Luận văn Ca dao Nam Bộ từ góc nhìn văn hóa phong tục

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Ngô Bích Phượng  
CA DAO NAM BỘ  
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA PHONG TỤC  
LUẬN VĂN THẠC SĨ  
NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM  
Thành phố Hồ Chí Minh – 2019  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Ngô Bích Phượng  
CA DAO NAM BỘ  
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA PHONG TỤC  
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam  
Mã ngành  
: 8220121  
LUẬN VĂN THẠC SĨ  
NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
PGS. TS. NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP  
Thành phố Hồ Chí Minh – 2019  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết  
quả nêu trong luận văn là trung thực, các tài liệu tham khảo, trích dẫn có xuất  
xứ rõ ràng. Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu của  
mình.  
TP. Tây Ninh, ngày 28 tháng 9 năm 2019  
Tác giả  
Ngô Bích Phượng  
 
LỜI CẢM ƠN  
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được  
hướng dẫn tận tình, theo dõi sát sao, đầy tinh thần trách nhiệm của PGS. TS  
Nguyễn Thị Ngọc Điệp. Tôi xin bày tỏ lòng tri ân và kính chúc cô sức khỏe.  
Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ của Thư viện Trường Đại học Sư  
phạm TP. Hồ Chí Minh, thư viện tỉnh Bình Dương, thư viện tỉnh Tây Ninh đã  
hỗ trợ tận tình trong việc tìm kiếm tư liệu nghiên cứu.  
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn Phòng Sau đại học Trường Đại học Sư  
phạm TP. Hồ Chí Minh, quý thầy cô trong khoa Ngữ văn đã tạo môi trường  
và điều kiện học tập tốt để học viên hoàn thành khóa học.  
Trân trọng cảm ơn gia đình, quý bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ủng hộ  
tôi hoàn thiện luận văn này.  
Tôi xin chân thành cảm ơn.  
TP. Tây Ninh, ngày 28 tháng 9 năm 2019  
Tác giả  
Ngô Bích Phượng  
 
MỤC LỤC  
Trang phụ bìa  
 
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU  
Viết tắt, kí hiệu  
Viết đầy đủ  
Nhà xuất bản  
Phụ lục  
Nxb  
PL  
tr  
Trang  
VHDG  
Văn học dân gian  
 
1
PHẦN MỞ ĐẦU  
1. Lí do chọn đề tài  
Khám phá vẻ đẹp của văn chương không chỉ là quá trình đi tìm cái hay  
của ngôn từ mà còn là khơi dậy sức sống của cả một nền văn hóa dân tộc. Văn  
học nói chung và văn học dân gian nói riêng là “kho báu” chứa đựng những  
giá trị tinh thần tốt đẹp của cả cộng đồng, biểu hiện qua những lối sống,  
phong tục, tập quán, nếp nhà... Từ góc nhìn văn hóa phong tục, chúng tôi soi  
vào tác phẩm văn học dân gian để đi tìm tính cách, tâm hồn của ông cha thuở  
trước. Hành trình khám phá văn hóa phong tục trong văn học là một hành  
trình thưởng lãm “cái ngon ngoài cả vị ngon, cái đẹp ngoài cả sắc đẹp” (Dẫn  
theo SGK Ngữ văn 10, 2018).  
Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu rõ nhất tâm hồn dân tộc.  
Trong tất cả các thể loại của văn học dân gian, ca dao biểu hiện rõ nhất điệu  
hồn dân tộc, đời sống sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người. Trong đó,  
ca dao đã ngân vang biết bao cung bậc tâm trạng của con người trong các mối  
quan hệ đời sống. A. N. Ghersen đã diễn đạt một cách biểu cảm “Trong các  
bài hát dân gian người ta nhận thấy sự diễn đạt sáng rõ nhất tất cả những  
khởi đầu của thơ ca, cuộc du ngoạn trong tâm hồn nhân dân” (Dẫn theo Vũ  
Anh Tuấn, 2015).  
Ca dao Nam Bộ đã góp phần diễn tả thế giới tinh thần phong phú của  
người dân vùng đất phương Nam. Thể loại văn học này đã góp phần làm đầy  
hơn vẻ đẹp văn hóa của một miền đất mới. Là một bộ phận của ca dao Việt  
Nam, ca dao Nam Bộ đã góp phần biểu hiện những cung bậc trữ tình của đời  
sống dân tộc. Những giai điệu ngọt ngào lan tỏa theo dòng chảy thời gian,  
chuyên chở những tâm tư tình cảm, những khát vọng cao đẹp của con người,  
cùng truyền thống của vùng văn hóa trẻ.  
Cũng vì sự hấp dẫn và sức sống mãnh liệt, ca dao Việt Nam trở thành  
nguồn tài sản quý thu hút các nhà nghiên cứu, rất nhiều công trình nghiên cứu  
 
2
có chiều sâu về vẻ đẹp của thể loại này. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công  
trình nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa phong tục trong ca dao nói chung,  
trong ca dao Nam Bộ nói riêng. Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Ca dao Nam  
Bộ từ góc nhìn văn hóa phong tục” để góp phần làm rõ thêm một cái nhìn,  
một cách tiếp cận về giá trị của thể loại văn học dân gian này.  
2. Lịch sử nghiên cứu  
2.1. Những công trình sưu tầm ca dao Nam Bộ  
Ca dao Nam Bộ có sức hấp dẫn với nhiều nhà nghiên cứu văn hóa –  
văn học, vì vậy, đã có nhiều công trình sưu tầm như:  
Ca dao Đồng Tháp Mười (Đỗ Văn Tân), xuất bản năm 1984, Nxb. Sở  
VH – TT Đồng Tháp; Kiên Giang qua ca dao (Giang Minh Đoán), xuất bản  
năm 1997, Nxb. Tp.HCM; Văn học dân gian Đồng Bằng sông Cửu Long  
(trường Đại học Cần Thơ), xuất bản năm 1997, Nxb. Giáo dục; Ca dao – Dân  
ca Nam kỳ lục tỉnh (Huỳnh Ngọc Trảng), xuất bản năm 1998, Nxb Đồng Nai;  
Văn học dân gian Bạc Liêu (Chu Xuân Diên), xuất bản năm 2011, Nxb. Đại  
học Quốc gia Hà Nội; Văn học dân gian Sóc Trăng (Chu Xuân Diên), xuất  
bản năm 2011, Nxb. Văn hóa – Thông tin; Văn học dân gian Bến Tre  
(Nguyễn Ngọc Quang), xuất bản năm 2015, Nxb. Giáo dục; Văn học dân gian  
An Giang (tập 3) (Nguyễn Ngọc Quang), xuất bản năm 2015, Nxb. Giáo dục.  
Đây là những công trình sưu tầm có đóng góp lớn đến việc lưu giữ “kho báu”  
tinh thần của dân gian. Nguồn tư liệu điền dã phong phú này đã được tác giả  
sắp hệ thống theo chủ đề: tình yêu quê hương, đất nước; tình yêu đôi lứa; tình  
cảm gia đình; các mối quan hệ xã hội khác. Đây là cơ sở ngữ liệu quan trọng  
để chúng tôi chọn lọc những bài ca dao có phản ánh văn hóa phong tục phục  
vụ cho mục đích nghiên cứu.  
3
2.2. Những công trình nghiên cứu ca dao Nam Bộ  
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi không chỉ nghiên cứu những công  
trình về ca dao nói chung mà còn đi vào tìm hiểu công trình nghiên cứu ca  
dao của từng địa phương vùng Nam Bộ.  
Ca dao dân ca Nam Bộ do Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần  
Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị biên soạn, xuất bản 1984, Nxb. TP. Hồ Chí Minh.  
Công trình này gồm hai phần: phần đầu tác giả khái quát những nét chính về  
nội dung và nghệ thuật của ca dao Nam Bộ, phần sau là công trình sưu tầm ca  
dao Nam Bộ. Đây là công trình vừa có ý nghĩa phương pháp luận cho việc  
nghiên cứu tổng thể về ca dao Nam Bộ vừa là thành quả của sự lao động  
nghiêm túc trong quá trình sưu tầm điền dã, tổng hợp ca dao Nam Bộ. Công  
trình của tập thể tác giả này là nguồn tài liệu chính để chúng tôi kế thừa triển  
khai luận văn.  
Tìm hiểu văn hóa Vĩnh Long (1732 – 2000) xuất bản năm 2003, Nxb.  
Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh là đề tài nghiên cứu tìm hiểu quá trình hình thành  
văn hóa tỉnh Vĩnh Long từ năm 1732 đến năm 2000 của Ban tuyên giáo tỉnh  
Vĩnh Long. Nội dung được chia làm hai phần. Phần một giới thiệu khái quát  
đất và người Vĩnh Long. Phần 2, các tác giả đã dành 30 trang để khảo sát thể  
loại ca dao, dân ca Vĩnh Long, chú trọng đến những bài ca dao phản ánh tên  
đất, tên người cùng vẻ đẹp của non sông và thắng tích địa phương. Tác giả  
cho rằng “Những lời thơ trữ tình, đằm thắm, ngọt ngào là những bài học đầu  
đời về tình yêu đất nước và con người” (Nguyễn Chiến Thắng, 2003).  
Miền Nam và văn học dân gian địa phương trong bộ Văn học miền Nam  
lục tỉnh (Tập 1) của Nguyễn Văn Hầu xuất bản năm 2012, Nxb. Trẻ Tp. Hồ  
Chí Minh là một trong các tài liệu quý và hiếm khi nghiên cứu riêng về văn  
học dân gian Nam Bộ. Bức tranh miền Nam từ ngày đầu mở cõi cũng như  
diện mạo của văn học dân gian nơi đây đã được trình bày cô đọng, súc tích  
trong tập sách này. Cùng với các thể loại văn học dân gian, tác giả cung cấp  
4
một số cách nhìn nhận, đánh giá sơ lược về chủ đề, phương pháp, nghệ thuật  
ca dao Nam Bộ. Đây là kiến thức nền tảng, định hướng cho chúng tôi khi  
nghiên cứu và triển khai luận văn.  
Luận văn Thạc sĩ Khảo sát ca dao – dân ca Bến Tre của Đặng Thị Thùy  
Dương – Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh – năm 2009 và Đặc điểm ca dao  
Đồng Tháp của Trần Thị Thúy Hằng – Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh –  
năm 2018 đã góp phần làm rõ điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm nội  
dung, nghệ thuật của ca dao mỗi địa phương. Phần phụ lục của hai luận văn  
có nguồn tư liệu điền dã được tổng hợp, sắp xếp khá công phu. Những công  
trình này đã giúp chúng tôi hiểu thêm những đặc trưng của vùng đất và con  
người kiến tạo nên nền văn hóa Nam Bộ.  
2.3. Những công trình nghiên cứu ca dao Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa  
Đào Văn Hội trong Phong tục miền Nam qua mấy vần ca dao đã phân  
chia ca dao thành sáu mục: tả cảnh, tu thân, tình gia tộc, phong tục thôn quê,  
ngoài xã hội và những câu hát vặt. Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu  
phong tục miền Nam trong ca dao. Tác giả cho rằng ca dao là “tấm gương  
trong sáng phản ánh cả phong tục của giống nòi”, “là tiếng gọi của dân quê,  
linh hồn của dân tộc, không có thứ văn chương nào hơn được” (Đào Văn  
Hội, 1961).  
Năm 2004, Lê Anh Dũng trong bài viết “Văn hóa dân gian phản ánh  
tín ngưỡng tổng hợp của người Việt” đăng trên trang web  
http://www.nhipcaugiaoly.com đã trình bày một cách khái quát về dấu ấn của  
Lão giáo, Nho giáo và Phật giáo cùng tín ngưỡng thờ Trời của người Việt đã  
đi vào kho tàng văn học dân gian Việt Nam trong đó có ca dao. Điều đó cho  
thấy tinh thần bình đẳng trước mọi tôn giáo và khả năng tiếp biến, chuyển hóa  
Tam giáo cho phù hợp với văn hóa bản địa thành tín ngưỡng tổng hợp, tạo  
thành nét văn hóa truyền thống của người Việt.  
5
Trên website: http://www.vusta.vn/vi/news/, Phan Thị Phượng (2010)  
trong bài viết “Bàn về một khía cạnh tâm linh trong ca dao người Việt” đã  
cung cấp một cách khái quát về những giá trị tâm linh thiết thực được in dấu  
trong ca dao người Việt: “Ca dao cũng là một kho tàng lưu giữ những tín  
ngưỡng của người Việt từ xa xưa rất phong phú, không những thế nó còn là  
pho sách khái quát được cả một vấn đề lớn của xã hội”. Trên cơ sở đó, tác giả  
đã làm rõ tín ngưỡng thờ cúng trong ca dao người Việt.  
Trong luận văn thạc sĩ Văn hóa người Việt qua ca dao Nam Bộ –  
trường Đại học Cần Thơ – năm 2010, Cao Minh Liễu đã phân tích biểu hiện  
của văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần trong ca dao Nam Bộ cụ thể qua các  
phương diện: sinh hoạt đi lại – phương tiện giao thông; sinh hoạt lao động sản  
xuất; sinh hoạt ăn, mặc, ở; phong tục tập quán; tín ngưỡng; tôn giáo; lễ hội và  
diễn xướng dân gian; tính cách người Nam Bộ. Đó là những kiến thức quí báu  
để chúng tôi kế thừa khi triển khai luận văn.  
Qua bài viết Sự hợp dung văn hóa trong ca dao Việt Nam in trong tạp  
chí khoa học ĐHSP TP. Hồ Chí Minh số 32 năm 2011, Đoàn Thị Thu Vân đã  
phân tích sự linh hoạt và dung hòa trong văn hóa ứng xử của người Việt được  
thể hiện qua ca dao. Từ đó, tác giả nhấn mạnh: “Ca dao Việt Nam đã thể hiện  
một tinh thần hợp dung văn hóa rộng rãi và cởi mở”.  
Trong bài viết “Đạo trời và tín ngưỡng dân gian qua ca dao” in trên  
tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 360 tháng 6 năm 2014, tác giả Nguyễn Thị  
Kim Ngân đã khẳng định ca dao phản ánh một cõi thiêng liêng, là nơi tín  
ngưỡng dân gian tồn tại và thể hiện bộ mặt sinh hoạt văn hóa của người Việt.  
Tác giả cho rằng hình ảnh ông Trời trong ca dao là một đấng thiêng liêng mà  
người dân tôn kính và cầu xin và khẳng định rằng: “Ca dao không phải chỉ là  
giá trị văn hóa trực tiếp nảy sinh từ những nghi thức tín ngưỡng mà khúc hát  
tình gắn với đời sống sản xuất và sinh hoạt của người nông dân”.  
6
Nguyễn Thanh Trang trong luận văn Văn hóa ứng xử về tình yêu và hôn  
nhân trong ca dao người Việt – trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn  
– năm 2014 đã tìm hiểu văn hóa ứng xử về tình yêu và hôn nhân trong ca dao  
Việt. Từ đó, tác giả khẳng định sự bền vững của bản sắc văn hóa dân tộc và  
đưa ra cái nhìn đúng đắn về tình yêu, hôn nhân trong cuộc sống hiện đại.  
Văn hóa dân gian về tình yêu đôi lứa trong ca dao người Việt của  
Nguyễn Nghĩa Dân xuất bản năm 2015, Nxb. Khoa học Xã hội. Đây là công  
trình nghiên cứu, sưu tầm ca dao Việt Nam. Ở phần đầu, sau khi đưa ra các  
khái niệm văn hóa, văn hóa dân tộc, văn hóa dân gian, định nghĩa ca dao, dân  
ca, ca dao trữ tình, tác giả đi sâu vào tìm hiểu vấn đề văn hóa dân gian về tình  
yêu lứa đôi được biểu hiện trong ca dao người Việt. Đặc biệt, tác giả còn so  
sánh để tìm hiểu sự khác biệt của văn hóa dân gian về tình yêu, hôn nhân và  
vợ chồng trong hai vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long  
và rút ra kết luận: “Ở Nam Bộ, tinh thần dân chủ, bình đẳng trong tự do yêu  
đương, hôn nhân, vợ chồng giữa đôi trai gái rõ nét hơn ở Bắc Bộ và Trung  
Bộ” (Nguyễn Nghĩa Dân, 2015). Ở phần sau, tác giả đã tuyển chọn và xếp  
theo vần chữ cái tiếng Việt. Điểm đặc biệt ở phần tuyển chọn có chú thích đầy  
đủ những điển tích, điển cố hoặc từ ngữ khó hiểu, đồng thời đưa ra những  
bình luận sắc sảo. Đây là công trình bổ ích, định hướng cho chúng tôi tìm  
hiểu phong tục hôn nhân được biểu hiện qua ca dao Nam Bộ.  
Năm 2015, Đoàn Thị Thùy Hương trong luận văn thạc sĩ Yếu tố sông  
nước trong văn học dân gian Nam Bộ (trường hợp ca dao) – trường Đại học  
Trà Vinh – đã đưa ra cái nhìn khái quát về biểu hiện của văn hóa sông nước  
trong đời sống vật chất và tinh thần của người Nam Bộ qua ca dao.  
Trong luận văn Ứng xử của vợ chồng người Việt qua ca dao tục ngữ  
Nam Bộ – trường Đại học Trà Vinh – năm 2015, Lê Kim Chiêu đã nghiên cứu  
văn hóa ứng xử trong gia đình người Việt qua ca dao, tục ngữ Nam Bộ. Việc  
7
khảo sát giúp chúng tôi thấy được tính chất dân chủ, bình đẳng, khoan hòa  
trong cách ứng xử của con người đất phương Nam.  
Tín ngưỡng dân gian của người Việt xuất bản năm 2017 của nhà xuất  
bản Văn hóa – Nghệ thuật có bài viết “Tín ngưỡng thờ ông Thiên và tính cách  
người Việt” (khảo sát qua ca dao – dân ca, tục ngữ miền Tây) của Trần Minh  
Thương. Bài viết đã khẳng định sức sống mãnh liệt của niềm tin thiêng liêng  
này trong đời sống tinh thần của người Nam Bộ xưa.  
Qua những công trình nghiên cứu trên, chúng tôi thấy rằng các tác giả  
đã tìm hiểu cả chiều rộng và chiều sâu, có cái nhìn hệ thống về văn hóa được  
biểu hiện trong ca dao. Tuy nhiên vấn đề văn hóa phong tục của ca dao vẫn  
còn nhiều khoảng trống. Cho nên khi triển khai đề tài “Ca dao Nam Bộ từ góc  
nhìn văn hóa phong tục”, chúng tôi vừa kế thừa kiến thức quý giá của người  
đi trước vừa tiếp tục khơi sâu tìm hiểu giá trị của văn hóa phong tục trong ca  
dao người Việt ở Nam Bộ.  
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
3.1. Đối tượng nghiên cứu  
Về ca dao Nam Bộ có rất nhiều vấn đề đáng quan tâm, tuy nhiên, trong  
giới hạn về thời gian nghiên cứu, người viết chỉ tiến hành khảo sát, phân tích  
biểu hiện văn hóa phong tục trong ca dao của người Việt ở Nam Bộ.  
3.2. Phạm vi nghiên cứu  
Chúng tôi tập trung nghiên cứu ca dao Nam Bộ trong các tuyển tập:  
Ca dao dân ca Nam Bộ do Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần  
Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị biên soạn, xuất bản 1984, Nxb. TP. Hồ Chí Minh.  
Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường do Lê Trí Viễn biên soạn, xuất bản  
năm 1994, Nxb. Giáo dục.  
Văn học dân gian Đồng Bằng sông Cửu Long của trường Đại học Cần  
Thơ, xuất bản năm 1997.  
8
Ca dao, hò, vè Vĩnh Long do Nguyễn Chiến Thắng (chủ biên), xuất bản  
năm 2005, Nxb. Trẻ.  
Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục Tỉnh do Huỳnh Ngọc Trảng biên soạn, xuất  
bản năm 2006, Nxb. Tổng hợp Đồng Nai.  
Văn học dân gian Bạc Liêu do Chu Xuân Diên (chủ biên), xuất bản năm  
2011, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.  
Văn học dân gian Sóc Trăng do Chu Xuân Diên (chủ biên), xuất bản  
năm 2011, Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.  
Văn học Miền Nam Lục Tỉnh tập 1 do Nguyễn Văn Hầu biên soạn, xuất  
bản năm 2012, Nxb Trẻ.  
Văn học dân gian Bến Tre do Nguyễn Ngọc Quang (chủ biên), xuất bản  
năm 2015, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.  
Văn học dân gian An Giang (tập 3) do Nguyễn Ngọc Quang (chủ biên),  
xuất bản năm 2015, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.  
Luận văn Khảo sát ca dao – dân ca Bến Tre của Đặng Thị Thùy Dương,  
năm 2009, trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.  
4. Đóng góp của đề tài  
Phần lớn các công trình nghiên cứu ca dao chủ yếu được tiếp cận từ  
phương diện ngôn ngữ học, thi pháp học, văn hóa học nhưng chưa có nhiều  
công trình khám phá vẻ đẹp của văn hóa phong tục ẩn tàng trong thể loại này.  
Vì thế, xuất phát từ mục đích nghiên cứu “Ca dao Nam Bộ từ góc nhìn văn  
hóa phong tục”, chúng tôi đi sâu phân tích các phương diện như phong tục  
gắn với vòng đời con người, phong tục gắn với tín ngưỡng. Hy vọng những  
đóng góp của luận văn sẽ góp phần làm rõ hơn nét văn hóa phong tục độc đáo  
trong đời sống của đất và người Nam Bộ qua thể loại này. Từ đó, khẳng định  
giá trị của ca dao Nam Bộ trong diện mạo chung của văn học dân gian Việt  
Nam.  
9
5. Phương pháp nghiên cứu  
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên  
cứu sau đây:  
Phương pháp hệ thống: đặt ca dao Nam Bộ trong hệ thống thể loại  
văn học dân gian Việt Nam nói chung để phát hiện điểm mới, nét đặc sắc của  
thể loại này. Trên cơ sở đó, chúng tôi có cái nhìn hệ thống, toàn diện và tìm ra  
được nhiều điều thú vị liên quan đến truyền thống văn hóa dân tộc.  
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: sử dụng kết quả nghiên cứu của  
các ngành văn hóa học, dân tộc học, nhân học văn hóa… để khám phá các  
phong tục ẩn tàng trong ca dao. Từ đó, cảm nhận sâu sắc hơn đời sống tinh  
thần dân gian.  
Phương pháp loại hình: ca dao là một thể loại có ở nhiều vùng miền  
trong hệ thống tổng thể các thể loại văn học dân gian. Khi nghiên cứu ca dao  
Nam Bộ từ góc nhìn văn hóa phong tục, người viết chú ý đến dấu ấn văn hóa  
vùng miền trong ca dao để tìm ra điểm gặp gỡ cũng như khác biệt so với các  
thể loại văn học dân gian khác như tục ngữ, truyện dân gian.  
Phương pháp thống kê: sử dụng kết quả thống kê nhằm có số liệu  
khách quan, chính xác, tạo lập nên cơ sở nghiên cứu ban đầu về ca dao Nam  
Bộ để có những kết luận khoa học, tránh sự võ đoán.  
Bên cạnh đó, chúng tôi vận dụng thao tác phân tích, bình luận, tổng  
hợp để minh họa cho những lí lẽ, diễn giải, lập luận của cá nhân trên cơ sở  
khai thác phân tích các dẫn chứng trích từ những công trình sưu tầm, biên  
soạn ca dao Nam Bộ.  
6. Cấu trúc luận văn  
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần nội dung chính  
của luận văn gồm ba chương:  
Chương 1. Ca dao Nam Bộ từ góc nhìn văn hóa phong tục – những vấn  
đề chung.  
10  
Trong chương 1, luận văn đề cập một số vấn đề có tính chất khái quát  
về vùng văn hóa phong tục Nam Bộ và ca dao. Sau khi giới thiệu về lịch sử  
hình thành mảnh đất Nam Bộ, những nét tính cách đặc trưng của con người  
Nam Bộ, chúng tôi tổng thuật các cách giới thuyết về văn hóa phong tục, khái  
niệm ca dao Việt Nam và đưa ra kết luận vài nét về cách tiếp cận ca dao  
người Việt ở Nam Bộ. Đồng thời, chúng tôi cũng điểm qua nguồn tư liệu để  
khảo sát, phục vụ nghiên cứu.  
Chương 2. Ca dao Nam Bộ từ góc nhìn phong tục gắn với vòng đời con người  
Chương này tập trung khai thác ca dao Nam Bộ ở các phương diện phong  
tục vòng đời con người như hôn nhân và tang ma. Thông qua việc thống kê,  
chọn lựa, khảo sát nguồn tư liệu, chúng tôi có thể rút ra kết luận bước đầu về  
dấu ấn phong tục gắn với vòng đời con người trong ca dao Nam Bộ.  
Chương 3. Ca dao Nam Bộ từ góc nhìn phong tục gắn với tín ngưỡng  
Nhiệm vụ của chương này là khảo sát ca dao, từ đó mô tả, phân tích, phát  
hiện vẻ đẹp đời sống tín ngưỡng của người Việt qua thể loại văn học này trên  
các góc nhìn phong tục thờ cúng đa thần và phong tục thờ cúng người thân  
trong gia đình.  
Ngoài ra, luận văn còn có phần phụ lục tổng hợp ca dao Nam Bộ từ các  
nguồn tư liệu để khảo sát phân tích nhằm có cái nhìn hệ thống, sâu sắc vấn đề  
mà đề tài nghiên cứu đặt ra.  
11  
Chương 1  
CA DAO NAM BỘ TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA PHONG TỤC  
– NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG  
1.1. Sơ lược về đất và người Nam Bộ  
1.1.1. Lịch sử hình thành đất Nam Bộ  
Nam Bộ là nơi lưu dấu những bước chân cuối cùng của tiền nhân trong  
dặm trường bôn ba, mở rộng và xác lập lãnh thổ của người Việt về phía nam  
của tổ quốc. Nam Bộ là vùng đất thiêng liêng, có vị trí quan trọng trong quá  
trình phát triển của đất nước ta. Một khu vực có tiềm năng về kinh tế, vững về  
chính trị cũng như thấm đượm tình yêu thương giữa những người con miền  
sông nước. Nhưng trước khi Nam Bộ hội tụ lại để dệt nên bức họa đồ Việt  
Nam hình chữ S, vùng đất này đã trải qua ba thời kỳ lịch sử lớn: Vùng đất  
Nam Bộ dưới thời Phù Nam; Vùng đất Nam Bộ dưới thời Chân Lạp và Vùng  
đất Nam Bộ của Việt Nam.  
Các nhà khoa học đã khẳng định rằng nước Phù Nam đã xuất hiện vào  
khoảng đầu Công nguyên, với trung tâm là vùng đất Nam Bộ Việt Nam hiện  
nay. Trong thời kì hưng thịnh, nước Phù Nam phát triển thành một đế chế  
gồm: toàn bộ phần phía nam bán đảo Đông Dương (Nam Bộ Việt Nam,  
Campuchia, một phần nam Lào), một phần Thái Lan và bán đảo Malacca,  
trung tâm vẫn là vùng Nam Bộ Việt Nam – một khu vực phát triển nhanh vào  
lúc bấy giờ, cư dân chủ thể này là nhóm người Mã Lai – Đa Đảo ven biển.  
Những ngư dân với truyền thống về hàng hải cùng nguồn kinh nghiệm tích  
lũy lâu dài và tài nghệ trong làm thủy lợi, khai phá và canh tác ở đồng bằng  
trũng thấp đã tạo điều kiện thuận lợi cho thương nghiệp phát triển cải thiện  
cuộc sống ổn định.  
Đến giai đoạn vào cuối thế kỷ VI, Đế chế Phù Nam hưng thịnh đã bắt  
đầu quá trình suy yếu. Lợi dụng cơ hội này, một thuộc quốc của Phù Nam –  
   
12  
Chân Lạp, do người Khmer xây dựng, vào đầu thế kỷ VII đã đánh chiếm một  
phần lãnh thổ của Phù Nam ở vùng hạ lưu sông MeKong – vùng Nam Bộ  
Việt Nam. Đây một bước ngoặt mới trong lịch sử hình thành vùng đất Nam  
Bộ. Vùng đất Nam Bộ sau 627 năm từng là vùng đất thuộc Phù Nam, nay lại  
bị phụ thuộc vào Chân Lạp và được đổi tên thành Thuỷ Chân Lạp để phân  
biệt với vùng đất Lục Chân Lạp – vùng đất gốc của nước Chân Lạp.  
Với truyền thống quen khai thác các vùng đất cao nhưng với dân số ít,  
người Khmer khi đó không có khả năng tổ chức khai thác vùng đồng bằng  
rộng lớn mới bồi lấp, còn ngập nước và sình lầy. Song song đó, việc khai  
khẩn đất đai trên vùng đất gốc – Lục Chân Lạp đang đòi hỏi rất nhiều thời  
gian và sức lực. Việc cai quản vùng đất Lục Chân Lạp trên thực tế gặp rất  
nhiều khó khăn. Càng khó khăn hơn khi quân đội nước Srivijaya2 của người  
Java liên tục tấn công và lấn chiếm Thủy Chân Lạp vào nửa sau thế kỷ VIII.  
Chính điều này đã làm cho cả vương quốc Chân Lạp gần như lệ thuộc hoàn  
toàn vào Srivijaya2.  
Khó khăn chồng chất khó khăn, khi mà tình trạng chiến tranh giữa  
Chân Lạp và Chămpa diễn ra thường xuyên làm cho việc cai quản và khai phá  
vùng Thủy Chân Lạp lại càng gặp nhiều trở ngại. Chân Lạp lúc này chỉ dồn  
sức phát triển ở khu vực Biển Hồ, trung lưu sông Mekong và mở rộng ảnh  
hưởng sang phía Tây. Từ thế kỷ IX đến cuối thế kỷ XI, vùng đất Chân Lạp  
cường thịnh đã mở rộng lãnh thổ ra tận Nam Lào. Trong khi đó, dấu ấn Chân  
Lạp trên vùng đất phía Nam không nhiều và ảnh hưởng văn minh Angkor ở  
vùng này cũng không đậm nét.  
Cho đến thế kỷ XIII, cư dân ở vùng đất Nam Bộ còn thưa thớt. Chu Đạt  
Quan, một người có dịp đến vùng đất Nam Bộ đã mô tả vùng đất này như sau:  
“Hầu hết là rừng thấp cây rậm. Sông dài cảng rộng, kéo dài mấy trăm dặm cổ  
thụ rậm rạp, mây leo um tùm, tiếng chim muông chen lẫn nhau ở trong đó.  
Đến nửa cảng mới thấy ruộng đồng rộng rãi, tuyệt không có một tấc cây.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 190 trang yennguyen 18800 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Ca dao Nam Bộ từ góc nhìn văn hóa phong tục", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_ca_dao_nam_bo_tu_goc_nhin_van_hoa_phong_tuc.pdf