 1.28 2.62 0.02 -0.21 0.37 0.9 1.24 -0 -0.09 2.04  
0.2 -0.74 4.79 2.16 8.49 0.95 1.55 13.2 1.97 3.12 -0.47 0.75 5.37  
-0 -0.22 2.42 0.8 0.52 -0.25 -1.71 -0.63 -0.3 -0 -0.07 0.84  
0.5  
0.6 0.62 -0.12 0.58 1.69  
0.38 0.41 0.48 0.29 1.55 0.77 0.64 0.98 -0.75 1.65 1.58 2.59 -2.35 1.67 3.49  
34 33.5 -10.7 6.83 63.6 20.8 39.2 -4.59 18.6  
74  
Khai khoáng  
Ngành công nghiệp chế biến - chế tạo  
Sản xuất, chế biến thực phẩm  
5
6
7
8
9
Sản xuất đồ uống, thuốc lá  
Dệt, sản xuất trang phục, đồ da và các sản phẩm liên quan  
Chế biến gỗ và sản xuất các sản phẩm từ gỗ  
Sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy, sản phẩm của nhà xuất bản  
0.69 4.64  
1.26 1.37  
1.11 0.18 -0.22 -0.08 0.99 0.79 0.3 0.06 0.24 1.39  
10 Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất  
11 Thuốc, hoá dược và dược liệu  
12 Cao su, plastic  
13 Sản xuất các sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác  
14 Sản xuất kim loại và các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn  
Sản xuất các sản phẩm điện, điện tử, máy vi tính, sản phẩm  
15 quang học  
0.15 0.02 0.18 -0.01 0.34 0.39 0.09  
0.32 0.37 -0.16 0.1 0.63 0.39 0.36 0.8  
2.43 0.46 -0.53 0.56 2.92 2.31 0.15 0.4  
1.21 0.12 0.33 -0.12 1.54 0.01 0.87 2.64 -0.69 2.83 0.48 7.86 -4.08 4.59 8.85  
0
-0.05 0.43 0.16 0.21 -0.06 0.42 0.73  
0.73 2.28 0.53 3.38 0.36 -0.73 3.55  
-0.3  
2.57  
-1 3.15 0.04 1.52 3.73  
1.01 0.66 -0.35 0.07 1.39 -0.1 1.89 -0.25 -0.47 1.07  
3
0.11 7.08 -0.49  
10 -7.38 0.65 11.2  
13.5  
1.55 0.73 1.44 -0.34 3.39 1.59 1.94 -3.22 0.55 0.87 1.04 0.64 3.83 -1.84 3.66  
9.7 0.11 -0.39 9.42 10.6 0.2 -0.1 -0.86 9.87 8.37 -0 -0 1.51 9.88  
19 7.1 -3.32 6.04 28.8 17.2 13.9 -12.4 7.51 26.2 13.8 1.95 8.02 -2.31 21.9  
1.77 1.98 0.01 2.05 5.81 7.53 5.66 -9.24 7.7 11.6 2.33 1.93 4.39 -2.47 6.18  
2.7  
0.7 1.42 -0.86 1.45 1.92 1.77 -1.16 -1.65 0.89 1.11 -0.1 1.65 1.15 3.77  
1.95 1.43 -0.86 0.65 3.16 0.86 2.14 -0 -0.04 2.95 1.9 -0.2 0.7 0.34 2.78  
1.4  
0.71 0.95 -0.67 0.42 0.26 0.73 -0.71 0.17 0.45 0.53 -0.1 1.2 -0.06 1.54  
9.7  
16 Các ngành chế tác khác  
0.25 -0.03 2.63 0.18 3.04 6.13 4.04 -12.1 7.73 5.85  
7.9  
Các ngành công nghiệp khác  
17 Sản xuất điện, nước, khí đốt  
18 Xây dựng  
III Nhóm ngành dịch vụ  
19 Thương nghiệp  
11.2 0.84 1.45 -0.7  
12.8 12.2 2.14 -3.31 -0.3  
10.7 9.41 0.64 3.83 -0.3  
0
20 Vận tải  
21 Dịch vụ lưu trú, ăn uống  
22 Hoạt động ngân hàng, tài chính, bảo hiểm  
23 Thông tin và truyền thông  
24 Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ  
25 Văn hoá, giáo dục, y tế  
0.27 0.26 -0.08 0.53 0.98 0.47 0.67 0.15 0.42 1.72 0.99 -0.1 0.01 -0.11 0.82  
0.38 0.07 -0.08 -0.01 0.36 0.44 0.57 -0.08 -0.38 0.55 0.35 0.09 0.03 0.51 0.99  
4.55 0.37 -0.33 0.35 4.93 4.61 0.43 -1.3 -0.19 3.55  
8.64 0.63 -0.46 0.61 9.42 1.08 1.95 -0.07 1.49 4.45  
3
0.02 0.03 0.03 3.08  
26 Các dịch vụ khác  
3.6 0.42 0.46 -1.7  
33 46 1.43 19.1  
2.78  
100  
Tổng  
62.5 31.9 0.91 4.64  
100 56.9 51.8 -21.4 12.6  
100  
Nguồn: Tính toán của tác giả từ các bảng vào - ra 1989, 1996, 2000, 2007 của GSO.  
Kết quả tính toán chỉ số thang đo dòng theo mô hình Ghosh cho thấy  
trong thời kỳ 2000 - 2007, tăng trưởng sản lượng mạnh mẽ ở các ngành thủy  
sản là do những thay đổi của cầu cuối cùng, còn ở một số ngành dịch vụ như:  
dịch vụ lưu trú ăn uống, ngân hàng - tài chính - bảo hiểm, thông tin và truyền  
thông là do những thay đổi đáng kể trong cả các mối quan hệ liên ngành và  
cầu cuối cùng, riêng ngành vận tải, tăng trưởng đầu ra được gây ra bởi những  
thay đổi của các hệ số kỹ thuật. Các kết quả tính toán chỉ số thang đo cột  
cũng cho thấy tăng trưởng sản lượng ở các ngành: thủy sản, khai khoáng, chế  
biến thực phẩm, dệt may, hóa chất, dịch vụ lưu trú ăn uống, ngân hàng - tài  
chính - bảo hiểm, thông tin và truyền thông là do những thay đổi tích cực trên  
cả hai phương diện phân bổ và giá trị gia tăng.  
15  
16  
3.6. Sử dụng “mô hình cơ bản” phân tích vai trò của chuyển dịch cơ cấu  
ngành đối với tăng trưởng năng suất lao động ở Việt Nam thời kỳ 1995 -  
2014  
Kết quả tính toán dựa trên việc áp dụng mô hình cơ bản cho thấy:  
động lực cốt lõi thúc đẩy tăng trưởng năng suất lao động Việt Nam thời kỳ  
2000–2010 là sự dịch chuyển lao động từ ngành có năng suất thấp sang các  
ngành có năng suất cao hơn. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy trong các  
thời kỳ 1995–1999 và 2011–2014, tăng trưởng năng suất của các ngành là  
nguồn chính của sự gia tăng năng suất lao động tổng thể của nền kinh tế.  
Bảng 3.9. Đóng góp của chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành  
vào tăng trưởng NSLĐ tổng thể nền kinh tế  
NSLĐ  
(triệu  
đồng/người)  
Tăng trưởng  
NSLĐ  
Đóng góp của chuyển  
dịch cơ cấu cho tăng  
trưởng NSLĐ  
Thời kỳ  
(%)  
27,31  
38,14  
48,00  
36,85  
5,00  
3,65  
3,68  
3,94  
1,17  
2,94  
0,33  
2,02  
(23,35%)  
(80,71%)  
(9,09%)  
1995 – 1999  
2000 – 2010  
2011 – 2014  
1995 – 2014  
(51,28%)  
Nguồn: Tính toán của tác giả theo số liệu của Tổng cục Thống kê.  
3.7. Kết quả ước lượng các mô hình kinh tế lượng đánh giá tác động  
của chuyển dịch cơ cấu ngành đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam thời  
kỳ 1998 - 2011  
Kết quả ước lượng mô hình (3.3b):  
lnGDPit = 0.3883*lnkit + 0.3349*lnlit + 0.6539*kcnit  
+ 0.4957*kdvit + 1.5823*l_cnit + 0.6905*l_dvit + 7.1664 + uit  
Kết quả này cho thấy: mỗi sự gia tăng tỷ trọng vốn (lao động) vào  
các ngành công nghiệp và dịch vụ có tác động mạnh hơn đến tăng trưởng  
kinh tế so với tăng tỷ trọng vốn (lao động) nông nghiệp. Điều đó ngụ ý rằng  
sự dịch chuyển vốn và lao động vào các ngành có năng suất cao đã góp  
phần cải thiện chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam và kết quả này  
hoàn toàn phù hợp với các lý thuyết kinh tế.  
Kiểm định so sánh các hệ số ước lượng của mô hình (3.3b) cho  
thấy một sự gia tăng trong tỷ trọng lao động của ngành công nghiệp sẽ có  
tác động đến tăng trưởng mạnh nhất, tiếp đó là ảnh hưởng của gia tăng tỷ  
trọng vốn công nghiệp, sau đó mới đến ảnh hưởng của tăng tỷ trọng vốn và  
lao động dịch vụ.  
Hình 3.1. Nguồn tăng trưởng năng suất lao động Việt Nam, 1995 – 2014.  
Nguồn: Tính toán của tác giả theo số liệu của GSO.  
Bảng 3.9 cho thấy xu thế tăng liên tục của mức NSLĐ Việt Nam  
trong thời kỳ 1995 – 2014, song tốc độ tăng trưởng NSLĐ lại giảm và  
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng đối với tăng  
trưởng NSLĐ tổng thể nền kinh tế, trong đó, chuyển dịch cơ cấu có ảnh  
hưởng mạnh nhất ở thời kỳ 2000 - 2010.  
Kết quả ước lượng mô hình (3.3c):  
lnGDPnnit = 0.1556*lnknnit + 0.2059*lnlnn + 1.2277*kcnit  
+ 1.0877*kdvit+ 0.9873*l_cnit + 0.8267*l_dvit + 9.4623 + uit  
Kết quả ước lượng chứng tỏ tăng tỷ trọng vốn và lao động vào các ngành  
công nghiệp và dịch vụ đều có tác động thúc đẩy nông nghiệp tăng trưởng.  
Hơn nữa, một sự gia tăng tỷ trọng vốn dịch vụ sẽ có tác động đến tăng  
trưởng nông nghiệp ít hơn là sự gia tăng tỷ trọng vốn công nghiệp.  
17  
18  
Kết quả ước lượng mô hình (3.3d):  
KẾT LUẬN, MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ  
VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO  
1. Kết luận  
lnGDPcnit = 0.5475*lnkcnit + 0.2515*lnlcnit + 0.2251*knnit  
+ 1.2062*kdvit 0.9034*l_nnit 0.1048*l_dvit+ 7.7897 + uit  
Các kết quả ước lượng và kiểm định chứng tỏ rằng: thứ nhất, tăng  
tỷ trọng vốn dịch vụ có tác động đến tăng trưởng công nghiệp lớn hơn so  
với tăng tỷ trọng vốn công nghiệp, và/ hoặc tăng tỷ trọng lao động công  
nghiệp có tác động đến tăng trưởng công nghiệp lớn hơn so với tăng tỷ  
trọng lao động nông nghiệp; thứ hai, mỗi sự gia tăng như nhau về tỷ trọng  
vốn công nghiệp và vốn nông nghiệp, hay lao động công nghiệp và lao  
động dịch vụ đều có tác động như nhau đến tăng trưởng công nghiệp.  
Kết quả ước lượng mô hình (3.3e):  
lnGDPdvit = 0.4527*lnkdvit + 0.2958*lnldv + 0.4159*knnit  
+ 1.1532*kcnit+ 0.6399*l_nnit + 1.9664*l_cnit + 6.5969 + uit  
Kết quả ước lượng chứng tỏ: tăng tỷ trọng vốn vào các ngành nông  
nghiệp, công nghiệp đều có tác động thúc đẩy tăng trưởng của ngành dịch  
vụ mạnh hơn là tăng tỷ trọng vốn dịch vụ; và mỗi sự gia tăng tỷ trọng lao  
động dịch vụ có tác động đến tăng trưởng của ngành dịch vụ ít hơn là tác  
động của sự gia tăng tương ứng về tỷ trọng lao động công nghiệp. Hơn nữa,  
mỗi sự gia tăng như nhau về tỷ trọng lao động nông nghiệp và dịch vụ đều  
có tác động như nhau đến tăng trưởng của ngành dịch vụ.  
Luận án “Các mô hình phân tích sự chuyển dịch cơ cấu ngành  
kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã sử  
dụng ba mô hình: mô hình vào - ra, mô hình cơ bản và các mô hình kinh tế  
lượng để phân tích sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam giai  
đoạn 1989 - 2014. Qua phân tích, tác giả rút ra một số kết luận sau:  
Trong hơn hai thập kỷ vừa qua, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua  
một thời kỳ tăng trưởng cao song hành với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh  
tế theo hướng CNH và ngày càng hiện đại. Điều này được minh chứng  
trong sự dịch chuyển dài hạn trong cơ cấu GDP, cơ cấu lao động, cơ cấu  
xuất khẩu và giá trị gia tăng của các ngành trong nền kinh tế. Tỷ trọng đóng  
góp của ngành nông nghiệp có xu hướng giảm dần, các ngành công nghiệp  
chiếm tỷ trọng ngày càng lớn, còn tỷ trọng của các ngành dịch vụ tương đối  
ổn định. Xét riêng từng nhóm ngành, cơ cấu ngành cũng có những chuyển  
dịch tích cực và rõ nét.  
Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam trong hơn hai thập kỷ đã chuyển  
dịch từ trạng thái mà các sản phẩm nông nghiệp chiếm 22% kim ngạch xuất  
khẩu vào năm 1995 và đến trạng thái mà hàng công nghiệp chiếm trên 90%  
kim ngạch xuất khẩu năm 2012 của nền kinh tế. Đó là kết quả của việc thực  
hiện có nguyên tắc một chiến lược kinh tế phù hợp với lợi thế so sánh của  
quốc gia, đặc biệt trong các ngành công nghiệp thâm dụng tài nguyên và  
lao động. Những thay đổi trong cơ cấu xuất khẩu hàng CNCBCT phản ánh  
rằng chính phủ Việt Nam đã thành công trong việc cung cấp các thiết lập  
thuận lợi ở cấp vĩ mô cho định hướng CNH hướng về xuất khẩu. Tuy  
nhiên, điều đáng lo ngại là các ngành định hướng xuất khẩu của Việt Nam  
hiện nay có hàm lượng giá trị gia tăng thấp; các hoạt động sản xuất, chế  
biến hàng xuất khẩu phụ thuộc lớn vào đầu vào nhập khẩu. Hàm lượng nội  
địa duy nhất của các sản phẩm chế biến chế tạo xuất khẩu là lao động kỹ  
năng thấp hoặc trung bình được sử dụng cùng với với máy móc thiết bị và  
nguyên phụ liệu nhập khẩu.  
Kết quả ước lượng mô hình (3.3f):  
lnGDPpnnit = 0.5142*lnkpnnit + 0.2923*lnlpnn  
+ 0.2477*kcnit + 1.041*l_cnit + 7.3401 + uit  
Kết quả này một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của ngành công nghiệp  
trong việc thúc đẩy tăng trưởng của các ngành phi nông nghiệp. Hơn nữa,  
mỗi sự gia tăng tỷ trọng lao động công nghiệp sẽ có ảnh hưởng đến tăng  
trưởng của các ngành sản xuất phi nông nghiệp lớn hơn ảng hưởng của sự  
gia tăng tương ứng tỷ trọng vốn công nghiệp.  
Bằng cách sử dụng kỹ thuật phân rã nguồn tăng trưởng theo  
phương pháp tiếp cận vào - ra, có thể kết luận rằng sự thay đổi cơ cấu nền  
kinh tế Việt Nam được thúc đẩy bởi sự dịch chuyển trong nhu cầu cuối  
cùng - chủ yếu là tiêu dùng, thương mại, và những thay đổi trong mối quan  
hệ giữa các ngành. Bên cạnh đó, ảnh hưởng của các chính sách thương mại  
và công nghiệp của Chính phủ cũng làm thay đổi cơ cấu nguồn tăng trưởng  
đầu ra. Nếu cuối thập niên 80 đến nửa đầu thập niên 90, mở rộng cầu trong  
nước là thành phần lớn nhất đóng góp cho tăng trưởng đầu ra thì đến cuối  
Các kết quả ước lượng cho thấy CDCCN kinh tế có quan hệ chặt  
chẽ với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam thời kỳ 1998 - 2011. Các kết quả  
này cũng nhấn mạnh vai trò quan trọng của ngành công nghiệp trong việc  
thu hút vốn và lao động để tạo ra sự CDCCN kinh tế và đóng góp vào tăng  
trưởng của các ngành và nền kinh tế.  
19  
20  
thập niên 90, mở rộng cầu trong nước vẫn có ảnh hưởng chi phối đến tăng  
trưởng đầu ra nhưng ảnh hưởng của mở rộng xuất khẩu có vai trò quan  
trọng không kém, cho đến thập niên đầu của thế kỷ 21, mở rộng xuất khẩu  
đã trở thành nguồn chính giải thích cho tăng trưởng đầu ra của nền kinh tế.  
Tính đa dạng trong tăng trưởng và CDCCN phản ánh một phạm vi  
rộng các khuynh hướng của quá trình CNH. Sự khác nhau giữa các ngành  
phần lớn là do các nhân tố đặc trưng riêng cho từng ngành và sự khác nhau  
về định hướng thương mại. Quá trình CDCCN cho thấy có sự thay đổi đáng  
kể trong vai trò của các ngành sơ cấp và các ngành CNCBCT trong quá  
trình CNH, HĐH đất nước. Cơ cấu ngành thay đổi theo hướng giảm tỷ  
trọng của các ngành sơ cấp, tăng tỷ trọng đóng góp của các ngành  
CNCBCT. Hơn nữa, trong cơ cấu ngành CNCBCT cũng có sự chuyển dịch  
từ các ngành thâm dụng lao động đến các ngành thâm dụng vốn.  
nhóm ngành thâm dụng tài nguyên và lao động quyết định tăng trưởng đầu  
ra của ngành CNCBCT, thì đến thời kỳ 2000 - 2007, mở rộng đầu ra của  
các ngành thâm dụng vốn và công nghệ trở thành động lực dẫn dắt tăng  
trưởng đầu ra bên cạnh những đóng góp không kém phần của các ngành  
thâm dụng tài nguyên và lao động. Sự dịch chuyển cơ cấu của cầu đối với  
hàng CNCBCT là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự mở rộng đầu  
ra của ngành CNCBCT. Cuối thập niên 80, thành phần đóng góp quan  
trọng nhất vào tăng trưởng đầu ra của ngành CNCBCT (đối với cả nhóm  
ngành thâm dụng tài nguyên và lao động và nhóm ngành thâm dụng vốn và  
công nghệ) là mở rộng cầu trong nước. Cuối thập niên 90, tăng trưởng đầu  
ra của khu vực CNCBCT dựa vào sự mở rộng nhanh chóng của xuất khẩu,  
trong đó mở rộng đầu ra của nhóm ngành thâm dụng tài nguyên và lao  
động dựa vào sự mở rộng của cầu trong nước và xuất khẩu, và mở rộng đầu  
ra của nhóm ngành thâm dụng vốn và công nghệ dựa vào thay thế nhập  
khẩu và mở rộng xuất khẩu. Đến thập niên đầu của thế kỷ 21, mở rộng xuất  
khẩu là khuynh hướng chủ đạo có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự mở rộng đầu  
ra của ngành CNCBCT. Trong đó, ngoài thành phần chính là mở rộng xuất  
khẩu, tăng trưởng đầu ra của các ngành thâm dụng tài nguyên và lao động  
được hậu thuẫn bởi những thay đổi trong các hệ số kỹ thuật cho thấy những  
cải thiện đáng kể về tiến bộ công nghệ của các ngành có tác động tích cực  
đến tăng trưởng đầu ra của nhóm ngành này; đối với nhóm ngành thâm  
dụng vốn và công nghệ, ảnh hưởng của những thay đổi trong các hệ số kỹ  
thuật không mạnh như ở các ngành thâm dụng tài nguyên và lao động  
nhưng cộng hưởng cùng với sự mở rộng của cầu trong nước, tăng trưởng  
đầu ra của nhóm ngành thâm dụng vốn và công nghệ đã thể hiện phần đóng  
góp trội hơn vào tăng trưởng đầu ra so với các ngành thâm dụng tài nguyên  
và lao động. Điều đó thể hiện thành công của các chính sách của chính phủ  
như đẩy mạnh tự do thương mại, xúc tiến xuất khẩu và thu hút chuyển giao  
công nghệ vào Việt Nam, và cho thấy những cải thiện đáng kể trong quá  
trình hội nhập kinh tế của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới trong thời gian  
qua. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, ngành CNCBCT, ngành đóng vai  
trò chủ đạo đối với tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu ngành ở Việt Nam,  
cũng bộc lộ một số hạn chế như: mức độ phụ thuộc vào nhập khẩu đang gia  
tăng, xu hướng giảm giá trị gia tăng của sản phẩm. Những bất cập này một  
phần là do sự kém phát triển của công nghiệp hỗ trợ.  
Nếu trong thời kỳ 1989 - 2000, khu vực sơ cấp đóng vai trò quan  
trọng trong tăng trưởng đầu ra của nền kinh tế thì đến đầu những năm 2000,  
đóng góp của khu vực này vào tăng trưởng đã giảm đi đáng kể. Cơ cấu của  
khu vực sơ cấp cũng thay đổi theo thời gian: thời kỳ 1989 - 1996, mở rộng  
đầu ra của ngành nông nghiệp có ảnh hưởng lớn nhất đến tăng trưởng sản  
lượng của khu vực sơ cấp; thời kỳ 1996 - 2000, sự mở rộng đầu ra nhanh  
chóng của ngành khai khoáng chi phối tăng trưởng đầu ra của khu vực sơ  
cấp; đến thời kỳ 2000 - 2007, tăng trưởng sản lượng của ngành thủy sản  
giải thích hơn một nửa cho tăng trưởng đầu ra của khu vực sơ cấp. Trong cả  
thời kỳ 1989 - 2007, cơ cấu của cầu đối với các sản phẩm sơ cấp cũng có sự  
chuyển dịch rõ nét. Mở rộng cầu trong nước, đặc biệt là đối với các sản  
phẩm nông nghiệp, là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng đầu ra của khu  
vực sơ cấp thời kỳ 1989 - 1996. Trong thời kỳ tiếp theo 1996 - 2000, tăng  
trưởng đầu ra sơ cấp dựa vào mở rộng xuất khẩu, chủ yếu là mở rộng xuất  
khẩu của nhóm ngành khai khoáng. Tương tự thời kỳ trước, thời kỳ 2000 -  
2007 tăng trưởng đầu ra của khu vực sơ cấp bị chi phối bởi mở rộng xuất  
khẩu, nhưng mở rộng xuất khẩu tập trung vào các sản phẩm nông nghiệp và  
thủy sản, đồng thời thời kỳ này mối liên kết ngành giữa nông nghiệp và  
thủy sản với các ngành trong nền kinh tế cũng được cải thiện. So sánh với  
một số nền kinh tế khác, Việt Nam là một trong số rất ít các quốc gia mà  
khu vực sơ cấp là khu vực định hướng xuất khẩu. Điếu đó cho thấy những  
bước tiến trong quá trình CNH ở Việt Nam vẫn còn hết sức khiêm tốn.  
Đóng vai trò then chốt trong tăng trưởng giá trị sản xuất của Việt  
Về các ngành thâm dụng tài nguyên và lao động, sự mở rộng đầu ra  
Nam qua các thời kỳ, ngành CNCBCT ngày càng mở rộng tầm ảnh hưởng  
đối với tăng trưởng đầu ra của nền kinh tế, mặc dù phần đóng góp đó vẫn  
còn khá khiêm tốn so với tiềm năng của ngành. Xét trên phương diện cơ  
cấu ngành CNCBCT, nếu thời kỳ 1989 - 2000, tăng trưởng đầu ra của  
của ngành tuy vẫn đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng đầu ra của  
nền kinh tế nhưng quy mô ảnh hưởng đang giảm dần. Tăng trưởng đầu ra  
của các ngành chế biến thực phẩm và dệt may đóng góp hơn một nửa cho  
tăng trưởng đầu ra của nhóm ngành thâm dụng tài nguyên và lao động  
21  
22  
trong thời kỳ 1989 - 2007. Một trong những đặc điểm đáng lưu ý đối với  
hai ngành chủ lực đóng góp vào tăng trưởng là xu hướng gia tăng chi phí  
trung gian trong quá trình sản xuất, điều này phản ánh quá trình sản xuất  
mới chỉ dừng lại ở mức sơ chế hoặc làm hàng gia công. Sự dịch chuyển về  
cơ cấu của cầu trong ngành chế biến thực phẩm lần lượt trải qua các giai  
đoạn tăng trưởng từ dựa vào mở rộng cầu trong nước đến dựa vào mở rộng  
cầu trung gian. Ngành dệt may luôn là ngành định hướng xuất khẩu trong  
các thời kỳ nghiên cứu.  
Các ngành thâm dụng vốn và công nghệ ngày càng mở rộng ảnh  
hưởng đối với tăng trưởng đầu ra của khu vực CNCBCT và của nền kinh  
tế. Trong thời kỳ 1989 - 2000, ngành hóa chất đi theo định hướng thay thế  
nhập khẩu, ngành sản xuất kim loại và các sản phẩm từ kim loại chuyển  
dịch từ dựa vào cầu trong nước đến thay thế nhập khẩu, ngành sản xuất cao  
su - plastic dịch chuyển từ ngành định hướng xuất khẩu đến thay thề nhập  
khẩu, ngành sản xuất các sản phẩm điện - điện tử từ dựa vào cầu trong  
nước đến định hướng xuất khẩu. Trong thời kỳ 2000 - 2007, sự mở rộng  
đầu ra nhanh chóng của các ngành như sản xuất kim loại và các sản phẩm  
từ kim loại, hóa chất, cao su - plastic là do sự mở rộng nhanh chóng của  
xuất khẩu. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại đối với các ngành sản phẩm từ kim  
loại và hóa chất là cùng với sự mở rộng nhanh của xuất khẩu, tăng trưởng  
đầu ra của hai ngành này phụ thuộc khá lớn vào đầu vào trung gian nhập  
khẩu. Bên cạnh đó, với vai trò của một ngành thay thế nhập khẩu, ngành  
sản xuất các sản phẩm điện - điện tử đã có những đóng góp to lớn vào tăng  
trưởng đầu ra của nền kinh tế. Mặc dù là một ngành có lợi thế cạnh tranh và  
tiềm năng phát triển nhưng cho đến nay, ngành công nghiệp được coi là  
mũi nhọn này mới chỉ dừng lại ở các hoạt động lắp ráp đơn giản (kể cả các  
thiết bị và linh kiện điện tử).  
Hình mẫu tăng trưởng của ngành CNCBCT ở Việt Nam cũng diễn  
ra tương tự như ở một số nền kinh tế thành công khác ở Đông Á đã trải  
nghiệm như Hàn Quốc, Đài Loan. Kết quả phân tích cho thấy Việt Nam  
đang đi theo con đường tăng trưởng của các nước Đông Á láng giềng có  
đặc điểm là coi mở cửa và hội nhập là yếu tố tiên quyết đối với tăng trưởng  
và mở rộng nền tảng công nghiệp (chuyển dịch cơ cấu). Tuy nhiên, điểm  
đáng lưu ý trong quá trình CNH ở Việt Nam là tốc độ tăng giá trị gia tăng  
của các ngành luôn thấp hơn so với tốc độ tăng giá trị sản xuất. Quá trình  
chuyển dịch chậm đã tạo ra một cơ cấu ngành có năng lực cạnh tranh thấp.  
Các kết quả phân tích so sánh cho thấy trình độ phát triển của nền kinh tế  
Việt Nam vẫn còn ở giai đoạn đầu của quá trình CNH, HĐH, mặc dù đã có  
những thay đổi đáng kể trong cơ cấu của các thành phần đóng góp vào tăng  
trưởng sản lượng của các ngành và nền kinh tế.  
Sự mở rộng đầu ra của khu vực dịch vụ đóng góp vào tăng  
trưởng chung của nền kinh tế biểu hiện xu thế giảm. Hơn nữa, sự phát  
triển hướng nội của khu vực này chủ yếu để đáp ứng sự mở rộng quy mô  
của cầu trong nước.  
Sự CDCCN từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ đã có ảnh  
hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Mức tăng trưởng đạt  
được chủ yếu là do sự mở rộng các yếu tố đầu vào (như vốn và lao động)  
và sự CDCCN kinh tế theo chiều ngang từ các ngành có năng suất thấp  
sang các ngành có năng suất cao, trong đó nhấn mạnh vai trò quan trọng  
của các ngành công nghiệp và dịch vụ. Sự chuyển dịch đó cũng đã có tác  
động mạnh mẽ đến tăng trưởng của các ngành kinh tế của Việt Nam. Kết  
quả ước lượng các mô hình kinh tế lượng cung cấp thêm cơ sở khoa học để  
khẳng định rằng CDCCN theo hướng CNH, HĐH có tác động thúc đẩy và  
nâng cao tốc độ tăng trưởng của các ngành phi nông nghiệp và của nền  
kinh tế. Đồng thời, các kết quả này cũng cung cấp thêm bằng chứng thực  
nghiệm chứng tỏ rằng tăng phần chia vốn công nghiệp và/hoặc vốn dịch vụ  
trong tổng vốn, và/hoặc tăng phần chia lao động công nghiệp và/hoặc lao  
động dịch vụ trong tổng lao động sẽ có khả năng thúc đẩy sản lượng của  
các ngành và nền kinh tế tăng trưởng nhanh hơn. Các kết quả đều khẳng  
định tầm quan trọng của việc nâng tỷ trọng vốn và đặc biệt là tỷ trọng lao  
động công nghiệp đối với tăng trưởng sản lượng của các ngành phi nông  
nhiệp và của nền kinh tế.  
Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cũng đã giúp Việt Nam  
gặt hái được những thành công nhất định trong quá trình từng bước cải  
thiện NSLĐ, nâng cao năng lực cạnh tranh và giá trị nội tại của nền kinh tế.  
Trong thời kỳ 1995–2014, dòng lao động dịch chuyển từ các hoạt động  
năng suất thấp sang các hoạt động năng suất cao là động lực chính của sự  
phát triển. Sự dịch chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và  
dịch vụ đã có đóng góp to lớn cho sự gia tăng NSLĐ ở Việt Nam, chủ yếu  
là do khoảng cách lớn về năng suất giữa các ngành. Tuy nhiên, nhân tố chủ  
đạo dẫn dắt và tạo nội lực cho tăng trưởng NSLĐ trong thời gian qua đã  
bộc lộ xu hướng hụt hơi, được quan sát thấy từ năm 2011. Với tốc độ tăng  
trưởng kinh tế đã đạt được, có lẽ Việt Nam không thể tiếp tục nâng cao tỷ  
trọng đóng góp của tăng trưởng NSLĐ cho tăng trưởng kinh tế nhờ dịch  
chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ như trước đây. Mặc dù  
chuyển dịch cơ cấu vẫn tiếp tục có đóng góp tích cực cho tăng trưởng  
NSLĐ của nền kinh tế vì tỷ trọng lao động nông nghiệp ở Việt Nam còn rất  
lớn và khoảng cách về NSLĐ giữa công nghiệp và nông nghiệp vẫn đang  
nối dài, nhưng sự tái phân bổ lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và  
dịch vụ tất yếu sẽ suy giảm theo thời gian. Do đó, để giữ nhịp tăng trưởng  
đã đạt được trong thời gian qua và bước vào giai đoạn tăng trưởng mới đầy  
23  
24  
sinh lực, Việt Nam cần cải thiện mạnh mẽ hơn nữa NSLĐ của các ngành  
kinh tế.  
2. Một số khuyến nghị chính sách  
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu của chương 2 và chương 3, một  
số khuyến nghị chính sách được đề xuất như sau:  
ngành công nghiệp hỗ trợ tạo ra những sản phẩm có nhu cầu lớn cần được  
tập trung phát triển là: phụ liệu dệt may, giày dép, linh kiện điện tử…  
Thứ tư, nâng cao chất lượng dịch vụ ở các ngành dịch vụ truyền  
thống và phát triển các ngành dịch vụ hiện đại, công nghệ cao. Những  
ngành dịch vụ trọng tâm như ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, viễn thông…  
cần được chú trọng phát triển nhằm tạo ra những tiền đề quan trọng để Việt  
Nam phát triển một nền kinh tế có giá trị gia tăng cao.  
Thứ năm, cần chú trọng phát triển các ngành nông nghiệp truyền  
thống cùng với các ngành nông nghiệp kỹ thuật cao. Nâng cao NSLĐ nông  
nghiệp bằng cách ứng dụng khoa học công nghệ, nhất là công nghệ sinh học.  
Thứ sáu, Việt Nam cần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư  
nhằm nâng cao năng suất của các ngành. Tăng tỷ trọng vốn công nghiệp có  
đóng góp vào tăng trưởng lớn hơn so với việc tăng tỷ trọng vốn nông  
nghiệp và dịch vụ. Vì vậy, để thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu,  
vốn công nghiệp cần được mở rộng cả về quy mô và tỷ trọng. Việc đầu tư  
vào các ngành sản xuất thâm dụng vốn và công nghệ là cần thiết để giữ  
nhịp tăng năng suất.  
Thứ bảy, các chính sách phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc di  
chuyển các nguồn lực một cách linh hoạt sang các hoạt động kinh tế có  
năng suất cao hơn.  
3. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo  
Tác giả xin đề xuất một số hướng nghiên cứu trong tương lai có thể  
thực hiện như sau:  
Thứ nhất, nghiên cứu này đã sử dụng phương pháp phân rã nguồn  
tăng trưởng đầu ra từ phía cầu. Đây là một phương pháp tĩnh so sánh, do  
đó, hướng nghiên cứu tiếp theo có thể thực hiện là sử dụng mô hình vào -  
ra động để phân tích chiến lược CNH, thay đổi cơ cấu và tăng trưởng kinh  
tế ở Việt Nam.  
Thứ hai, các mô hình kinh tế lượng trong nghiên cứu này đã bỏ sót  
hai vấn đề quan trọng là trễ và sai số theo không gian. Do đó, một hướng  
nghiên cứu có thể thực hiện trong các nghiên cứu tiếp theo là sử dụng các  
mô hình kinh tế lượng không gian để nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu ngành  
và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.  
Thứ nhất, Việt Nam cần xây dựng một lộ trình CNH rõ ràng, dài  
hạn, phù hợp với các điều kiện và năng lực thực tế của nền kinh tế.  
Thứ hai, khi xây dựng chiến lược tổng thể về phát triển công nghiệp,  
Việt Nam có thể tập trung vào những lĩnh vực giàu triển vọng bao gồm: thứ  
nhất là những ngành Việt Nam đang có lợi thế so sánh tĩnh (bao gồm những  
ngành có hàm lượng lao động cao, chủ yếu là lao động giản đơn như: dệt may,  
giày dép; và những ngành vừa có hàm lượng lao động cao vừa sử dụng nhiều  
nguyên liệu nông - lâm - thuỷ sản như: thực phẩm, đồ uống ...); thứ hai là  
những ngành, sản phẩm mà cầu của thế giới đang tăng đồng thời Việt Nam có  
lợi thế so sánh động vì phát triển các ngành này sẽ làm chuyển dịch mạnh mẽ  
cơ cấu sản xuất và xuất khẩu trong tương lai không xa. Những ngành hội tụ cả  
hai yếu tố trên (cầu thế giới lớn và có lợi thế so sánh động) có thể là: những  
ngành có hàm lượng lao động cao, chủ yếu là lao động lành nghề, lao động có  
kỹ năng cao với nhiều trình độ khác nhau (như đồ điện, điện tử gia dụng, xe  
máy, máy bơm nước và các loại máy móc khác, các loại bộ phận, linh kiện  
điện tử...); và những ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao (như sản  
xuất các loại máy móc liên quan công nghệ thông tin như máy tính cá nhân,  
điện thoại di động…). Các chính sách phát triển ngành được xác định thuộc  
nhóm thứ nhất phải hướng vào tăng năng suất đi cùng với tăng việc làm,  
hướng đến những khâu có hàm lượng công nghệ vào giá trị gia tăng cao hơn  
nhằm vừa tránh sức ép về gia tăng việc làm vừa chuyển dịch trôi chảy từ tăng  
trưởng dựa vào tài nguyên và nhân công giá rẻ sang dựa vào lao động có tri  
thức kỹ thuật cao và đổi mới công nghệ. Các chính sách liên quan đến các  
ngành được xác định thuộc nhóm thứ hai cần chủ động chuyển hướng từ chiến  
lược hướng nội sang chiến lược hướng ngoại, và đẩy mạnh xuất khẩu sản  
phẩm nguyên chiếc.  
Thứ ba, thúc đẩy tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến chế  
tạo dựa vào tăng năng suất và cải tiến công nghệ, hỗ trợ phát triển các  
ngành công nghiệp có công nghệ cao và theo chiều sâu. Một bước đi cần  
thiết của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay là phát triển công nghiệp hỗ trợ  
nhằm ổn định thị trường đầu vào cho các ngành công nghiệp chế biến chế  
tạo, điều này phần nào sẽ làm giảm sự phụ thuộc vào đầu vào nhập khẩu,  
thúc đẩy nhanh quá trình chuyển giao công nghệ vào Việt Nam, giúp hàng  
hóa Việt Nam tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Hiện nay, các  
NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ  
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN  
1. Nguyễn Thị Cẩm Vân, Nguyễn Khắc Minh (2012), “Phân tích nguồn  
tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000 - 2007 từ phía cầu: tiếp  
cận vào - ra”, Tạp chí Kinh tế & Phát triển, tháng 08/2012.  
2. Nguyễn Thị Cẩm Vân (2013), “Ứng dụng phân tích đầu vào - đầu ra để  
đo lường thay đổi cơ cấu ngành và nền kinh tế Việt Nam thời kỳ 1989 -  
2007”, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia: Đào tạo và ứng dụng toán  
học trong kinh tế - xã hội, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân,  
tháng 5/2013.  
3. Nguyễn Thị Cẩm Vân, Đỗ Văn Lâm (2013), “Đóng góp của chuyển  
dịch lao động vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1995 -  
2011”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, tháng 6/2013.  
4. Nguyễn Thị Cẩm Vân (2013), Đề tài “Mối quan hệ giữa chuyển dịch  
cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 1989 -  
2011”, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, tháng 7/2013.  
5. Nguyễn Thị Cẩm Vân (2014), “Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu  
ngành kinh tế và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 1989 -  
2011”, Kỷ yếu hội thảo khoa học: Kinh tế Việt Nam đến năm 2025: Cơ  
hội và thách thức, tháng 10/2014.  
pdf 14 trang yennguyen 18360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tóm tắt Luận án Các mô hình phân tích sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_cac_mo_hinh_phan_tich_su_chuyen_dich_co_cau.pdf