Luận văn Nghiên cứu chiến lược bảo trì thông tin định tuyến trong mạng AD HOC phân cụm

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG  
Hoàng Xuân Giang  
NGHIÊN CỨU CHIẾN LƯỢC BẢO TRÌ THÔNG TIN  
ĐỊNH TUYẾN TRONG MẠNG AD HOC PHÂN CỤM  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÁY TÍNH  
Thái Nguyên - 2020  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG  
Hoàng Xuân Giang  
NGHIÊN CỨU CHIẾN LƯỢC BẢO TRÌ THÔNG TIN  
ĐỊNH TUYẾN TRONG MẠNG AD HOC PHÂN CỤM  
Ngành: Khoa học máy tính  
Mã số: 8480101  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÁY TÍNH  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC  
PGS.TS. NGUYỄN VĂN TAM  
Thái Nguyên - 2020  
LỜI CẢM ƠN  
Sau thời gian học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Công nghệ thông  
tin và Truyền thông – Đại học Thái Nguyên, bằng sự biết ơn và kính trọng, tôi  
xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo và Khoa  
Công nghệ thông tin thuộc Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền  
thông – Đại học Thái Nguyên cùng các thầy, cô giáo đã nhiệt tình hướng dẫn,  
giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học  
tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này.  
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. TS. Nguyễn Văn  
Tam, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện  
đề tài.  
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè cùng đồng nghiệp đã tạo điều  
kiện sát, nghiên cứu để hoàn thành đề tài này.  
Tuy nhiên điều kiện về năng lực bản thân còn hạn chế, luận văn chắc  
chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được sự đóng góp ý  
kiến của các thầy cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp để luận văn của tôi được hoàn  
thiện hơn.  
Xin trân trọng cảm ơn!  
Thái Nguyên, ngày … tháng …. năm 2020  
Học viên  
Hoàng Xuân Giang  
MỤC LỤC  
1
MỞ ĐẦU  
Được hình thành bởi các kết nối tạm thời giữa các nút mạng di động không  
có sự hỗ trợ của cơ sở hạ tầng mạng cố định, mạng ad hoc di động (MANET)  
có nhiều những đặc điểm khác biệt so với mạng không dây và có dây truyền  
thống làm nảy sinh nhiều thách thức và các hướng nghiên cứu khác nhau: vấn  
đề định tuyến hiệu quả khi topo mạng thay đổi, đảm bảo chất lượng dịch vụ  
theo yêu cầu từ chương trình ứng dụng, đảm bảo an ninh mạng, tiết kiệm năng  
lượng, khả năng tự tổ chức, chuyển đổi các dịch vụ từ mô hình client-server và  
đảm bảo hiệu năng kích thước mạng thay đổi. Kết quả của nghiên cứu phân  
loại và đánh giá về số lượng các nghiên cứu theo các hướng khác nhau đối với  
mạng MANET trong thời gian gần đây cho thấy, hướng nghiên cứu về định  
tuyến trong mạng MANET đứng đầu về số lượng các nghiên cứu đã được công  
bố. Như vậy, có thể khẳng định, định tuyến trong mạng MANET đã và đang là  
một vấn đề rất cần được quan tâm giải quyết trong những nghiên cứu cải tiến  
hiệu năng mạng MANET.  
Phân cụm là một chiến lược hiệu quả để giải quyết tính động và khả năng  
mở rộng của mạng ad hoc di động có quy mô lớn. Các giao thức định tuyến  
theo cụm có khả năng mở rộng tốt hơn các giao thức định tuyến phẳng vì kỹ  
thuật phân cụm làm giảm kích thước của bảng định tuyến và chi phí cần thiết  
để duy trì thông tin định tuyến. Phân cụm có thể làm tăng tính sẵn sàng của  
thông tin trong mạng, chẳng hạn như vị trí của các nút di động, bằng cách nhân  
bản thông tin tới các nút trong các cụm khác nhau. Khi triển khai truyền thông  
quảng bá hoặc truyền thông đa điểm, kỹ thuật phân cụm cho phép lan truyền  
thông tin một cách có chọn lọc để giảm các gói tin quảng bá dư thừa. Hơn nữa,  
việc phân cụm sẽ tạo hỗ trợ cho việc quản lý tài nguyên một cách hiệu quả bằng  
 
2
cách kiểm soát được việc chia sẻ và tiết kiệm tài nguyên nhằm đáp ứng các yêu  
cầu QoS của ứng dụng.  
Đã có những nghiên cứu đề xuất các kỹ thuật phân cụm trong mạng ad  
hoc, chẳng hạn như sử dụng tập quản lý cụm, phân cụm phân tán, phân cụm  
trên cơ sở tín hiệu và trên cơ sở vị trí. Các nghiên cứu này tập trung vào việc  
xây dựng các cụm để quản lý sự di động của nút hoặc tối ưu hóa sức mạnh/chi  
phí của các nút quản lý cụm. Trong đề tài này, mạng ad hoc được giả định là  
đã được phân cụm. Đề tài tập trung nghiên cứu các kỹ thuật và chiến lược khác  
nhau để triển khai một tầng con phía trên thực hiện nhiệm vụ bảo trì và quản lý  
trạng thái động của các cụm, bao gồm trạng thái các nút và dữ liệu/tệp sẵn sàng,  
kết nối mạng, băng thông, khả năng xử lý và những thông tin khác. Ý tưởng  
của các đề xuất được nghiên cứu trong đề tài là nhằm ẩn đi tính động của các  
cụm để cải thiện hiệu năng của các ứng dụng trong mạng MANET phân cụm.  
Duy trì trạng thái của các cụm liên quan đến hai hoạt động chính: thu thập  
và phân phối thông tin. Trong giai đoạn thu thập, các nút mạng sẽ thu thập  
thông tin trạng thái cục bộ trong cụm và trong giai đoạn phân phối, thông tin  
được chia sẻ với các cụm khác. Vấn đề bảo trì là một thách thức trong mạng  
MANET vì tính di động của các nút, trạng thái của các cụm có thể thường  
xuyên thay đổi dẫn đến tăng chi phí thực hiện các hoạt động thu thập và phân  
phối. Một chiến lược bảo trì tốt sẽ cân bằng giữa khối lượng các công việc và  
mức tiêu thụ năng lượng của các nút, tối thiểu hoá chi phí và theo dõi các thay  
đổi một cách kịp thời và chính xác.  
Để quản lý bất kỳ thông tin trạng thái nào, một giao thức duy trì cần thực  
hiện các hoạt động thu thập và phân phối. Trong đề tài này, để không mất tính  
tổng quát, kết nối logic giữa các cụm được xem là thông tin trạng thái. Hai cụm  
là có kết nối nếu chúng liền kề nhau và có thể định tuyến trực tiếp các thông  
3
điệp với nhau qua một nút biên. Có thể mô hình hóa các cụm và kết nối giữa  
chúng như là một lớp bao phủ trên mạng MANET ban đầu, với mỗi cụm là một  
đỉnh và mỗi kết nối của chúng là một cạnh.  
Một cách tiếp cận đơn giản để giải quyết vấn đề duy trì trạng thái trong  
mạng MANET phân cụm là giao nhiệm vụ duy trì cho các nút quản lý cụm.  
Điều này liên quan đến việc duy trì thông tin của các cụm lân cận và chia sẻ  
thông tin với các đầu quản lý cụm khác. Các nút quản lý cụm thường có nhiệm  
vụ xử lý các yêu cầu định tuyến liên cụm cho các nút trong cụm của mình. Các  
nút khác trong cụm chỉ cần duy trì đường tới nút quản lý của chúng.  
Mục đích của đề tài này là nghiên cứu một số chiến lược bảo trì thông tin  
định tuyến trong mạng MANET phân cụm nhằm nâng cao hiệu quả định tuyến.  
Các chiến lược này cũng được so sánh, đánh giá về mức độ hiệu quả so với một  
số chiến lược đã đề xuất khác bằng cách sử dụng phần mềm mô phỏng.  
Cấu trúc luận văn được trình bày như sau: Chương 1 trình bày tổng quan  
về mạng MANET và vấn đề định tuyến trong mạng MANET phân cụm. Một  
số chiến lược bảo trì thông tin định tuyến trong mạng MANET phân cụm được  
trình bày và phân tích chi tiết trong chương 2. Kết quả của việc cài đặt, mô  
phỏng, so sánh đánh giá hiệu hiệu quả của một số chiến lược bảo trì thông tin  
định tuyến trong mạng MANET phân cụm được trình bày trong Chương 3. Nội  
dung tổng kết và hướng phát triển của đề tài được đưa ra trong phần kết luận.  
4
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỊNH TUYẾN TRONG  
MẠNG MANET PHÂN CỤM  
1.1. Tổng quan về mạng MANET  
1.1.1. Khái niệm mạng MANET  
Mạng MANET (Mobile Ad hoc Network) [11] là một tập các nút không  
dây di động có thể trao đổi dữ liệu một cách linh động mà không cần sự hỗ trợ  
của trạm cơ sở cố định hoặc mạng có dây. Mỗi nút di động có một phạm vi  
truyền giới hạn, do đó chúng cần sự trợ giúp của các nút láng giềng để chuyển  
tiếp các gói dữ liệu. Hình 1.1 minh họa một mạng MANET. Trong ví dụ này,  
các gói tin từ nút nguồn là một máy tính cần chuyển tới một nút đích là một  
điện thoại thông minh không nằm trong phạm vi truyền của nút nguồn. Vì vậy,  
cần có sự trợ giúp của các nút trung gian để chuyển tiếp gói tin từ nút nguồn  
tới nút đích. Để thực hiện được công việc này, các nút mạng phải sử dụng giao  
thức định tuyến phù hợp cho mạng MANET.  
Hình 1.1. Một ví dụ của mạng MANET  
Thuật ngữ “Ad hoc” áp dụng cho mạng không dây mô tả một mạng không  
có cơ sở hạ tầng cố định, trong đó hình trạng mạng được tạo thành bởi chính  
các nút mạng. Chế độ “Ad hoc” của chuẩn IEEE 802.11 hoạt động theo mô  
     
5
hình này, mặc dù nó chỉ hỗ trợ để thiết lập một mạng đơn chặng. Các mạng di  
động không dây kiểu không cấu trúc (MANET) đã mở rộng khái niệm “Ad  
hoc” đa chặng theo nghĩa: một nút mạng có thể định tuyến và chuyển tiếp một  
gói tin nó nhận được từ một nút mạng khác. Nói cách khác, con đường chuyển  
tiếp gói tin từ nút nguồn tới nút đích có thể chứa các nút trung gian khác. Các  
nút trung gian sẽ đọc thông tin trong phần header của các gói tin dữ liệu và  
chuyển tiếp chúng tới chặng kế tiếp trên một con đường đã được hình thành.  
Các nút trong mạng MANET thông thường sẽ kết nối với nhau trong một  
khoảng thời gian để trao đổi thông tin. Trong khi trao đổi thông tin, các nút này  
vẫn có thể di chuyển, do đó, mạng này phải đáp ứng được yêu cầu truyền dữ  
liệu trong khi hình trạng mạng có thể thay đổi liên tục. Các nút mạng phải có  
cơ chế tự tổ chức thành một mạng để thiết lập các đường truyền dữ liệu mà  
không cần sự hỗ trợ từ bên ngoài. Trong mô hình này, mỗi nút mạng có thể  
đóng vai trò là một nút đầu cuối để chạy các chương trình ứng dụng của  
người sử dụng hoặc là một bộ định tuyến để chuyển tiếp các gói tin cho các  
nút mạng khác.  
1.1.2. Đặc điểm của mạng MANET  
Do MANET là một mạng không dây hoạt động không cần sự hỗ trợ của  
hạ tầng mạng cơ sở trên cơ sở truyền thông đa chặng giữa các thiết bị di động  
vừa đóng vai trò là thiết bị đầu cuối, vừa đóng vai trò là bộ định tuyến nên mạng  
MANET còn có một số đặc điểm nổi bật sau:  
Cấu trúc động: Do tính chất di chuyển ngẫu nhiên của các nút mạng nên cấu  
trúc của loại mạng này cũng thường xuyên thay đổi một cách ngẫu nhiên ở  
những thời điểm không xác định trước. Trong khi thay đổi, cấu trúc của  
mạng MANET có thêm hoặc mất đi các kết nối hai chiều hoặc kết nối một  
chiều.  
 
6
Chất lượng liên kết hạn chế: Các liên kết không dây thường có băng thông  
nhỏ hơn so với các liên kết có dây. Ngoài ra, do ảnh hưởng của cơ chế đa  
truy cập, vấn đề suy giảm tín hiệu, nhiễu và các yếu tố khác, băng thông  
thực của các liên kết không dây thường thấp hơn nhiều so với tốc độ truyền  
tối đa theo lý thuyết của môi trường truyền không dây.  
Các nút mạng có tài nguyên hạn chế: Mỗi nút di động trong mạng MANET  
có thể là một bộ cảm biến, một điện thoại thông minh hoặc một máy tính  
xách tay. Thông thường các thiết bị này có tài nguyên hạn chế so với các  
máy tính trong mạng có dây và không dây truyền thống về tốc độ xử lý,  
dung lượng bộ nhớ và năng lượng nguồn pin nuôi sống hoạt động của nút.  
Độ bảo mật thấp ở mức độ vật lý: Mạng không dây di động thường chịu tác  
động về mặt vật lý từ các nguồn gây nguy hại về an ninh nhiều hơn so với  
mạng có dây. Về khía cạnh vật lý, các kỹ thuật gây mất an ninh và bảo mật  
trong mạng như nghe lén, giả mạo và tấn công từ chối dịch vụ thường dễ  
triển khai trong mạng MANET hơn là trong mạng có dây truyền thống.  
Có thể thấy những đặc điểm này là các yếu tố ảnh hưởng rất nhiều đến  
hiệu năng của mạng MANET. Để có thể triển khai được mạng MANET trong  
thực tế, các thiết kế mạng MANET phải giải quyết được những thách thức sinh  
ra do những đặc điểm đã nêu trên của mạng MANET. Những thách thức này  
gồm các vấn đề kỹ thuật như khả năng truyền dữ liệu và định tuyến hiệu quả  
khi kích thước mạng thay đổi; đảm bảo chất lượng dịch vụ (QoS) cho các  
chương trình ứng dụng; cơ chế chuyển đổi một số dịch vụ từ mô hình client-  
server; tiết kiệm năng lượng pin để kéo dài thời gian hoạt động của các nút  
mạng riêng lẻ và của toàn mạng; đảm bảo an ninh mạng; khả năng hợp tác giữa  
các nút mạng và khả năng tự tổ chức của mạng;  
7
1.1.3. Ứng dụng của mạng MANET  
Ngày nay, mạng MANET có nhiều những ứng dụng trong đời sống, kinh  
tế, xã hội của con người. Mô hình mạng này phù hợp đối với những tình huống  
cần triển khai hệ thống mạng một cách nhanh chóng, linh động và thường xuyên  
có sự biến đổi trong cấu trúc mạng. Ngày nay, mạng MANET được ứng dụng  
trong rất nhiều lĩnh vực từ các ứng dụng trong thương mại tới các ứng dụng  
trong các hoạt động quân sự, ứng dụng trong các hoạt động khẩn cấp, ứng dụng  
trong gia đình, văn phòng và giáo dục, mạng giao thông và mạng cảm biến.  
Đối với các ứng dụng của mạng MANET trong thương mại, những người  
dùng có thể chia sẻ dữ liệu giữa các thiết bị di động trong một cuộc họp hay hội  
thảo mà không cần sự hỗ trợ của một cơ sở hạ tầng mạng cố định. Các máy tính  
của những cá nhân có thể kết nối với nhau để tạo thành một mạng tạm thời phục  
vụ cho các ứng dụng truyền thông dữ liệu trong một nhóm những người dùng  
mà không cần sự hiện diện của các bộ thu phát tập trung. Kết nối Internet từ  
một thiết bị của một người dùng cũng có thể được chia sẻ tới các thiết bị của  
những người dùng khác thông qua mạng MANET.  
Ứng dụng mạng MANET trông quân đội là một trong những ý tưởng  
được đưa ra ngay từ khi mạng MANET được phát triển. Trong mô hình chiến  
đấu của quân đội trên chiến trường không có sự hỗ trợ về hạ tầng mạng cố định,  
mỗi người lính hoặc một phương tiện quân sự như xe tăng, máy bay, tàu chiến,  
tàu thủy đều có thể được kết nối và trao đổi thông tin tạm thời với nhau hoặc  
với trạm chỉ huy một cách linh động thông qua mạng MANET được hình thành  
bởi kết nối giữa các thiết bị di động truyền thông không dây được gắn vào các  
phương tiện quân sự hay những người lính tham gia vào cuộc chiến.  
Tại các vùng bị thiên tai, thảm họa, có thể tất cả các phương tiện và hạ  
tầng truyền thông được xây dựng trước đó đều bị phá hủy hoàn toàn. Mỗi chiếc  
 
8
xe của cảnh sát, cứu hỏa, cứu thương,… có thể được trang bị các thiết bị truyền  
nhận không dây để trở thành một thiết bị đầu cuối di động và là một phần của  
mạng MANET. Mỗi nhân viên cứu hộ cũng có thể cũng mang theo một thiết bị  
đầu cuối di động. Các thiết bị đầu cuối này đều liên kết với nhau, hình thành  
nên một mạng MANET tạm thời nhằm trao đổi thông tin. Cấu hình mạng thay  
đổi theo những thời điểm khác nhau. Ngoài ra, các thiết bị đầu cuối di động  
không chỉ cung cấp chức năng gửi và nhận thông tin mà còn có thể chuyển tiếp  
thông tin như vai trò như các bộ định tuyến.  
Mỗi thiết bị thông minh trong gia đình, các điên thoại di động thông minh  
và máy tính của những người sử dụng trong văn phòng, trong môi trường  
trường học, các lớp học có thể đóng vai trò như một nút mạng trong một mạng  
MANET được hình thành tạm thời mà không cần sự hỗ trợ của hạ tầng mạng  
cố định nhằm phục vụ cho các ứng dụng chia sẻ thông tin, truyền dữ liệu  
multimedia, quản lý ngôi nhà thông minh, quản lý lớp học thông minh,…  
Trong vấn đề quản lý và hỗ trợ giao thông, mỗi phương tiện giao thông  
là một nút mạng di động trong mạng MANET được hình thành tạm thời trên  
một khu vực địa lý nhằm hỗ trợ trao đổi và quản lý các thông tin về tình trạng  
giao thông, hỗ trợ tìm đường tránh tắc nghẽn giao thông, theo dõi và quản lý  
các thiết bị tham gia giao thông, v.v.  
Cảm biến là các thiết bị nhỏ, phân tán, giá thành thấp, tiết kiệm năng  
lượng, có khả năng truyền thông không dây và xử lý cục bộ. Một mạng MANET  
có thể là một mạng cảm biến gồm các nút cảm biến. Các nút này hợp tác với  
nhau để cùng thực hiện một nhiệm vụ cụ thể, ví dụ như: giám sát môi trường  
(không khí, đất, nước), theo dõi môi trường sống, hành vi, dân số của các loài  
động, thực vật, dò tìm động chấn, theo dõi tài nguyên, thực hiện trinh thám  
trong quân đội,...  
9
1.2. Vấn đề bảo trì thông tin định tuyến trong mạng MANET phân cụm  
Phân cụm là một chiến lược hiệu quả để giải quyết tính động và khả năng  
mở rộng của mạng ad hoc di động (MANET) [2]. Theo [1], các giao thức định  
tuyến trên cơ sở phân cụm có khả năng mở rộng hơn so với các giao thức định  
tuyến phẳng, vì việc phân cụm làm giảm kích thước của bảng định tuyến và chi  
phí định tuyến cần thiết để bảo trì thông tin định tuyến. Phân cụm có thể làm  
tăng tính sẵn sàng của thông tin mạng, chẳng hạn như vị trí của các nút di động,  
bằng cách sao chép thông tin giữa các nút trong các cụm khác nhau. Khi thực  
hiện truyền thông tin kiểu quảng bá hoặc multicast, phân cụm cho phép cơ chế  
lan truyền thông tin kiểu quảng bá một cách có chọn lọc để giảm các thông điệp  
quảng bá dư thừa. Hơn nữa, việc phân cụm tạo cơ chế để quản lý tài nguyên  
hiệu quả bằng cách chia sẻ và dự trữ tài nguyên có kiểm soát để đáp ứng các  
yêu cầu chất lượng dịch vụ (QoS) của ứng dụng.  
Đã có công trình nghiên cứu xem xét các kỹ thuật phân cụm khác nhau  
trong mạng ad hoc [1], chẳng hạn như sử dụng tập quản lý, phân cụm phân tán,  
cơ chế báo hiệu và dựa vào vị trí. Những nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào  
việc xây dựng các cụm để quản lý tính di động của nút hoặc tối ưu năng lượng  
cũng như chi phí quản lý của các nút đầu cụm. Trong đề tài này, mạng được  
giả định là đã được phân cụm để nghiên cứu các kỹ thuật triển khai một tầng  
con có nhiệm vụ quản lý trạng thái động của các cụm, chẳng hạn như trạng thái  
sẵn sàng của nút và dữ liệu/tệp có sẵn, kết nối mạng, băng thông, khả năng xử  
lý và thông tin khác. Ý tưởng của đề tài này là nhằm che giấu tính động của các  
cụm bên dưới, để cải thiện hiệu suất của các ứng dụng hoạt động trong mạng  
MANET phân cụm.  
Việc duy trì trạng thái của các cụm liên quan đến hai hoạt động chính là  
thu thập và phân phối thông tin. Trong pha thu thập, các nút thu thập thông tin  
trạng thái trong cụm nội bộ của nó. Trong pha phân phối, thông tin được chia  
 
10  
sẻ cho các cụm khác. Bảo trì là một vấn đề thách thức trong mạng MANET vì  
tính di động của các nút làm thay đổi thường xuyên trạng thái của các cụm và  
tăng chi phí thực hiện các hoạt động thu thập và phân phối thông tin. Một chiến  
lược bảo trì tốt sẽ cân bằng tải công việc và mức tiêu thụ năng lượng của các  
nút, tối thiểu hóa chi phí và lưu vết các thay đổi một cách kịp thời và chính xác.  
Để quản lý thông tin trạng thái, một giao thức bảo trì cần thực hiện các  
hoạt động thu thập và phân phối. Trong nghiên cứu này, để không mất tính tổng  
quát, kết nối logic giữa các cụm được coi là thông tin trạng thái. Hai cụm được  
xem là có kết nối, nếu chúng liền kề nhau và có thể định tuyến trực tiếp các  
thông điệp với nhau thông qua một nút biên. Ta có thể mô hình hóa các cụm và  
các kết nối giữa chúng như một lớp phủ trên mạng MANET ban đầu với các  
cụm là các đỉnh và kết nối của chúng là các cạnh của lớp phủ.  
Theo [1], một cách tiếp cận đơn giản để giải quyết bài toán bảo trì trạng  
thái trong mạng MANET phân cụm là giao trách nhiệm bảo trì cho nút đầu  
cụm. Trách nhiệm này liên quan đến việc duy trì thông tin của các cụm lân cận  
và chia sẻ thông tin với các đầu cụm khác. Các nút đầu cụm thường chịu trách  
nhiệm quản lý và xử lý các yêu cầu định tuyến liên cụm cho các nút cùng cụm  
với nó. Khi đó, các nút khác trong cụm chỉ cần duy trì một con đường đến nút  
đầu cụm của chúng. Đề tài này sẽ nghiên cứu kỹ nghiên cứu [1] đề xuấttriển  
khai một chiến lược bảo trì mạng phủ phân cụm dựa trên nút đứng đầu, được  
gọi là CWHO (Cluster-Based With Head Overlay). Đây là chiến lược cơ sở để  
so sánh với các chiến lược bảo trì khác.  
Trong thiết kế của các chiến lược bảo trì thông tin trong mạng MANET,  
còn có những cách tiếp cận khác. Ngược lại với chiến lược CWHO, còn có một  
chiến lược phân phối đầy đủ, không dựa vào các nút đứng đầu. Theo cách tiếp  
cận phân tán đầy đủ, mọi nút đều chia sẻ trách nhiệm như nhau trong việc thu  
11  
thập và phân phối thông tin về các cụm lân cận của chúng. Theo phương pháp  
này, mọi nút có thể xử lý các hoạt động định tuyến liên cụm, vì chúng chia sẻ  
thông tin trạng thái của tất cả các cụm trong mạng. Do đó, đề tài này cũng  
nghiên cứu về đề xuất [1]triển khai một chiến lược bảo trì thông tin định tuyến  
trong mạng phủ phân cụm không có đứng đầu, được đặt tên là CWOHO  
(Cluster- Based WithOut Head Overlay).  
Hai chiến lược bảo trì ở trên có thể được sử dụng để chia sẻ thông tin  
trạng thái cục bộ của các cụm với toàn bộ mạng. Cả hai đều có những ưu điểm  
riêng, có thể khác nhau trong các điều kiện mạng khác nhau. Chiến lược CWHO  
đơn giản và hoạt động tốt trong nhiều tình huống. Tuy nhiên, nó có thể gặp phải  
các vấn đề như mất cân bằng tải và khả năng tiêu thụ năng lượng, nút đầu cụm  
bị lỗi hoặc di chuyển và nút đầu cụm chịu tải lưu lượng truy cập bổ sung. Chiến  
lược CWOHO có thể tránh được những vấn đề này, nhưng chi phí bảo trì có  
thể cao.  
Ở giữa hai cách tiếp cận trên, có những cách tiếp cận bảo trì thông tin  
định tuyến khác. Một trong những cách tiếp cận này là chiến lược Phân cụm  
với thông tin nút lân cận CNI (Clusters with Neighbor Information) [1]. Chiến  
lược CNI thực hiện hoạt động thu thập thông tin một cách phân tán như trong  
chiến lược CWOHO. Tuy nhiên, thông tin thu thập không được chia sẻ với toàn  
bộ mạng. Các nút chỉ duy trì thông tin về các cụm lân cận của chúng. Với cách  
tiếp cận này, nghiên cứu giả định rằng mọi nút đều có kiến thức trước về cấu  
trúc kết nối mạng. Cấu trúc kết nối cho thấy hướng của các cụm và có thể xây  
dựng được nó bằng cách sử dụng thuật toán phân tán hoặc sử dụng thông tin về  
vị trí địa lý các nút trong mạng. Trong chiến lược CNI, việc định tuyến liên  
cụm được thực hiện theo cách tiếp cận sử dụng quyết định định tuyến tại mỗi  
cụm trung gian.  
12  
Một chiến lược bảo trì thông tin định tuyến cụ thể nào đó có thể không  
áp dụng được cho tất cả các điều kiện và mô hình di động của mạng. Ví dụ: nếu  
các nút di chuyển chậm trong mạng, thì chiến lược bảo trì với nút đầu cụm có  
thể có hiệu suất tốt. Tuy nhiên, trong trường hợp mạng có tính cơ động cao, có  
thể cần xem xét đến chiến lược bảo trì phân tán. Để hiểu tác động của tính di  
động của nút, đề tài này sẽ đánh giá hiệu năng của ba chiến lược bảo trì ở trên  
theo hai mô hình di động khác nhau, đó là mô hình Random Waypoint và  
Manhattan Grid bằng phương pháp mô phỏng.  
Các công việc sẽ được thực hiện trong đề tài này bao gồm: (a) Đưa ra  
một nghiên cứu toàn diện về vấn đề bảo trì trạng thái trong các mạng MANET  
phân cụm bằng cách triển khai thiết kế của chiến lược bảo trì với nút đầu cụm  
CWHO. Đây là chiến lược phổ biến và được sử dụng rộng rãi nhất; (b) Triển  
khai chiến lược bảo trì một cách gần nhất với cách tiếp cận phân phối đầy đủ,  
được gọi là CWOHO. Trong CWOHO, các nút kết hợp thông tin từ tất cả các  
nút biên để xác định khả năng kết nối của nó với các cụm lân cận. Thông tin  
này sau đó được quảng bá để chia sẻ cho mọi nút trong mạng; (c) Triển khai  
chiến lược CNI là lấy điểm giữa giữa hai thái cực chiến lược CWHO và  
CWOHO; (d) Sử dụng mô phỏng để đánh giá về ba chiến lược bảo trì trong các  
điều kiện mạng khác nhau. Điều này cung cấp một cái nhìn sâu sắc cho các  
chiến lược thiết kế khác nhau cho vấn đề bảo trì thông tin định tuyến.  
1.3. Một số kỹ thuật phân cụm trong mạng MANET  
Kỹ thuật phân cụm thường được sử dụng để giảm chi phí định tuyến của  
mạng và tăng thời gian sống của các nút trong mạng. Kỹ thuật phân cụm phân  
tán được nghiên cứu rộng rãi nhất trên mạng ad hoc và cảm biến không dây dựa  
trên lý thuyết đồ thị thống trị. Một tập thống trị [5] của đồ thị G = (V, E) có thể  
được định nghĩa là một tập con của các đỉnh S ⊆ V sao cho mọi đỉnh v ∈ V đều  
 
13  
nằm trong S hoặc liền kề với một đỉnh của S. Một đỉnh của S được xem là thống  
trị chính nó và các đỉnh lân cận của nó. Một cạnh được gọi là cạnh bị thống trị  
nếu một trong hai điểm mút của nó nằm trong S và các cạnh khác được gọi là  
cạnh tự do. Nhiều kỹ thuật đã được đề xuất để chọn tập thống trị S [1], chẳng  
hạn như tập thống trị độc lập (IDS), tập thống trị kết nối (CDS) và tập thống trị  
kết nối yếu (WCDS). Trong IDS, không có hai đỉnh trong S liền kề nhau; trong  
khi đó trong CDS, tất cả các đỉnh trong S đều được kết nối. Do đó, số lượng  
cụm có thể có trong IDS nhỏ hơn trong CDS. Tuy nhiên, khả năng kết nối của  
các nút đầu cụm trong CDS được xem là thuận lợi hơn cho các ứng dụng truyền  
thông kiểu quảng bá. WCDS là một biến thể của CDS, giúp nới lỏng yêu cầu  
kết nối trực tiếp giữa các nút thống trị lân cận.  
Phương pháp DDR trong nghiên cứu [9] đề xuất một kỹ thuật phân tán  
khác để phân cụm các nút thành các vùng không chồng lấp. Đối với việc hình  
thành vùng, DDR không chọn một tập hợp con các nút trong mạng như trong  
tập thống trị. Thay vào đó, một thuật toán phân tán được sử dụng để xây dựng  
một rừng. Các cây trong rừng được hình thành bằng cách trao đổi các thông  
điệp báo hiệu định kỳ giữa các nút. Mỗi cây tạo thành một vùng riêng biệt và  
được gán một định danh vùng (zone-ID) bằng cách sử dụng thuật toán đặt tên  
vùng. Các vùng được kết nối với nhau bởi các nút biên không thuộc cùng một  
cây nhưng nằm trong cùng một phạm vi truyền thông.  
Một số mạng ad hoc hỗn độn sử dụng các nút báo hiệu để phân cụm các  
nút trong mạng. Các nút báo hiệu cố gắng tác động vào các nút lân cận để thu  
hút các nút khác nhằm tạo thành cụm. Phương pháp LABAR [4] nghiên cứu về  
mạng hỗn độn trong đó chỉ có một tập con các nút có thông tin vị trí chính xác  
của chúng. Các nút có thông tin vị trí được gọi là các nút G và phần còn lại là  
các nút S. Các nút G đóng vai trò là nút báo hiệu và tạo thành các vùng bằng  
cách lôi kéo các nút S trong vùng lân cận của chúng. Phương pháp BEAD [7]  
14  
nghiên cứu mạng ad hoc phân cấp ba tầng với các nút di động (MN) ở tầng thấp  
nhất, theo sau là các nút chuyển tiếp (FN) và các điểm truy cập (AP) ở các tầng  
tiếp theo. Các thông điệp báo hiệu định kỳ được gửi bởi FN và AP được quét  
bởi các MN để xác định nút cha tốt nhất của chúng trong mạng. Phương pháp  
trong [16] cũng là một dạng kỹ thuật phân cụm dựa trên nút báo hiệu.  
Các nút trong MANET cũng có thể được nhóm lại kiểu vật lý dựa trên  
mối quan hệ logic hoặc kiểu hoạt động của chúng. Các ứng dụng như khắc phục  
thảm họa hoặc triển khai trong quân sự trong một khu vực thường yêu cầu sự  
hợp tác giữa các nhóm nhỏ các nút trong mạng. Các thành viên trong nhóm có  
chung mối quan tâm và chúng luôn di chuyển theo nhóm với tốc độ và hướng  
tương tự như nhau. Từ đặc điểm này, có thể phân chia các nút vật lý thành nhiều  
nhóm nhỏ. Kỹ thuật này được gọi là kỹ thuật phân cụm dựa trên nhóm.  
Một kỹ thuật phân cụm vật lý khác, thường được sử dụng trong các mạng  
hoạt động với các nút có hỗ trợ hệ thống định vị toàn cầu GPS, là phân chia  
việc triển khai thành các lưới địa lý. Kỹ thuật này đòi hỏi mỗi nút phải biết  
trước thông tin về hình dạng của khu vực triển khai và phân vùng của khu vực.  
Thông tin trên giúp mỗi nút xác định ranh giới của cụm và cụm chứa nó. So  
sánh với tính di động của nhóm, trong kỹ thuật này tính di động của các nút là  
ngẫu nhiên và các phân vùng địa lý được cố định.  
Ngoài ra, còn có những kỹ thuật phân cụm khác. Nghiên cứu [14] đã khảo  
sát các kỹ thuật phân cụm trong các mạng không dây. Các kỹ thuật phân cụm  
trong mạng MANET được tổng kết trong Bảng 2.1.  
Kỹ thuật phân cụm  
Tập thống trị  
Đặc điểm  
Giao thức  
Phân cụm logic bằng cách  
chọn một tập con các nút trong IDS,CDS, WCDS  
mạng  
15  
Phân cụm logic dưới dạng  
phân tán  
Cụm phân tán  
DDR  
Phân cụm logic sử dụng nút  
báo hiệu  
GLIDER, LABAR,  
BEAD  
Dựa trên báo hiệu  
Dựa trên nhóm  
Phân cụm vật lý dựa trên mối  
quan hệ logic giữa các nút  
HSR, LANMAR  
Phân cụm vật lý sử dụng  
thông tin vị trí và hình trạng  
mạng  
DCS, ZHLS, DLM,  
GLS  
Phân vùng địa lý  
Bảng 2.1. Một số kỹ thuật phân cụm tiêu biểu trong mạng MANET  
1.4. Một số kỹ thuật bảo trì thông tin cụm trong mạng MANET  
Trong mạng có cấu hình động, thông tin trạng thái của các cụm, chẳng  
hạn như kết nối giữa các cụm, băng thông của các liên kết lớp phủ và kích thước  
của cụm, có thể thay đổi thường xuyên. Đã có các chiến lược bảo trì thông tin  
mạng được nghiên cứu và đề xuất [1]. Có thể phân chia các chiến lược bảo trì  
thông tin mạng thành hai nhóm là nhóm các chiến lược bảo trì dựa trên nút  
đứng đầu và nhóm các chiến lược sử dụng phương pháp phân tán. Mô tả ngắn  
gọn về các giao thức triển khai của các chiến lược này được trình bày trong  
Bảng 2.2.  
Giao thức  
CBRP  
Mô tả  
Dựa trên nút đứng đầu mỗi cụm thực hiện nhiệm vụ  
kết nối và định tuyến liên cụm.  
LABAR, BEAD  
Sử dụng nút đặc biệt (G-node trong LABER) để bảo  
trì kết nối và định tuyến cho các vùng.  
CEDAR, MCEDAR Sử dụng các nút lõi để bảo trì thông tin về các cụm.  
GLIDER  
Topo mạng cảm biến được phân tán cho mọi nút và sử  
dụng cho định tuyến.  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 62 trang yennguyen 15660 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Nghiên cứu chiến lược bảo trì thông tin định tuyến trong mạng AD HOC phân cụm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_nghien_cuu_chien_luoc_bao_tri_thong_tin_dinh_tuyen.pdf