Tóm tắt Luận văn Nghiên cứu, so sánh các giao thức định tuyến trong mạng Vanet

1
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Ngày nay, một số lượng lớn các loại xe ô tô tham gia giao  
thông đã làm tăng lên sự quan tâm trong việc phát triển các kỹ thuật  
truyền thông dành cho các phương tiện xe cộ. Trong khía cạnh này,  
một vài dịch vụ di động mới và hiệu quả kinh tế và các ứng dụng cho  
các mạng giao thông đã được đặt dưới sự nghiên cứu, đặt nền tảng  
cho hệ thông vận tải thông minh (Intelligent Transportation Systems -  
ITS). ITS đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu cuốn hút trong nhiều  
năm. Nhiều công nghệ đã được đề xuất cho ITS nhằm mục đích tăng  
sự an toàn trên các tuyến đường và vận tải hiệu quả và cung cấp kết  
nối Internet không dây ở khắp mọi nơi. Thêm vào đó là các ý nghĩa  
truyền thông khác, chẳng hạn các tài xế có thể nhanh chóng cập nhập  
thông tin giao thông nổi bậc về các tuyến đường với chi phí thấp.  
Với những lý do này, truyền thông vô tuyến dành cho phương tiện  
giao thông đã trở thành một công nghệ rất quan trọng.  
Các mạng thông tin vô tuyến được chia thành hai dạng là các  
mạng có cơ sở hạ tầng và các mạng Ad-hoc. Hầu hết các mạng thông  
tin vô tuyến ngày nay là mạng có cơ sở hạ tầng, bao gồm các mạng  
thông tin di động và mạng LAN không dây. Trong một mạng thông  
tin vô tuyến có cơ sở hạ tầng, các trạm gốc sẽ quản lý các thiết  
bị đầu cuối di chuyển trong phạm vi vùng phủ của chúng. Mặt  
khác, các mạng di động Ah-hoc (Mobile Ad-hoc Networks -  
MANETs) được sử dụng và quản lý mà không có một cơ sở hạ tầng  
được thiết lập trước. Thực tế, trong mạng MANET, các thiết bị đầu  
cuối liên lạc trực tiếp với các thiết bị khác mà không thông qua một  
thiết bị quản lý trung tâm.  
2
Các mạng MANET hiện tại đang nhận được sự quan tâm đặc  
biệt trong cả lĩnh vực công nghiệp và giáo dục. Chúng là thành phần  
quan trọng của các mạng thế hệ kế tiếp. Trong khi MANETs ban đầu  
được thiết kế cho mục đích quân sự, thì hiện nay các lợi ích trong các  
kỹ thuật vô tuyến, như mạng khu vực cá nhân (Personal Area  
Network - PAN) (ví dụ. Bluetooth 802.15.1, ZigBee) và mạng LAN  
không dây (802.11), đã mang đến một sự thay thế trong việc sử dụng  
MANETs. Chúng cho phép hỗ trợ một phạm vi rộng của các ứng  
dụng thương mại mới trên MANETs. Bên cạnh các kỹ thuật đã kể  
trên, truyền thông khoảng cách ngắn (Dedicated Short Range  
Communications - DSRC) đã làm cho việc thông tin liên phương  
tiện (Inter-Vehicular Communications - IVC) và thông tin phương  
tiện – tuyến đường (Road-Vehicle Communications – RVC) trở nên  
khả thi trong các mạng MANET. Điều này đã khai sinh một dạng  
mới của mạng MANET được biết đến như là mạng Vehicular Ad-hoc  
Networks (VANETs).  
Mạng VANET là một trường hợp đặc biệt của MANET.  
Chúng giống với mạng MANET với sơ đồ mạng (topology) biến  
đổi nhanh vì sự di chuyển ở tốc độ cao của các phương tiện. Tuy  
nhiên, không giống như MANET, tính di động của các phương  
tiện trong VANET bị ràng buộc chung bởi các tuyến đường  
được định trước. Vận tốc của phương tiện cũng được ràng buộc  
theo các giới hạn tốc độ, mức độ tắc nghẽn trên tuyến đường, và các  
cơ chế điều khiển lưu lượng (như đèn giao thông). Thêm vào  
đó, các phương tiện giao thông có thể được trang bị thiết bị phát  
sóng khoảng cách xa hơn, nguồn năng lượng có khả năng phục hồi,  
và khả năng lưu trữ cao hơn. Do đó, công suất xử lý và khả năng lưu  
3
trữ không phải là vấn đề trong mạng VANET như trong mạng  
MANET.  
Cùng với sự phát triển hiện tại trong lĩnh vực VANET, một số  
lượng các ứng dụng cho việc bố trí phương tiện đã được đưa ra. Các  
ứng dụng VANET bao gồm các hệ thống an toàn hoạt động trên xe  
để hỗ trợ các tài xế trong việc tránh va chạm và điều phối họ tại các  
điểm nóng như tại các giao lộ hay các lối vào đường cao tốc. Các hệ  
thống an toàn có thể phổ biến thông tin tuyến đường một cách thông  
minh, như các sự cố, tắc nghẽn lưu lượng thời gian thực, việc thu  
phí đường cao tốc, hay điều kiện mặt đường đến các phương  
tiện trong lân cận vị trí được đề cập. Điều này giúp tránh việc các  
phương tiện bị dồn ứ và theo đó cải thiện hiệu suất sử dụng các tuyến  
đường. Bên cạnh các ứng dụng an toàn đã được đề cập, việc  
truyền thông liên phương tiện IVC có thể được sử dụng để  
cung cấp các ứng dụng tiện ích, chẳng hạn như thông tin thời tiết, vị  
trí các trạm xăng hay nhà hàng, và các ứng dụng truyền thông tương  
tác như truy cập Internet, tải nhạc, và phân phối nội dung. Với những  
ứng dụng thiết thực và tính cấp thiết để triển khai các ứng dụng đó  
vào hệ thống giao thông hiện nay nên em đã chọn thực hiện đề tài  
này.  
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu  
Nội dung cụ thể gồm:  
Tìm hiểu, nghiên cứu về mạng không dây và mạng VANET  
Nghiên cứu sâu về các giao thức định tuyến trong mạng  
VANET. Xác định các giá trị cần so sánh trong mạng VANET.  
Mô phỏng so sánh và đánh giá một số giao thức định tuyến  
trong mạng VANET thông qua NS2.  
4
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
Đối tƣợng nghiên cứu  
Mạng VANET  
Giao thức định tuyến  
Phạm vi nghiên cứu  
Nghiên cứu giao thức định tuyến trong mạng VANET  
So sánh đánh giá các giao thức định tuyến  
Phần mềm mô phỏng NS2  
Phần mềm hổ trợ mô phỏng MOVE và SUMO  
4. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Phƣơng pháp lý thuyết  
Các tài liệu về mạng không dây và mạng VANET  
Các tài liệu liên quan đến giao thức định tuyến trong mạng  
VANET  
Phân tích so sánh và đánh giá các giao thức định tuyến  
trong mạng VANET  
Tìm hiểu, nghiên cứu các phần mềm hổ trợ mô phỏng:  
MOVE, SUMO, NS2  
Phƣơng pháp thực nghiệm  
Mô phỏng so sánh và đánh giá các giao thức định tuyến  
bằng NS2  
So sánh, đánh giá các giao thức định tuyến trong mạng  
VANET  
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài  
Thực hiện nghiên cứu tổng quan về mạng VANET, tìm  
hiểu chuyên sâu hơn về các giao thức định tuyến trong mạng  
VANET.  
Nghiên cứu một cách chi tiết về môi trường mạng, các mô  
5
hình chuyển động đặc trưng. Thực nghiệm so sánh và đánh giá các  
giao thức định tuyến trong mạng VANET bằng NS2.  
So sánh, đánh giá thực tiễn các giao thức định tuyến trong  
mạng VANET nhằm có những cải tiến hơn nữa để nâng cao hiệu  
năng mạng.  
6. Bố cục của luận văn  
Luận văn được tổ chức thành ba chương như sau:  
Chương 1. Nghiên cứu tổng quan về mạng không dây và mạng  
VANET  
Chương 2. Nghiên cứu các giao thức định tuyến trong mạng  
VANET  
Chương 3. Thực nghiệm so sánh và đánh giá kết quả DSR,  
AODV, AOMDV và GPSR trong mạng VANET  
6
CHƢƠNG 1  
TỔNG QUAN VỀ MẠNG KHÔNG DÂY VÀ MẠNG VANET  
1.1. GIỚI THIỆU VÀ PHÂN LOẠI KHÔNG DÂY  
1.1.1. Giới thiệu  
1.1.2. Phân loại mạng không dây  
a. Phân loại theo định dạng và kiến trúc mạng  
b. Phân loại theo phạm vi bao phủ truyền thông  
c. Phân loại theo công nghệ truy cập đường truyền  
d. Phân loại theo các ứng dụng mạng  
1.2. MẠNG KHÔNG DÂY ĐẶC BIỆT VANET  
1.2.1. Giới thiệu về mạng VANET  
1.2.2. Đặc điểm mạng VANET  
1.2.3. So sánh giữa mạng MANET và VANET  
1.2.4. Mô hình lớp trong mạng VANET  
1.2.5. Ứng dụng và khó khăn  
Ứng dụng  
Khó khăn  
7
CHƢƠNG 2  
GIAO THỨC ĐỊNH TUYẾN TRONG MẠNG VANET  
2.1. CÁC THUẬT TOÁN ĐỊNH TUYẾN CƠ BẢN TRONG  
MẠNG  
2.1.1. Distance vector  
2.1.2. Link State  
2.1.3. Source routing  
2.1.4. Kỹ thuật Flowding  
2.2. YÊU CẦU ĐỐI VỚI THUẬT TOÁN ĐỊNH TUYẾN  
TRONG MẠNG VANET  
2.3. GIAO THỨC ĐỊNH TUYẾN TRONG MẠNG VANET  
2.3.1. Giao thức định tuyến DSR  
Hoạt động của giao thức DSR bao gồm hai cơ chế chính: cơ  
chế tạo thông tin định tuyến (Route Discovery) và cơ chế duy trì  
thông tin định tuyến (Route Maintanance).  
Cơ chế tạo thông tin định tuyến (Route Discovery):  
Tiến trình tạo thông tin định tuyến sẽ phát gói tin Route  
Request (RREQ) đến các node lân cận của nó trong mạng. Khi một  
node nhận gói RREQ thì nó sẽ tiến hành kiểm tra thông tin trong  
RREQ như sau:  
Bước 1: Thông qua trường request ID, nó sẽ kiểm tra xem  
đã nhận gói tin này hay chưa? Nếu đã tồn tại thì nó sẽ loại bỏ gói tin  
đó và phản hồi RREP về nguồn. Ngược lại thì qua bước 2.  
Bước 2: Nó kiểm tra trong Route Cache của nó có đường đi  
đến node đích mà còn hiệu lực hay không? Nếu có đường đi đến đích  
thì nó sẽ phản hồi lại cho node nguồn bằng gói Route Reply (RREP)  
chứa thông tin về đường đi đến đích và kết thúc tiến trình. Ngược lại  
8
thì qua bước 3.  
Bước 3: Nó kiểm tra địa chỉ đích cần tìm có trùng với điạ  
chỉ của nó hay không? Nếu trùng thì nó gởi lại cho node nguồn gói  
Route Reply (RREP) chứa thông tin về đường đi đến đích và kết thúc  
tiến trình. Ngược lại thì nó sẽ phát broadcast gói tin RREQ đến các  
node láng giềng của nó. Các nút láng giềng sau khi nhận gói tin  
RREQ sẽ thực hiện việc kiểm tra thông tin (quay về bước 1).  
Như vậy, quá trình này cứ tiếp tục cho đến khi node nguồn  
nhận được thông tin về đường đi đến đích hoặc thông tin rằng không  
thể định tuyến đến đích  
Cơ chế duy trì thông tin định tuyến (Route  
Maintanance)  
Route Maintanance cho phép các nút trong hệ thống mạng tự  
động bảo trì thông tin định tuyến trong Route Cache. Trong giao thức  
định tuyến DSR, các node khi chuyển gói tin trên mạng đều phải có  
nhiệm vụ xác nhận rằng các gói tin đó đã chuyển đến node kế tiếp  
hay chưa (thông qua sự phản hồi thông tin của node nhận)? Trong  
một trường hợp nào đó mà node đó phát hiện rằng gói tin không thể  
truyền đến node kế tiếp. Nó sẽ gởi gói Route Error (RERR) cho node  
nguồn để thông báo tình trạng hiện thời của liên kết và điạ chỉ của  
node kế tiếp mà không thể chuyển đi. Khi node nguồn nhận được gói  
RERR, nó sẽ xóa con đường đi mà liên kết bị hỏng trong Route cache  
và tìm một đường đi khác mà nó biết trong route cache hoặc sẽ khởi  
động một tiến trình route discovery mới nếu như không tồn tại đường  
đi thích hợp trong Route cache.  
2.3.2. Giao thức định tuyến AODV  
Quá trình định tuyến của AODV gồm 2 cơ chế chính: cơ chế  
tạo thông tin định tuyến và cơ chế duy trì thông tin định tuyến.  
9
Cơ chế tạo thông tin định tuyến (Route Discovery):  
Tiến trình Route Discovery được khởi động khi nào một node  
muốn trao đổi dữ liệu với một node khác mà trong bảng định tuyến  
của nó không có thông tin định tuyến đến node đích đó. Khi đó tiến  
trình sẽ phát broadcast một gói RREQ cho các node láng giềng của  
nó. Thông tin trong RREQ ngoài địa chỉ đích, địa chỉ nguồn, số hop-  
count (được khởi tạo giá trị ban đầu là 0),… còn có các trường: số  
sequence number của node nguồn, số broadcast id, giá trị sequence  
number được biết lần cuối cùng của node đích. Khi các node láng  
giềng nhận được gói RREQ, nó sẽ kiểm tra tuần tự theo các bước:  
Bước 1: Xem các gói RREQ đã được xử lý chưa? Nếu đã  
được xử lý thì nó sẽ loại bỏ gói tin đó và phản hồi RREP về nguồn.  
Ngược lại chuyển qua bước 2.  
Bước 2: Nếu trong bảng định tuyến của nó chứa đường đi  
đến đích, thì sẽ kiểm tra giá trị Destination sequence number trong  
entry chứa thông tin về đường đi với số Destination sequence number  
trong gói RREQ, nếu số Destination sequence number trong RREQ  
lớn hơn số Destination squence number trong entry thì nó sẽ không  
sử dụng thông tin trong entry của bảng định tuyến để trả lời cho node  
nguồn mà nó sẽ tiếp tục phát Broadcast gói RREQ đó đến cho các  
node láng giềng của nó. Ngược lại nó sẽ phát Unicast cho gói RREP  
ngược trở lại cho node láng giềng của nó để báo đã nhận gói RREQ.  
Gói RREP ngoài các thông tin như: địa chỉ nguồn, địa chỉ đích…còn  
chứa các thông tin: destination sequence number, hop-count, TTL.  
Ngược lại thì qua bước 3.  
Bước 3: Nếu trong bảng định tuyến của nó không có đường  
đi đến đích thì nó sẽ tăng số Hop-count lên 1, đồng thời nó sẽ tự động  
thiết lập một đường đi ngược (Reverse path ) từ nó đến node nguồn  
10  
bằng cách ghi nhận lại địa chỉ của node láng giềng mà nó nhận gói  
RREQ lần đầu tiên. Entry chứa đường đi ngược này sẽ được tồn tại  
trong một khoảng thời gian đủ để gói RREQ tìm đường đi đến đích  
và gói RREP phản hồi cho node nguồn, sau đó entry này sẽ được xóa  
đi.  
Quá trình kiểm tra này sẽ lặp tuần tự cho đến khi gặp node  
đích hoặc một node trung gian mà có các đều kiện thỏa bước 2.  
Trong quá trình trả về gói RREP, một node có thể nhận cùng lúc  
nhiều gói RREP, khi đó nó sẽ chỉ xử lý gói RREP có số Destination  
Sequence number lớn nhất, hoặc nếu cùng số Destination sequence  
number thì nó sẽ chọn gói RREP có số Hop-count nhỏ nhất. Sau đó  
nó sẽ cập nhật các thông tin cần thiết vào trong bảng định tuyến của  
nó và chuyển gói RREP đi.  
Cơ chế duy trì thông tin định tuyến:  
Cơ chế hoạt động của AODV là không cần phải biết thông tin  
về các nút láng giềng, chỉ cần dựa vào các entry trong bảng định  
tuyến, khi một node nhận thấy rằng Next hop (chặng kế tiếp) của nó  
không thể tìm thấy, thì nó sẽ phát một gói RRER (Route Error) khẩn  
cấp với số Sequence number bằng số Sequence number trước đó  
cộng thêm 1, Hop count bằng ∞ và gởi đến tất cả các node láng giềng  
đang ở trạng thái active, những node đó sẽ tiếp tục chuyển gói tin đó  
đến các node láng giềng của nó,...và cứ như vậy cho đến khi tất cả  
các node trong mạng ở trạng thái active nhận được gói tin này.  
Sau khi nhận thông báo này, các node sẽ xóa tất cả các đường  
đi có chứa node hỏng, đồng thời có thể sẽ khởi động lại tiến trình  
Route discovery nếu nó có nhu cầu định tuyến dữ liệu đến node bị  
hỏng đó bằng cách gởi một gói tin RREQ (với số Sequence number  
11  
bằng số Sequence number mà nó biết trước đó cộng thêm 1) đến các  
node láng giềng để tìm đến địa chỉ đích.  
2.3.3. Giao thức định tuyến AOMDV  
AOMDV là giao thức mở rộng của giao thức AODV để tìm  
kiếm và bổ sung thêm nhiều tuyến đường đi giữa điểm nguồn và  
điểm đích trong quá trình định tuyến.  
Cấu trúc bảng định tuyến  
Hình 2.12 cho thấy sự khác nhau trong cấu trúc bảng định  
tuyến giữa AODV và AOMDV, đầu vào của bảng định tuyến  
AOMDV có một tính năng mới là quảng bá các Hop count. Bên  
cạnh đó trong bảng định tuyến có bổ sung một danh sách các  
tuyến đường để lưu trữ các thông tin bổ sung cho các tuyến thay thế  
bao gồm: netx hop, last hop, hop count, thời gian timeout.  
Hình 2.12. Cấu trúc đầu vào của bảng định tuyến  
Cơ chế tạo thông tin định tuyến:  
Như trong AODV thì khi một node nguồn cần một con đường  
để đến một node đích thì node nguồn sẽ khởi tạo ra một quá trình tìm  
đường. Quá trình được thực hiện bằng cách tạo ra các RREQ, khi số  
lượng các RREQ tăng lên và tràn ngập toàn mạng thì một node có thể  
nhận được một số các bản sao của cùng một RREQ. Trong AODV thì  
chỉ có bản đầu tiên của RREQ được sử dụng để thành lập tuyến và  
12  
các bản sao tiếp theo sẽ bị loại bỏ, nhưng đối với giao thức AOMDV  
thì các bản sao này sẽ được lưu lại và kiểm tra. Khi một node trung  
gian nhận được một RREQ, nó sẽ kiểm tra xem có một hay nhiều  
tuyến đường dẫn hợp lệ đến các điểm đích  
Bước 1: Xem các gói RREQ đã được xử lý chưa? Nếu đã  
được xử lý thì nó sẽ loại bỏ gói tin đó và phản hồi RREP về nguồn.  
Ngược lại chuyển qua bước 2.  
Bước 2: Nếu trong bảng định tuyến của nó chứa đường đi  
đến đích, thì sẽ kiểm tra giá trị Destination sequence number trong  
entry chứa thông tin về đường đi với số Destination sequence number  
trong gói RREQ, nếu số Destination sequence number trong RREQ  
lớn hơn số Destination squence number trong entry thì nó sẽ không  
sử dụng thông tin trong entry của bảng định tuyến để trả lời cho node  
nguồn mà nó sẽ tiếp tục phát Broadcast gói RREQ đó đến cho các  
node láng giềng của nó. Ngược lại nó sẽ phát Unicast cho gói RREP  
ngược trở lại cho node láng giềng của nó để báo đã nhận gói RREQ.  
Gói RREP ngoài các thông tin như: địa chỉ nguồn, địa chỉ đích…còn  
chứa các thông tin: destination sequence number, hop-count, TTL.  
Ngược lại thì qua bước 3.  
Bước 3: Nếu trong bảng định tuyến của nó danh sách các  
đường đi đến đích không khả dụng thì nó sẽ tăng số Hop-count lên 1,  
đồng thời nó sẽ tự động thiết lập một đường đi ngược (Reverse path )  
từ nó đến node nguồn bằng cách ghi nhận lại tất cả các địa chỉ của  
node láng giềng mà nó nhận gói RREQ . Entry chứa đường đi ngược  
này sẽ được tồn tại trong một khoảng thời gian đủ để gói RREQ tìm  
đường đi đến đích và gói RREP phản hồi cho node nguồn, sau đó  
entry này sẽ được xóa đi.  
13  
Cơ chế duy trì thông tin định tuyến:  
Duy trì tuyến trong AOMDV là một phần mở rộng của  
duy trì tuyến trong AODV. Giống như AODV thì AOMDV cũng  
sử dụng các gói tin RERR. Một node có thể tạo ra hoặc chuyển tiếp  
một RRER đến đích, khi một tuyến đường đến đích bị gián đoạn,  
AOMDV sẽ khôi phục các gói tin chuyển tiếp qua các liên kết bị thất  
bại và gửi lại các tuyến thay thế, với nhiều tuyến đường thay thế thì  
khả năng các tuyến đường nhanh chóng trở nên cũ và không còn khả  
dụng, giải pháp là sử dụng thời gian time-out rất nhỏ để tránh lặp lại  
các tuyến cũ và thể hạn chế việc sử dụng nhiều đường dẫn  
2.3.4. Giao Thức định tuyến GPSR  
Giao thức này bao gồm hai phương thức chuyển gói: Chuyển  
tiếp tham lam (Greedy Forwarding) và Chuyển tiếp xung quanh vùng  
trống (Perimeter Forwarding) được sử dụng trong trường hợp phương  
thức chuyển tiếp tham lam không áp dụng được.  
Chuyển tiếp tham lam (Greedy Forwarding):  
Trong phương thức Greedy Forwarding, node đang chuyển dữ  
liệu sẽ dựa vào thông tin vị trí của các node lân cận và vị trí của node  
đích, nó tính toán các khoảng cách từ node đích tới các node lân cận  
của nó, từ đó chọn lựa node kế tiếp trong tiến trình truyền gói dữ liệu  
dựa sao cho khoảng cách từ node kế tiếp đến node đích là ngắn nhất,  
và gói sẽ tiếp tục được chuyển về phía node đích cho đến khi nó tới  
được node đích.  
14  
Hình 2.14. Phương thức chuyển tiếp Greedy Forwarding  
Tuy nhiên có những trường hợp mà phương thức Greedy  
Forwarding không thực hiện thành công như Hình 2.15 dưới đây:  
Hình 2.15. Greedy Forwarding không thành công  
Node x có khoảng cách về phía node đích D gần hơn những  
node lân cận là node w và node y nhưng node x không thể chuyển gói  
đến đích D vì node D không nằm trong vùng phủ song của x, do đó  
phải có một phương thức khác để chuyển gói trong những tình huống  
như thế này và GPSR sẽ sử dụng phương thức Perimeter Forwarding  
để thực hiện chuyển gói dữ liệu trong những tình huống không thể sử  
dụng Greedy Forwarding.  
15  
Chuyển tiếp xung quanh vùng trống (Perimeters  
Forwarding)  
Quy tắc bàn tay phải:  
Trong phần này tìm hiểu về trường hợp phương thức Greedy  
Forwarding không thực hiện được, và được thay thế bằng phương  
thức Perimeter Forwarding bằng việc sử dụng quy tắc bàn tay phải  
trên mô hình mạng không dây.  
Hình 2.16. Quy tắc bàn tay phải  
Quy tắc bàn tay phải trong hình 2.16 được thực hiện như sau:  
giả sử gói dữ liệu đi từ node y đến node x (trên cạnh xy), khi thực  
hiện quay cạnh xy ngược chiều kim đồng hồ sẽ gặp cạnh xz vậy gói  
sẽ đi qua tiếp trên cạnh xz, và cứ thế gói tiếp tục đi. Trong trường  
hợp này, hành trình của gói sẽ là y → x → z → y .  
Cách chuyển gói dùng quy tắc bàn tay phải được gọi là  
Perimeter Forwarding  
Cơ chế tạo thông tin định tuyến:  
Giao thức GPSR là sự kết hợp giữa 2 giải thuật Greedy  
Forwarding với Perimeter Forwarding  
Header gói GPSR bao gồm cờ dùng để xác định Greedy hay  
Perimeter. Tất cả các gói khởi tạo đều mặc định theo phương thức  
16  
Greedy Forwarding. Gói nguồn chứa thông tin vị trí node đích và  
thông tin này không bị thay đổi trên quá trính truyền  
Bước 1: Mỗi khi nhận gói thì node sẽ kiểm tra trong danh  
sách các node lân cận của nó xem có node lân cận nào gần đích hơn  
nó hay không. Nếu có thì thực hiện chuyển gói sang node lân cận đó,  
nếu không thì node sẽ đánh dấu gói và chuyển sang sử dụng phương  
thức Perimeter.  
Bước 2: Ở bước này, sau khi các gói được chuyển sang các  
node lân cận thì thực hiện việc kiểm tra xem đó có phải là node đích  
chưa? Nếu là đích thì kết thúc, còn chưa phải đích thì lặp lại quá trình  
này đến khi đến đích. Còn các gói được đánh dấu và chuyển sang  
khám phá đường theo phương thức Perimeter thì sử dụng quy tắc  
bàn tay phải để chuyển goi sang node lân cận tiếp theo, sau khi  
các gói được chuyển sang các node lân cận thì tại node này mặc  
định trả về phương thức Greedy rồi lặp lại Bước 1 cho đến khi tìm  
thấy đích.  
Cơ chế duy trì thông tin định tuyến:  
Để duy trì thông tin về các node lân cận tại một node, GPSR  
thực hiện việc phát quảng bá các gói beacon, những gói tin beacon  
được quảng bá có tính chu kỳ, mỗi node truyền một beacon để quảng  
bá địa chỉ MAC của nó, trong địa chỉ MAC này chứa đựng địa chỉ IP  
và vị trí của node đó, cứ sau mỗi khoảng thời gian truyền T > 4.5B  
(B là khoảng thời gian truyền giữa 2 lần truyền beacon liên tiếp), mà  
các node lân cận không nhận được beacon từ một node lân cận khác  
thì lúc đó router GPSR giả sử rằng node lân cận đã bị hỏng hoặc đã  
đi ra khỏi vùng bao phủ của node đó, và lúc đó nó sẽ xóa node lân  
cận đó ra khỏi danh sách trong bảng các node lân cận  
17  
CHƢƠNG 3  
THỰC NGHIỆM SO SÁNH VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CỦA  
DSR, AODV, AOMDV VÀ GPSR TRONG MẠNG VANET  
3.1. GIỚI THIỆU MÔI TRƢỜNG MÔ PHỎNG  
3.1.1. Phần mềm NS-2  
3.1.2. Phần mềm MOVE  
3.1.3. Phần mềm SUMO  
3.2. XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ SO SÁNH VÀ CÁCH THỨC  
PHÂN TÍCH KẾT QUẢ MÔ PHỎNG  
3.2.1. Xác định các thông số so sánh  
Tỷ lệ phân phát gói tin thành công ( Packet delivery ratio )  
Là tỷ lệ giữa số gói tin được phân phát thành công tới đích so  
với số gói tin được gửi đi từ nguồn phát.  
received data packets  
Packet delivery rate   
sent data packets  
Độ trễ đầu cuối trung bình của các gói tin (End-to-End  
delay)  
Thông số này lấy trung bình tổng thời gian truyền từ node  
nguồn đến node đích  
n
(treceive tsend  
)
i1  
end to end delay   
n
tsend,i  
: Thời gian gói thứ i được gởi tại node nguồn.  
treceive,i : Thời gian gói thứ i được gởi tại node nguồn.  
n : Số gói dữ liệu nhận được tại các node đích  
18  
Hop count  
Thông số này lấy trung bình số hop truyền của các gói dữ liệu  
nhận được. Thông số này cho biết số lượng hop mà các gói dữ  
liệu đi qua để tới được node đích.  
n
number hop  
i1  
hopcount  
n
n : Số gói dữ liệu nhận được tại các node đích  
3.2.2. Cách thức phân tích và biểu diễn kết quả mô phỏng  
a. Cấu trúc tệp vết chứa kết quả mô phỏng  
b. Công cụ phân tích và biểu diển kết quả mô phỏng  
Perl  
Gnuplot  
3.3. THIẾT LẬP MÔ PHỎNG MẠNG VANET TRÊN NS2  
3.3.1. Sơ đồ thực hiện mô phỏng  
Kịch  
File.nam  
Mô phỏng Nam  
bản  
chuyển  
động  
Các file  
kịch  
bản  
NS2  
(File.tcl)  
Kịch  
bản  
truyền  
dữ liệu  
Tách, bóc, phân  
tích dữ liệu  
File.tr  
Hình 3.8. Sơ đồ thực hiện mô phỏng  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 14180 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Nghiên cứu, so sánh các giao thức định tuyến trong mạng Vanet", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_nghien_cuu_so_sanh_cac_giao_thuc_dinh_tuyen.pdf