Luận văn Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục tại các trường Tiểu học Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Nguyễn Tất Bình  
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA  
GIÁO DỤC TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC  
QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC  
Thành phố Hồ Chí Minh – 2020  
 
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Nguyễn Tất Bình  
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA  
GIÁO DỤC TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC  
QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC  
Chuyên ngành : Quản lí giáo dục  
Mã số  
: 8140114  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
PGS.TS. NGUYỄN VĂN Y  
Thành phố Hồ Chí Minh – 2020  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi cam đoan đề tài “Quản lý hoạt động XHHGD tại các trường tiểu học  
Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi.  
Các số liệu, kết quả được sử dụng trong luận văn đều là kết quả điều tra thực  
tế của tôi tại các trường tiểu học Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh chưa được công  
bố ở bất kỳ công trình nào.  
Tác giả  
Nguyễn Tất Bình  
 
LỜI CẢM ƠN  
Với tình cảm chân thành, tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc nhất đến Ban Giám  
hiệu Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Đào tạo Sau Đại học  
và Quý Thầy Cô Trường Đại học Sư phạm đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy và tạo  
mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi học tập trong suốt thời gian theo học chương trình  
đào tạo Cao học chuyên ngành Quản lí giáo dục khóa K28.  
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn  
Y, người đã dành nhiều thời gian, tâm huyết để hướng dẫn, động viên tôi trong suốt  
quá trình nghiên cứu – hoàn thành luận văn.  
Những lời cảm ơn sau cùng, tôi trân trọng gửi đến gia đình, bạn bè, đồng  
nghiệp – những người đã luôn nâng đỡ, chia sẻ, động viên tôi trong suốt thời gian học  
tập vừa qua.  
Xin chân thành gửi đến Ban Giám hiệu, Quý Thầy Cô cùng gia đình, bạn bè,  
đồng nghiệp của tôi lời chúc sức khỏe và thành công trong cuộc sống.  
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2019  
Nguyễn Tất Bình  
MỤC LỤC  
Trang phụ bìa  
 
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
Viết tắt  
Viết đầy đủ  
BCHTW  
CBQL  
CNH  
Ban chấp hành Trung ương  
Cán bộ quản lý  
Công nghiệp hóa  
Đảng Cộng sản Việt Nam  
Giáo dục  
ĐCSVN  
GD  
GD&ĐT  
GDTH  
HĐH  
Giáo dục và Đào tạo  
Giáo dục tiểu học  
Hiện đại hóa  
HĐND  
KT-XH  
PCGD  
QLGD  
TH  
Hội đồng nhân dân  
Kinh tế xã hội  
Phổ cập giáo dục  
Quản lý giáo dục  
Tiểu học  
TW  
Trung ương  
UBND  
XHCN  
XHH  
Ủy ban nhân dân  
Xã hội chủ nghĩa  
Xã hội hóa  
XHHGD  
XHHGD  
 
DANH MỤC BẢNG BIỂU  
 
1
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân  
lực, bồi dưỡng nhân tài, vấn đề này đã và đang được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta  
hết sức quan tâm. Để đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì  
việc đầu tư cho giáo dục và đào tạo nhân lực có chất lượng cao luôn là vấn đề được  
đặt lên hàng đầu.  
Nghị quyết Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của giáo  
dục và đào tạo đồng thời xác định định hướng nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển  
giáo dục và đào tạo. Đặc biệt, Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4 tháng 11 năm 2013,  
của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Đổi mới căn bản,  
toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong  
điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã xác  
định rõ các quan điểm, mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo trong thời gian tới; các  
giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo; định hướng các  
mục tiêu, đối tượng cần ưu tiên đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước và đổi mới chính  
sách, cơ chế tài chính để huy động sự tham gia đóng góp của xã hội vào phát triển  
giáo dục và đào tạo, góp phần hoàn thành mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo  
dục và đào tạo.  
Điều 12 của Luật Giáo dục năm 2005 có quy định: “Phát triển giáo dục, xây  
dựng xã hội học tập là sự nghiệp của nhà nước và toàn dân. Nhà nước giữ vai trò chủ  
đạo trong quá trình phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hóa các loại hình  
trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để các tổ  
chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp Giáo dục.  
Để tạo hành lang pháp lý cho các nguồn lực của xã hội đầu tư nhiều hơn vào  
giáo dục, đào tạo và tạo thuận lợi cho các cơ sở giáo dục được hưởng chính sách ưu  
đãi xã hội, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2008/NĐ-CP về chính sách  
khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y  
tế, văn hóa, thể thao, môi trường; Nghị định số 59/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một  
số điều của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Trong  
 
2
đó, nhà đầu tư thực hiện xã hội hóa được hưởng nhiều chính sách ưu đãi, như được  
nhà nước giao đất, cho thuê đất đã hoàn thành giải phóng mặt bằng; được hỗ trợ kinh  
phí bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với các dự án đầu tư đã tự thực hiện công  
tác đền bù, giải phóng mặt bằng; được hưởng mức ưu đãi về thuế thu nhập doanh  
nghiệp; được tham gia cung cấp các dịch vụ công do nhà nước tài trợ, đặt hàng; tham  
gia đấu thầu nhận các hợp đồng, dự án sử dụng nguồn vốn trong và ngoài nước phù  
hợp với chức năng, nhiệm vụ hoạt động theo quy định của pháp luật; được đối xử  
bình đẳng đối với các sản phẩm và dịch vụ của cơ sở thực hiện xã hội hóa,... Để phát  
triển giáo dục mầm non khu công nghiệp, khu chế xuất, Thủ tướng Chính phủ đã ban  
hành Quyết định số 404/QĐ-TTg, ngày 20-3-2014, về phê duyệt Đề án hỗ trợ phát  
triển nhóm trẻ độc lập tư thục khu vực khu công nghiệp, khu chế xuất đến năm 2020  
và gần đây nhất Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư 16/2018/TT-BGDĐT  
ngày 03 tháng 8 năm 2018 Quy định về tài trợ cho các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống  
giáo dục quốc dân.  
Với những định hướng khuyến khích XHHGD nêu trên, giáo dục mầm non,  
giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học ngoài công lập trong  
những năm qua đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần nâng tỷ lệ huy động  
trẻ, học sinh trong độ tuổi ra lớp, phổ cập giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển  
loại hình trường, lớp, chương trình chất lượng cao đáp ứng nhu cầu học tập của người  
dân, giảm gánh nặng cho ngân sách.  
Tuy nhiên, thực tế hiện nay, nhiều người nhận thức chưa đúng, thậm chí còn  
hiểu sai về khái niệm và bản chất của XHHGD, họ cho rằng XHHGD chỉ là đóng góp  
các loại tiền cho giáo dục, chỉ là sự huy động vật lực mà thôi. Ở một số địa phương,  
cấp ủy đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể chưa hiểu được ý nghĩa to lớn và  
vai trò vô cùng quan trọng của hoạt động XHHGD, còn coi đó là trách nhiệm của nhà  
trường.  
Chính vì vậy nên trong thời gian qua, chúng ta chưa thu hút được nhiều sự đầu  
tư của các nguồn lực xã hội cho giáo dục mà chủ yếu trông chờ vào ngân sách, sự chỉ  
đạo của nhà nước. Đây là một lý do cơ bản làm cho cơ sở vật chất của giáo dục xuống  
3
cấp và lạc hậu, động lực của người dạy và người học giảm sút, sự phát triển của giáo  
dục không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.  
Đối với các trường tiểu học, XHHGD vừa là chủ trương, vừa là giải pháp để các  
trường tham mưu với địa phương trong việc huy động mọi nguồn lực phục vụ cho  
các hoạt động giảng dạy, tạo điều kiện cho nhà trường ngày càng phát triển và đi lên.  
Hoạt động XHHGD tại các trường tiểu học Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh  
trong những năm qua đã có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được một số thành tựu  
nhất định. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Việc huy động các nguồn lực  
tham gia XHHGD ở mỗi trường, mỗi địa phương chưa thật sự đồng bộ; công tác tổng  
kết, đánh giá có những mặt phản ánh chưa đầy đủ, cụ thể và thường xuyên dẫn đến  
kết quả chưa cao. Điều đó, xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Đến nay chưa có một  
công trình nghiên cứu khoa học nào thật đầy đủ, hoàn chỉnh về lý luận và thực tiễn  
về hoạt động XHHGD phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội trên địa bàn  
Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là hoạt động quản lý XHHGD của hiệu  
trưởng các trường tiểu học.  
Thực tế, ở các trường tiểu học việc quản lý hoạt động XHHGD của nhà trường  
còn nhiều bất cập. Chính vì vậy, việc tổ chức quản lý hoạt động XHHGD của nhà  
trường cần phải có những biện pháp quản lý khoa học mới góp phần thực hiện hiệu  
quả hơn hoạt động xã hội hóa giáodục ở các trường tiểu học tại địa bàn nghiên cứu.  
Xuất phát từ những cơ sở trên tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt động XHHGD tại  
các trường tiểu học Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh” là cần thiết để làm luận văn  
tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục.  
2. Mục đích nghiên cứu  
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát, đánh giá thực trạng về hoạt động  
XHHGD và quản lý hoạt động XHHGD tại trường tiểu học.Từ đó đề xuất các biện  
pháp quản lý hoạt động XHHGD tại các trường tiểu học, góp phần nâng cao chất lượng  
quản lý hoạt động XHHGD tại trường tiểu học Quận 3, Thành phố Hồ  
Chí Minh.  
4
3. Nhiệm vụ nghiên cứu  
3.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động quản lý XHHGD của hiệu trưởng  
trường tiểu học.  
3.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động XHHGD và quản lý hoạt động  
XHHGD tại các trường tiểu học Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.  
3.3. Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động XHHGD tại các trường tiểu học  
Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.  
4. Giả thuyết khoa học  
XHHGD là một trong những chủ trương đúng đắn nhằm tạo cơ hội cho các  
thành phần kinh kế tham gia đóng góp vào lĩnh vực giáo dục, đồng thời giảm một  
phần gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Chính vì vậy, quản lý hoạt động này có vai  
trò rất quan trọng. Nếu xây dựng được các biện pháp quản lý hoạt động XHHGD phù  
hợp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động XHHGD tại các trường tiểu  
học Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh  
5. Khách thể - Đối tượng nghiên cứu – Phạm vi nghiên cứu  
5.1. Khách thể nghiên cứu  
Hoạt động quản lý XHHGD của Hiệu trưởng các trường tiểu học.  
5.2. Đối tượng nghiên cứu  
Hoạt động XHHGD tại các trường tiểu học Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.  
5.3. Phạm vi nghiên cứu  
5.3.1. Về đối tượng nghiên cứu  
Quản lý hoạt động XHHGD tại các trường tiểu học Quận 3, Thành phố Hồ Chí  
Minh.  
5.3.2. Về khách thể khảo sát  
Cán bộ quản lý; Các tổ trưởng chuyên môn; giáo viên; Cha Mẹ học sinh trường  
tiểu học: Nguyễn Thái Sơn, Phan Đình Phùng; Nguyễn Sơn Hà; Trần Quang  
Diệu,Trần Quốc Thảo Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.  
5.3.3. Thời gian khảo sát: Năm học 2018-2019.  
5
6. Phương pháp nghiên cứu  
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận  
Mục đích: Sử dụng các phương pháp: Phân tích- tổng hợp, phân loại tài liệu,  
hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu có liên quan để phân tích và làm rõ lý luận về  
hoạt động quản lý của hiệu trưởng trong việc XHHGD tại các trường tiểu học.  
Nội dung: Trên cơ sở đó xác định các khái niệm công cụ và xây dựng khung  
lý thuyết cho đề tài.  
Đối tượng: Hồ sơ quản lý hoạt động XHHGD của 05 trường tiểu học Quận 3,  
Thành phố Hồ Chí Minh.  
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn  
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi  
Mục đích: Thu thập các thông tin, số liệu về thực trạng quản lý hoạt động  
XHHGD tại các trường tiểu học.  
Nội dung: Thực trạng tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá quản lý  
hoạt động XHHGD tại các trường tiểu học.  
Đối tượng: Giáo viên,Cha Mẹ học sinh tại các trường tiểu học.  
6.3. Phương pháp thống kê toán học  
Mục đích: Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu, kết quả  
nghiên cứu thu thập được trong quá trình nghiên cứu.  
Nội dung: Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý.  
Đối tượng: Các thông tin thu thập được từ các phương pháp điều tra sau khi mã  
hóa.  
7. Cấu trúc của đề tài  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ  
lục, luận văn dự kiến gồm có 03 chương:  
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động XHHGD tại các trường tiểu học  
Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.  
Chương 2: Thực trạng về quản lý hoạt động XHHGD tại các trường tiểu học  
Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.  
Chương 3: Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động XHHGD tại các trường  
tiểu học Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.  
6
Chương 1  
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA  
GIÁO DỤC TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN 3,  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề  
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài  
XHHGD không phải là vấn đề hoàn toàn mới. Đó là bước phát triển của một  
chủ trương giáo dục được thực thi qua nhiều năm. Ở nước ngoài, hoạt động XHHGD  
đã được quan tâm và nghiên cứu từ rất sớm. Các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Singgapo  
đến Pháp, Nga, Đức…đều khẳng định XHHGD (là vấn đề vô cùng quan trọng). Trong  
quá trình toàn cầu hóa ngày nay, nhiều quốc gia phương Tây càng chú trọng phát  
triển giáo dục, coi đấy như một nhiệm vụ quan trọng của nhà nước trong việc giữ gìn  
bản sắc dân tộc. Họ ý thức rất rõ rằng trong thế giới ngày càng trở nên “phẳng” và  
mọi thứ đều giống nhau, một dân tộc muốn “nhận diện” được so với các dân tộc khác  
chỉ có thể dựa vào bản sắc dân tộc và nếu bản sắc dân tộc không còn thì điều đó đồng  
nghĩa với thảm họa dân tộc ấy sẽ bị xóa sổ, hòa tan.  
Tại Cộng Hoà Liên Bang Đức học sinh, sinh viên ở đây từ cấp phổ thông đến  
đại học đều được hưởng chế độ miễn học phí. Ngoài ra, riêng những học sinh, sinh  
viên nghèo (không đủ điều kiện vật chất sống tối thiểu) còn được nhà nước trợ cấp,  
“bù” thêm tài chính để họ có thể an tâm sống và học tập. Ngoài hệ thống trường công  
lập, tại Đức có tới 2.500 trường tư. Trong số ấy, theo quy định của pháp luật, bất kỳ  
trường tư nào được nhà nước công nhận văn bằng có giá trị tương đương trường công  
thì nhà nước có nghĩa vụ cung cấp toàn bộ tài chính cho hoạt động của trường đó.  
Điều này cho thấy giáo dục trong mọi trường hợp là nhiệm vụ không thể tách rời của  
nhà nước, kể cả khi giáo dục được xã hội hóa và cho tư nhân tham gia. Ở Đức, trong  
hội đồng xét chọn chương trình của trường cũng như ở cấp thành phố, ngoài thành  
phần thầy cô, bắt buộc phải có đại diện học sinh tham gia. Ngoài ra, mỗi trường đều  
có một hội đồng riêng của học sinh, sinh viên (để đánh giá, góp ý cho nhà trường về  
chương trình, phương pháp giảng dạy…) và vì nó giúp cho nhà nước thực hiện tốt  
     
7
hơn nhiệm vụ của mình nên hoạt động của hội đồng này cũng nằm trong số đối tượng  
mà nhà nước có nghĩa vụ hỗ trợ, đặc biệt là về mặt tài chính (Nguyễn Vân Nam,  
2009).  
1.2.2. Các nghiên cứu trong nước  
Từ Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986) đất nước chuyển sang  
thời kỳ mới, trong đó có giáo dục cũng đã bước vào một giai đoạn phát triển thuận  
lợi. Đường lối đổi mới đã mở đầu cho sự phát triển mới trong tư duy giáo dục. Giáo  
dục đứng trước thử thách buộc phải phát triển với một trình độ mới để đáp ứng yêu  
cầu phát triển kinh tế-xã hội. Bài học lịch sử của sự phát triển giáo dục được khơi dậy  
và nâng cao trên tầm tư duy mới. Đến Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương  
Đảng khóa VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã đặt dấu mốc quan  
trọng trong lịch sử xây dựng và phát triển nển giáo dục Việt Nam. Đây là lần đầu tiên  
Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng thảo luận và ra Nghị quyết về sự  
nghiệp giáo dục và đào tạo. Cũng từ sau Đại hội lần thứ VII, trên các văn kiện của  
Đảng và Nhà nước, các tài liệu khoa học giáo dục, trên sách báo chúng ta thường gặp  
thuật ngữ “xã hội hóa” đối với các lĩnh vực hoạt động như chăm sóc và bảo vệ sức  
khỏe nhân dân, dân số - kế hoạch hóa gia đình, thể dục thể thao, giáo dục và đào tạo  
v.v….  
Cũng trong thời kỳ đổi mới này, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục đã  
bàn luận nhiều về XHHGD. Đặc biệt, tác giả Phạm Minh Hạc đã viết nhiều tài liệu  
về XHHGD, nhiều bài phát biểu chỉ đạo phong trào XHHGD. Trong cuốn “Xã hội  
hóa công tác giáo dục” xuất bản năm 1997 do ông làm tổng chủ biên, đã khẳng định:  
“Xã hội hóa công tác giáo dục là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận của đường  
lối giáo dục, một con đường phát triển giáo dục nước ta” (Phạm Minh Hạc, 1997).  
Trong cuốn “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI”, tác giả  
Phạm Minh Hạc một lần nữa khẳng định: “Sự nghiệp giáo dục không phải chỉ là của  
Nhà nước, mà là của toàn xã hội: mọi người cùng làm giáo dục, Nhà nước và xã hội,  
trung ương và địa phương cùng làm giáo dục, tạo nên một cao trào học tập trong toàn  
dân (Phạm Minh Hạc, 1999).  
 
8
Tác giả Phạm Tất Dong trong cuốn “Xã hội hóa công tác giáo dục” đã làm rõ  
nội hàm khái niệm xã hội hóa công tác giáo dục và coi xã hội hóa là một khái niệm  
đã vận động trong thực tiễn đấu tranh cách mạng ở Việt Nam, qua mỗi giai đoạn, khái  
niệm đó lại được phát triển thêm, nội hàm phong phú hơn.  
Trong lời giới thiệu cuốn sách “Những nhân tố mới về giáo dục trong công cuộc  
đổi mới” Phạm Tất Dong đã nhấn mạnh “phát triển giáo dục theo tinh thần xã hội  
hóa”. Ông đề cao việc huy động toàn dân vào sự nghiệp cách mạng, coi đó là một tư  
tưởng chiến lược của Đảng, “tư tưởng đó được tổng kết lại không chỉ là một bài học  
kinh nghiệm tầm cỡ lịch sử, mà trở thành một nguyên lý của cách mạng Việt Nam.  
Tư tưởng “xã hội hóa” giáo dục được thừa nhận như là một nhân tố mới trong sự  
nghiệp giáo dục hiện nay. Hơn thế “với tư cách là nhân tố mới của sự phát triển giáo  
dục, tư tưởng “xã hội hóa” công tác giáo dục lại tạo ra những điều kiện để xuất hiện  
những nhân tố mới khác trong quá trình vận động đi lên của các phong trào giáo dục.  
Những điều kiện đó chính là những kinh nghiệm rút ra từ thực tế sinh động của giáo  
dục, trên cơ sở đó tư duy giáo dục trở nên sâu sắc, nhờ đó, nhiều bài toán giáo dục –  
đào tạo đã được giải một cách hợp lý (Tập thể tác giả, 1996).  
Viện khoa học giáo dục đã triển khai khá nhiều năm một hệ thống đề tài về  
XHHGD, tổng kết kinh nghiệm, phát triển lý luận, đề xuất cơ chế XHHGD. Năm  
1999 cuốn sách “Xã hội hóa công tác giáo dục - Nhận thức và hành động” của Viện  
khoa học giáo dục do tập thể tác giả Bùi Gia Thịnh, Võ Tấn Quang, Nguyễn Thanh  
Bình, là một bước hoàn thiện về nhận thức lý luận và hướng dẫn thực tiễn. Bộ Giáo  
dục và Đào tạo cũng đã có “Đề án XHHGD và đào tạo”, đánh giá thực trạng và đưa  
ra những giải pháp XHHGD ở tầm vĩ mô, nhằm tạo ra những chuyến biến cơ bản  
trong giáo dục – đào tạo, chuẩn bị tốt nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa,  
hiện đại hóa đất nước trong hai chục năm đầu của thế kỷ XXI (Bộ Giáo dục và Đào  
tạo, 1998).  
Nhân kỷ niệm 40 năm thành lập Viện Khoa học giáo dục năm 2001, từ góc độ  
giáo dục, cuốn sách “XHHGD” do Võ Tấn Quang chủ biên cùng tập thể các tác giả  
Trần Kiểm, Nguyễn Thanh Bình, Lê Đức Phúc, Thái Duy Tuyên, Nguyễn Văn Đản,  
Đào Huy Ngận đã khẳng định: Xã hội hóa công tác giáo dục- một phương thức thực  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 162 trang yennguyen 10021 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục tại các trường Tiểu học Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_quan_ly_hoat_dong_xa_hoi_hoa_giao_duc_tai_cac_truon.pdf