Luận văn Chính sách đối ngoại của liên minh châu Âu đối với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương trong bối cảnh mới

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
VŨ BÌNH MINH  
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU  
ĐỐI VỚI KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG  
TRONG BỐI CẢNH MỚI  
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÂU ÂU HỌC  
Hà Nội, 2018  
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
VŨ BÌNH MINH  
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU  
ĐỐI VỚI KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG  
TRONG BỐI CẢNH MỚI  
Ngành: Châu Âu học  
Mã số:  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
TS. ĐỖ TÁ KHÁNH  
Hà Nội, 2018  
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Liên minh châu Âu(EU) là một chủ thể quốc tế có vai trò rất quan trọng  
trên bàn cờ chính trị thế giới. EU cũng là một trụ cột lớn mạnh của nền kinh tế  
thế giới. Trong tiến trình phát triển, hội nhập và liên kết sâu, rộng của EU,  
nhiều thành tựu, chính sách chung có hiệu lực thực thi, góp phần quan trọng  
vào sự phát triển của thế giới nói chung cũng như các lĩnh vực cự thể như:  
hòa bình, ổn định, chính trị đối ngoại, hợp tác phát triển, kinh tế thương mại,  
đầu tư, tài chính, phát triển xã hội, quyền con người, giáo dục đào tạo…nói  
riêng. Một điểm nổi bật của EU là đóng góp vào sự phát triển của hoạt động  
chính trị ngoại giao, hợp tác phát triển cùng các chủ thể quốc tế khác. Chính  
sách đối ngoại chung của EU ra đời, phát triển góp phần quan trọng cho tiến  
trình thúc đẩy hòa bình, ổn định, hợp tác phát triển với các đối tác trên thế  
giới. Quan hệ hợp tác phát triển của EU và khu vực châu Á- Thái Bình Dương  
có bề dày truyền thống với từng đối tác riêng cũng như với cả khu vực, đạt  
nhiều thành tựu lớn giúp cho các chủ thể cùng có lợi, cùng phát triển hài hòa  
với lợi ích của chính mình.  
Châu Á-Thái Bình Dương là khu vực phát triển năng động với nhiều quốc  
gia, chủ thể lớn có tiếng nói quan trọng trên bàn cờ chính trị thế giới. Khu vực  
này gồm có các nước lớn: Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, ASEAN, Hàn  
Quốc,Austraylia, Liên bang Nga,…, đóng góp lớn vào sự phát triển chung của  
thế giới. Nền kinh tế khu vực cũng có vai trò to lớn trong nền kinh tế thế giới.  
Hợp tác phát triển của khu vực châu Á-Thái Bình Dương với thế giới góp  
phần quan trọng vào sự phát triển của thế giới và khu vực. Quan hệ hợp tác  
của châu Á-Thái Bình Dương và Liên minh châu Âu có vai trò rất quan trọng  
1
với sự phát triển của chính các chủ thể cũng như góp phần thúc đẩy sự ổn  
định, phát triển chung của thế giới.  
Xu hướng chủ đạo của nền chính trị thế giới là hòa bình, hợp tác phát triển  
mạnh giữa các chủ thể quốc tế. Quan hệ hợp tác giữa các quốc gia, chủ thể  
góp phần quan trọng vào thành tựu chung của thế giới duy trì, phát triển hòa  
bình, phát triển kinh tế, xã hội, các lĩnh vực khác của nhân loại. Tuy nhiên,  
bối cảnh quốc tế và các khu vực có nhiều thay đổi. Các cuộc bầu cử ở các  
quốc gia lớn trên thế giới có ảnh hưởng nhất định đến dường lối đối ngoại và  
hợp tác của quốc tế cả trên bình diện song phương và đa phương. Mỗi chủ  
thể, quốc gia có những đổi thay về chính trị nội bộ dẫn đến sự hợp tác phát  
triển giữa các quốc gia có những điều chỉnh khác nhau cho phù hợp điều kiện  
thức tế mới.  
Liên minh Châu Âu có những điều chỉnh ở mỗi cấp độ, lĩnh vực khác  
nhau các chính sách chung của liên minh cũng như của các nước thành viên.  
Chính sách đối ngoại chung của EU hình thành và phát triển cùng sự lớn  
mạnh, liên kết sâu rộng của Liên minh EU. Thông qua các Hiệp ước khác  
nhau của EU, chính sách đối ngoại của EU đã có những thành công và triển  
khai mạnh mẽ trong quan hệ hợp tác quốc tế của EU. Năm 2009, Hiệp ước  
Lisbon có hiệu lực, việc liên kết, hội nhập của Liên minh châu Âu mạnh mẽ  
hơn, sâu sắc hơn. Hiệp ước này đồng thời là cơ sở rất quan trọng cho việc  
thực thi chính sách đối ngoại của EU với các đối tác quốc tế của liên minh.  
Trong sự điều chỉnh chung của chính sách đối ngoại của EU trong bối cảnh  
quốc tế mới như thế nào và cụ thể với khu vực châu Á-Thái Bình Dương như  
thế nào có tầm quan trọng lớn đối với việc hợp tác phát triển giữa hai chủ thể  
cũng như góp phần vào sự phát triển chung của hòa bình, ổn định của thế giới.  
Việc tìm hiểu về chính sách đối ngoại của EU nói chung và chính sách đối  
ngoại của EU đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương nói riêng trong giai  
2
đoạn hiện nay có ý nghĩa thực tiễn và lí luận lớn đối với Việt Nam. Việc hội  
nhập ngày càng chủ động, sâu, mạnh của Việt Nam vào nền kinh tế khu vực  
và thế giới cũng cần có những điều chỉnh hợp lý, hài hòa lợi ích quốc gia  
cũng như các đối tác cụ thể trong bối cảnh quốc tế mới. Do vậy, đề tài tìm  
hiểu sâu về chính sách đối ngoại chung của EU giai đoạn sau năm 2009 đến  
nay đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương nhằm có cái nhìn toàn diện về  
Liên minh châu Âu, quan hệ hợp tác giữa EU và châu Á – Thái Bình Dương  
trong một giai đoạn có nhiều thay đổi lớn hiện nay. Đề tài cũng cố gắng tìm  
hiểu, đưa ra khuyến nghị có thể đối với Việt Nam trong tiến trình hội nhập  
quốc tế mạnh mẽ, quan hệ hợp tác phát triển sậu rộng với các chủ thể quốc tế  
cũng như với liên minh châu Âu, góp phần vào sự phát triển chung của đất  
nước hài hòa cùng sự phát triển của khu vực và thế giới.  
2. Tình hình nghiên cứu đề tài  
a) Tình hình nghiên cứu trong nước:  
Có nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu phong phú về lý luận quan hệ  
quốc tế như: Học Viện Quan hệ Quốc tế (2007), “Lý luận quan hệ quốc tế”,  
Sách tham khảo nội bộ, Quyển 1, Hà Nội 2007. Tác phẩm đề cập đến nhiều  
luận điểm, học thuyết nổi tiếng của các học giả có tiếng trên thế giới về quan  
hệ quốc tế. Sách là tập hợp các tri thức sâu, rộng để nghiên cứu về quan hệ  
quốc tế. Đây cũng là một cuốn sách rất hữu ích cho những ai quan tâm,  
nghiên cứu về lĩnh vực quan hệ quốc tế. Paul R. Viotti, Mark V. Kauppi  
(2003), “Lý luận quan hệ quốc tế”, Sách tham khảo, NXB Lao động, Hà Nội  
2003. Cuốn sách đề cập sâu rộng các vấn đề lý luận hữu ích cho độc giả quan  
tâm lĩnh vực nghiên cứu quan hệ quốc tế. Nhiều lý thuyết, lý luận sâu sắc của  
các học giả nổi tiếng thế giới được đề cập đến trong tác phẩm. Đây là một  
cuốn sách rất có ý nghĩa trong việc tiềm hiểu, nghiên cứu, nâng cao kiến thức  
về lĩnh vực quan hệ quốc tế. Nguyễn Thu Mỹ(2006), “Bài giảng: Vấn đề An  
3
ninh và Xung đột trong Quan hệ quốc tế”,Viện nghiên cứu Châu Mỹ, Hà Nội,  
2006. Tác giả đưa ra bức tranh toàn diện về lý luận các vấn đề liên quan đến  
an ninh, xung đột cũng như quan hệ quốc tế. Tác giả phân tích sâu, rộng về  
các vấn đề nổi bật của nền chính trị thế giới giai đoạn trước và trong thời kỳ  
chiến tranh Lạnh. Bên cạnh đó, tác phẩm đưa ra những nhận xét, góc nhìn về  
an ninh trong nền chính trị thế giới. Tác phẩm rất bổ ích cho việc tìm hiểu về  
quan hệ quốc tế đương đại.  
Về chính sách đối ngoại chung của EU và các lý luận liên quan có các  
tác phẩm: Đặng Minh Đức (2015), “Chính sách an ninh và đối ngoại chung  
của Liên minh châu Âu và một số gợi ý cho xây dựng cộng đồng an ninh –  
chính trị ASEAN”, Viện nghiên cứu Châu Âu. Tác giả đưa ra cái nhìn tổng  
quan về chính sách an ninh và đối ngoại chung của EU cùng những điều  
chỉnh hài hòa với bối cảnh thế giới mới. Tác giả cũng nhấn mạnh những  
khuyến nghị hữu ích cho khu vực ASEAN trong việc hội nhập, liên kết khu  
vực. Bùi Hồng Hạnh (2010), “Chính sách đối ngoại và an ninh chung của  
Liên minh Châu Âu (CFSP)), Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu số 1, 2010. Bài  
viết đưa ra cái nhìn hay về tiến trình hình thành và một số nội dung chủ chốt  
của Chính sách đối ngoại và An ninh chung của châu Âu cũng như đã tập  
trung xem xét một số vấn đề và khả năng thực thi chính sách đối ngoại chung  
trong khuôn khổ của CFSP hiện nay. Bùi Thị Thu Hà (2001), “ Chính sách  
đối ngoại và an ninh chung của EU và tác động đối với an ninh châu Âu”,  
khóa luận tốt nghiệp. Bài viết đã đề cập đến quá trình hình thành của CFSP,  
những vấn đề liên quan đến chính sách cũng như tác động của chính sách này  
đối với an ninh châu Âu.  
Bức tranh tổng quan về EU và các vấn đề nổi bật có các tác phẩm:  
Nguyễn Quang Thuấn (2009), “Quan hệ kinh tế Việt Nam - Liên minh Châu  
Âu: thực trạng và triển vọng”, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. Cuốn sách phân  
4
tích thực trạng quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - EU từ năm 1995 đến năm  
2008 với ba nội dụng chính là thương mại, đầu tư và hợp tác phát triển chính  
thức. Trên cơ sở đó sẽ đưa ra những định hướng, giải pháp thúc đẩy quan hệ  
hợp tác kinh tế Việt Nam - EU cho đến giai đoạn năm 2020. Nguyễn An Hà  
(Chủ biên) (2013), “Điều chỉnh chính sách phát triển của một số quốc gia chủ  
chốt Châu Âu giai đoạn khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu”,  
Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. Cuốn sách đi sâu vào phân tích sự điều chỉnh  
chiến lược phát triển của EU giai đoạn tới năm 2020 trên cơ sở nhận diện bối  
cảnh mới sau khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu và những  
nhân tố tác động tới khu vực của các quốc gia này. Cuốn sách đánh giá các  
tác động, rút ra một số gợi mở cho Việt Nam trong triển khai chiến lược phát  
triển bền vững về kinh tế môi trường và xã hội cũng như thúc đẩy quan hệ  
hợp tác với EU. Đinh Công Tuấn (2010), “Một số vấn đề chính trị - kinh tế  
nổi bật của Liên minh châu Âu trong giai đoạn 2011 – 2020 và tác động đến  
Việt Nam”,Viện nghiên cứu châu Âu, Hà Nội. Tác giả đưa ra cái nhìn tổng  
quan, sâu rộng về các vấn đề nổi bật của EU giai đoạn 2011 cho đến hiện nay,  
đồng thời khuyến nghị nhiều triển vọng cho giai đoạn tiếp theo. Tác giả đi sâu  
về lĩnh vực kinh tế, thương mại và khía cạnh chính trị, xã hội ở khu vực EU.  
Đinh Công Tuấn (Chủ biên) (2011), “Liên minh Châu Âu hai thập niên đầu  
thế kỷ XXI”, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. Cuốn sách phân tích, nghiên  
cứu, đánh giá những vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội của EU trong giai đoạn  
2000 - 2010, đánh giá những tác động của xu hướng phát triển của EU đối với  
thế giới, khu vực Châu Âu và Việt Nam trong thời gian tới.  
Khái quát các vấn đề mới khu vực châu Á –Thái Bình Dương có nhiều  
công trình nghiên cứu, tác phẩm bổ ích: PGS, TS. Đồng Xuân Thọ(2017), “Sự  
điều chỉnh chiến lược của các nước lớn đối với khu vực châu Á - Thái Bình  
Dương”, Tạp chí Cộng sản, Hà Nội. Tác giả đưa ra bức tranh tổng quan, sâu,  
5
rộng bối cảnh khu vực châu Á- Thái Bình Dương và những thay đổi chính  
sách của các nước lớn khu vực trong giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính và  
suy thoái kinh tế toàn cầu. Công trình rất bổ ích cho việc nhìn nhận, đánh giá  
tình hình khu vực cũng như những hàm ý chính sách đối ngoại cho các chủ  
thể khác nhau.  
b) Tình hình nghiên cứu của nước ngoài:  
Có nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng về chính sách đối ngoại  
chung của EU và những vấn đề lý luận liên quan như: Catherine Gegout  
(2010), “European foreign and security policy: States, Power, Institutions, and  
Amercican Hegemony”. Cuốn sách đề cập lý thuyết và cách tiếp cận về chính  
sách đối ngoại và an ninh chung, cơ chế ra quyết sách, phân tích quan điểm  
của EU về nhân quyền của Trung Quốc, mối quan hệ của EU với NATO.  
Michael Eugene Smith (2004), “ Europe’s foreign and security policy: The  
Institutionalization of Cooperation”. Cuốn sách chứng minh tầm quan trọng  
và mức độ của chính sách đối ngoại và an ninh của EU. Tác giả đưa ra cái  
nhìn sâu về chính sách an ninh và đối ngoại chung của EU cũng như cơ chế  
phối hợp của liên minh và các nước thành viên giai đoạn đầu hình thành chính  
sách đối ngoại và an ninh chung. Federiga Bindi, “The Foreign Policy of the  
European Union Assessing Europe's Role in the World”, (2010). Cuốn sách  
đưa ra cái nhìn tổng quan về chính sách an ninh và đối ngoại chung của EU  
đồng thời nêu vai trò quan trọng, đa dạng của EU trên bàn cờ chính trị thế  
giới. Angelos Chryssogelos, “The EU’s Crisis of Governance and European  
Foreign Policy”, Europe Programme | November 2016. Tác giả đề cập đến  
chính sách đối ngoại chung của EU và các nước thành viên cũng như vai trò  
của các thể chế của liên minh trong việc tìm tiếng nói đồng thuận về các vấn  
đề chính trị, quan hệ quốc tế mà EU quan tâm, tham gia. Cuốn sách chỉ ra sự  
hạn chế của cơ chế phối hợp giữa các thể chế của cấp liên minh và các nước  
6
thành viên về hoạch định, thực thi chính sách đối ngoại chung. Nicholas  
Moussis (2011), “Access to the European Union: law, economics, policies”.  
Cuốn sách đã đề cập đến bức tranh tổng thể về châu Âu. Đưa ra cái nhìn tổng  
quan về quá trình hội nhập châu Âu, sự phát triển của Liên minh châu Âu  
thông qua liên minh thuế quan và thị trường chung; phân tích các chính sách  
nội khối và chính sách đối ngoại chung của EU cũng như nhìn nhận về tiến  
trình hội nhập của EU. Svein S.Andersen and Kjell A.Eliassen(2001),  
“Making Policy in Europe” second edition, SAGE publications 2001. Cuốn  
sách đề cập sâu về cơ chế ra quyết định, cách thức hoạch định chính sách của  
EU nói chung cũng như việc cho ra đời chính sách an ninh và đối ngoại chung  
của EU. Eleanor E.Zeff and Ellen B.Pirro(2001), “The European Union and  
the Member States: Cooperation, Coordination and Compromise”, Lynne  
Rienner Publishers, 2001. Cuốn sách đề cập đến một số chính sách chung của  
EU và đi sâu nghiên cứu về cơ chế phối hợp, chia sẻ chính sách của cả cấp  
liên minh và cấp thành viên. Chính sách an ninh và đối ngoại chung của EU  
được nêu như một tham khảo chính về sự khó khăn của sự phối hợp chính  
sách giữa cấp độ liên minh và các nước thành viên. Ramses A.Wessel(1999),  
“The European’s Foreign and Security policy: a Legal Institutional  
Perspective”, Kluwer Law International the Hague/Boston/London, 1999. Tác  
giả đưa ra cái nhìn tổng quan về chính sách an ninh và đối ngoại chung của  
Liên minh châu Âu đặc biệt liên quan đến cơ chế ra quyết định hình thành,  
xây dựng chính sách về mặt luật thể chế của liên minh. Tác giả cũng chỉ ra  
những triển vọng phong phú về tương lai của chính sách đối ngoại và an ninh  
chung gắn với triển vọng phát triển của hệ thống thể chế cũng như chính liên  
minh như thế nào. Walter Carlsnaes, Helene Sjursen and Brian White(2004),  
“Contemporary Foreign Policy”, SAGE Publishers, 2004. Cuốn sách đưa ra  
cái nhìn sâu, rộng về chính sách đối ngoại của EU và các nước thành viên.  
7
Những mặt tích cực và hạn chế của việc hoạch định và thực thi chính sách đối  
ngoại chung nhằm nâng cao vai trò,tiếng nói của EU trên thế giới. Nicholas  
Moussis (2011), “Access to the European Union: law, economics, policies”.  
Cuốn sách đã đề cập đến bức tranh tổng thể về châu Âu. Đưa ra cái nhìn tổng  
quan về quá trình hội nhập châu Âu, sự phát triển của Liên minh châu Âu  
thông qua liên minh thuế quan và thị trường chung; phân tích các chính sách  
nội khối và chính sách đối ngoại chung của EU cũng như nhìn nhận về tiến  
trình hội nhập của EU. “National security versus global security”, tác giả  
Segun Osisanya đã khẳng định rằng giữa an ninh quốc gia và an ninh toàn cầu  
có mối quan hệ cộng sinh. Có những vấn đề an ninh của quốc gia cần sự hỗ  
trợ giải quyết từ quốc tế, và có những vấn đề an ninh toàn cầu cần sự phối hợp  
hiệu quả từ các quốc gia.  
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu  
a. Mục đích nghiên cứu đề tài:  
- Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu sâu, rộng về Chính sách đối ngoại của  
Liên minh Châu Âu đối với châu Á-Thái Bình Dương giai đoạn 2009 đến  
2018.  
- Mục tiêu cụ thể: tìm hiểu về các yếu tố như: Bối cảnh quốc tế, bối  
cảnh khu vực liên minh châu Âu và khu vực châu Á-Thái Bình Dương giai  
đoạn 2009 đến 2018; Nghiên cứu rõ về Nội dung chủ yếu của Chính sách đối  
ngoại EU giai đoạn 2009-2018;Tìm hiểu về Chính sách hợp tác phát triển của  
EU đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương giai đoạn 2009-2018; tìm hiểu  
về một số hoạt động thực tiễn của quan hệ đối ngoại, hợp tác phát triển giữa  
các chủ thể; Dự báo chính sách đối ngoại của EU với khu vực châu Á-Thái  
Bình Dương cũng như khái quát quan hệ EU-Việt Nam và đưa ra một số  
khuyến nghị có thể đối với Việt Nam.  
8
b. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài: chỉ ra được nội dung chủ yếu của chính  
sách an ninh và đối ngoại chung của EU giai đoạn 2009 đến nay, tập trung  
vào chính sách đối ngoại của EU đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương  
và đặc biệt với Việt Nam.  
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu  
- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách đối ngoại của Liên minh Châu Âu  
đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương.  
- Phạm vi nghiên cứu: Tìm hiểu về Cơ sở hình thành và phát triển chính  
sách đối ngoại chung của EU; Đưa ra nội dung chủ yếu của chính sách đối  
ngoại EU giai đoạn từ 2009 đến 2018, giai đoạn sau kkhungr hoảng tài chính  
và suy thoái kinh tế toàn cầu; Tìm hiểu về chính sách đối ngoại của EU đối  
với khu vực châu Á-Thái Bình Dương giai đoạn 2009-2018; khái quát quan  
hệ hợp tác giữa EU và Việt Nam và đưa ra một số khuyến nghị có thể cho  
Việt Nam.  
5. Phương pháp nghiên cứu  
Ngoài các phương pháp cơ bản và mang tính truyền thống như duy vật  
biện chứng và duy vật lịch sử, đề tài sẽ áp dụng các phương pháp phân tích,  
tổng hợp, so sánh để làm sáng tỏ các vấn đề cần được nghiên cứu trong phạm  
vi đề tài.  
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài  
a. Về mặt khoa học: đề tài đưa ra cái nhìn toàn diện về sự hình thành và phát  
triển, thực thi chính sách đối ngoại của một quốc gia, chủ thể. Cụ thể là  
chính sách đối ngoại chung của Liên minh châu Âu. Các yếu tố ảnh  
hưởng, nội hàm của chính sách đối ngoại chung của EU.  
b. Về mặt thực tiễn: đề tài đưa ra bức tranh tổng quát về chính sách đối ngoại  
chung của Liên minh châu Âu những năm 2009 đến nay. Bức tranh toàn  
cảnh về khu vực châu Á –Thái Bình Dương, khu vực EU, đặc biệt nhấn  
9
mạnh quan hệ hợp tác của EU và khu vực châu Á-Thái Bình Dương cũng  
như với Việt Nam.  
7. Kết cấu của luận văn  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, bảng chữ cái viết tắt, mục lục, danh mục tài  
liệu tham khảo, đề tài được kết cấu làm 03 phần, cụ thể như sau:  
Chương 1: Chính sách đối ngoại chung của Liên minh châu Âu  
Chương 2: Chính sách đối ngoại của EU đối với khu vực châu Á – Thái  
Bình Dương giai đoạn từ năm 2009 đến nay  
Chương 3: Dự báo chính sách đối ngoại chung của EU đối với khu vực  
châu Á – Thái Bình Dương và một số khuyến nghị cho Việt Nam  
10  
Chương 1: Chính sách đối ngoại chung của Liên minh châu Âu  
1.1. Cơ sở lí luận về Chính sách đối ngoại:  
Thứ nhất, Chính sách đối ngoại: Chính sách đối ngoại của mỗi quốc  
gia ra đời và phát triển trên cơ sở lí luận của các học thuyết chính trị, lý thuyết  
về chính sách đối ngoại cơ bản cũng như các giá trị phổ quát của mỗi quốc  
gia, dân tộc đó. Việc hình thành, phát triển và thực thi chính sách đối ngoại  
của mỗi quốc gia phụ thuộc nhiều yếu tố: nền chính trị quốc gia, tầng lớp cầm  
quyền, các chính trị gia nổi tiếng hay các nhóm học giả có tiếng nói trong xã  
hội, bối cảnh chính trị khu vực và thế giới, tư tưởng xã hội, nền tảng văn hóa,  
lịch sử của dân tộc, …Trong việc ra đời chính sách đối ngoại, vai trò của nhà  
lãnh đạo quốc gia, chủ thể quốc tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ngày nay,  
hoạt động quan hệ hợp tác quốc tế phong phú, đa dạng trên nhiều lĩnh vực và  
rông khắp các chủ thể. Chính sách đối ngoại của một quốc gia cũng có thể  
hiểu như sự kéo dài của chính sách đối nội với các chủ thể ngoài biên giới  
quốc gia.  
Hệ thống các lý thuyết chủ yếu: Về bản chất, các lý thuyết cung cấp  
một bản đồ hay khung tham chiếu giúp cho thế giới phức tạp xung quanh  
chúng ta trở nên dễ hiểu hơn. Việc chọn lựa lý thuyết nào là một quyết định  
quan trọng bởi vì mỗi lý thuyết dựa trên các giả định khác nhau về bản chất  
của chính trị quốc tế, mỗi lý thuyết đưa ra các tuyên bố nhân quả khác nhau  
và mỗi lý thuyết đưa ra một tập hợp các khuyến nghị khác nhau về chính sách  
đối ngoại. Chúng ta cần các lý thuyết để hiểu được cơn bão táp thông tin, thực  
tiễn cuộc sống, sự vụ diễn ra hàng ngày. Khó có thể đưa ra một chính sách tốt  
nếu các nguyên tắc tổ chức cơ bản của người đó sai lầm, giống như khó có thể  
xây dựng được các lý thuyết tốt nếu như không hiểu biết nhiều về thế giới  
thực. Cách tiếp cận đơn lẻ không thể nắm bắt được tất cả những điều phức tạp  
của nền chính trị thế giới đương đại. Các lý thuyết khác nhau giúp vạch ra  
11  
những điểm mạnh và những điểm yếu của chúng và thúc đẩy sự sàng lọc tiếp.  
Chúng ta nên hoan nghênh và khuyến khích sự đa dạng của các lý thuyết vê  
quan hệ quốc tế đương đại [32].  
Trong việc hoạch định, thực thi và nghiên cứu về chính sách đối ngoại có  
các lý thuyết chủ yếu được bàn luận đến như: Chủ nghĩa Hiện thực: nhìn  
nhận thế giới vô chính phủ, hỗn loạn. Các quốc gia, dân tộc luôn tìm kiếm và  
vì quyền lực quốc gia dân tộc mình là trên hết. Từ cổ chí kim, nhiều hoạt  
động có mục đích của các quốc gia, dân tộc luôn đề cao tính lợi ích quốc gia  
lên trên hết. Nhà lãnh đạo của các quốc gia cũng luôn vì quyền lực và lợi ích  
của đát nước mình làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động, phát ngôn hay quan  
hệ hợp tác quốc tế. Người dân hay doanh nghiệp có thể vì các lợi ích của bản  
thân hoạt động trao đổi quốc tế nhưng trên hết vẫn không thể vượt qua lợi ích  
của quốc gia, dân tộc mình.[10], [11]  
Chủ nghĩa Tự do: đề cao việc hợp tác quốc tế, thúc đẩy toàn cầu hóa về  
thương mại, đầu tư, hợp tác kinh tế nhằm tạo ra nền hòa bình, ổn định cho thế  
giới. Thế giới hiện đại được phát triển phồn thịnh, hòa bình được gìn giữ  
thành xu hướng chủ đạo cũng nhờ vai trò của hợp tác quốc tế trong các lĩnh  
vực từ kinh tế, thương mại, đầu tư và các hoạt động trao đổi tự do khác xuyên  
biên giới. Những lý luận của chủ nghĩa tự do giúp cho các chủ thể tham gia  
hoạt động giao thương quốc tế càng có niềm tin và kết quả tốt đẹp hơn. Hợp  
tác phát triển, hoạt động xuyên biên giới, thế giới phẳng, toàn cầu hóa đang là  
xu hướng chủ đạo của thế giới đại đồng.[10], [11]  
Chủ nghĩa Chức năng: khuyến nghị hợp tác từ các lĩnh vực lan tỏa sang  
các lĩnh vực khác sâu rộng hơn. Hội nhập và liên kết quốc tế là một tiến trình  
nhiều khó khăn, thách thức do sự khác biệt của các chủ thể tham gia. Việc  
hợp tác, cùng liên kết trong những lĩnh vực đơn nhất, phổ quát, dễ hòa nhập  
dẫn đến các liên kết sâu, rộng hơn của các lĩnh vực khác là một quá trình  
12  
được thực hiện tốt, thuận lợi hơn. Từ các liên kết về ngành nghề, việc làm đến  
trao đổi thương mại, đầu tư đến tài chính, kinh tế rồi tiền tệ, ngân hàng, …liên  
minh châu Âu cho ví dụ sâu sắc về hội nhập liên kết sâu, rộng các lĩnh vực  
khác của cộng đồng.[10], [11]  
Chủ nghĩa Kiến tạo: nhấn mạnh đến bản sắc quốc gia và bản sắc xã hội  
của mỗi quốc gia nhằm giải thích về điểm mấu chốt trong đường lối chính trị,  
chính sách quốc phòng an ninh, chính sách đối ngoại của các quốc gia này.  
Các quốc gia,dân tộc có giá trị văn hóa, tư tưởng chính trị, đặc tính xã hội  
khác nhau. Trong mỗi quốc gia, dân tộc lại bao gồm nhiều chủ thể có tư  
tưởng, giá trị khác nhau. Việc hoạch định, thực thi chính sách điều hành, phát  
triển xã hội nói chung và chính sách đối ngoại nói riêng phụ thuộc vào nhiều  
biến số của bối cảnh quốc gia đó bên cạnh ảnh hưởng của nền chính trị khu  
vực, thế giới. Lý thuyết này giúp cho các nhà hoạch định, thực thi chính sách  
có sự linh hoạt về làm và thực hiện chính sách đối ngoại của quốc gia, dân tộc  
mình. [10], [11]  
Khái niệm quyền lực: Quyền lực cứng là kiểm soát về quân sự, ngoại  
giao, trừng phạt về kinh tế để gia tăng lợi ích quốc gia. Quyền lực mềm là  
nguồn lực chính trong nghệ thuật quản lý đất nước, là khả năng thuyết phục  
người khác làm theo những gì mình muốn (cùng với sức mạnh thiết lập luật  
chơi – yếu tố thường bị bỏ qua một cách kỳ lạ trong những cuộc đối thoại  
hiện nay về quyền lực cứng và mềm). Các công cụ quyền lực bao gồm: lực  
lượng vũ trang, các cơ quan thực thi pháp luật và tình báo, các cơ quan chính  
phủ khác nhau giành riêng cho ngoại giao song phương và công cộng, viện  
trợ nước ngoài, kiểm soát tài chính quốc tế.  
Khái niệm an ninh và an ninh quốc gia: An ninh, hiểu theo một nghĩa  
đơn giản nhất, là khả năng giữ vững sự an toàn trước các mối đe dọa. An ninh  
có ý nghĩa là sự tồn tại, an toàn, bình an, không có nỗi lo, rủi ro, mối nguy, sự  
13  
cố hay tổn thất về người và của. Ngược lại với an ninh là mất an ninh là rủi  
ro, là nguy hiểm, là tổn thất… Tuy nhiên, an ninh không phải là một khái  
niệm tĩnh mà là một khái niệm động và trải qua nhiều thay đổi về cách hiểu,  
cũng như cách tiếp cận. An ninh quốc gia là vấn đề hệ trọng, quyết định đến  
vận mệnh của quốc gia, dân tộc nên mọi quốc gia đều phải tập trung củng cố  
và xây dựng, tăng cường tiềm lực an ninh và bảo vệ vững chắc an ninh quốc  
gia. Đây là việc làm tất yếu và thường xuyên, là nghĩa vụ thiêng liêng của mọi  
công dân ở quốc gia đó. Trong lịch sử nhân loại, an ninh quốc gia bao giờ  
cũng là vấn đề được đặt lên hàng đầu, là nhiệm quan trọng nhất. Các quốc gia  
luôn tìm mọi cách tăng cường quốc phòng, tiềm lực quân sự của mình, chạy  
đua vũ trang để tăng cường khả năng tự bảo vệ cho mình. An ninh quốc gia  
không nên hiểu theo nghĩa hẹp là bảo vệ nhà nước trước những cuộc tấn công  
quân sự qua biên giới lãnh thổ mà an ninh quốc gia còn phải đối mặt với  
những thách thức phi truyền thống. An ninh quân sự: An ninh quân sự ngụ ý  
khả năng của một quốc gia để bảo vệ chính mình, và ngăn chặn sự xâm lược  
quân sự từ bên ngoài. Ngoài ra an ninh quân sự bao hàm khả năng của một  
quốc gia để thực thi các lựa chọn chính sách của mình bằng cách sử dụng vũ  
lực quân sự. An ninh chính trị: là một thành phần quan trọng của an ninh  
quốc gia, an ninh chính trị là sự ổn định của trật tự xã hội. An ninh chính trị  
cùng với an ninh quân sự và an ninh xã hội tạo nên một khuôn khổ cho an  
ninh quốc gia. An ninh chính trị liên quan đến bảo vệ chủ quyền đất nước và  
hệ thống chính trị, sự an toàn xã hội từ các mối đe dọa nội bộ bất hợp pháp và  
các mối đe dọa hay áp lực từ bên ngoài. An ninh kinh tế: Trong hệ thống  
phức tạp hiện nay của thương mại quốc tế, đặc trưng bởi các thỏa thuận đa  
quốc gia phụ thuộc lẫn nhau, an ninh kinh tế là sự tự do thực hiện việc lựa  
chọn chính sách phát triển của một quốc gia theo cách mong muốn; tự do  
kiểm soát các quyết định kinh tế và tài chính của họ. An ninh kinh tế đòi hỏi  
14  
khả năng bảo vệ sự phồn thịnh, giàu có của một quốc gia và tự do kinh tế từ  
các mối đe dọa bên ngoài. Vì vậy, nó bao gồm chính sách kinh tế, thương  
mại, tài chính và một số cơ quan thực thi pháp luật. An ninh năng lượng:  
thường được định nghĩa ở mức độ mà một quốc gia hoặc những cá nhân liên  
quan có quyền hạn đối với các nguồn năng lượng như dầu mỏ, khí đốt, nước  
và khoáng chất. [5], [7]  
1.2. Sự ra đời chính sách đối ngoại chung của EU  
Ý tưởng cho việc ra đời một chính sách về đối ngoại, an ninh và quốc  
phòng chung được định hình từ thành công của ba cộng đồng giữa các nước  
châu Âu: Cộng đồng Than và Thép Châu Âu (ECSC) năm 1951, Cộng đồng  
kinh tế Châu Âu (EEC) và Cộng đồng năng lượng nguyên tử Châu Âu  
(Euratom) năm 1957. Ba cộng đồng này đã luôn được thúc đẩy thông qua một  
loạt các đề xuất, có cùng một mục tiêu phát triển. Sự thất bại trong năm 1954  
của các kế hoạch thành lập Cộng đồng Quốc phòng Châu Âu, tức một đội  
quân châu Âu tích hợp dưới sự chỉ huy chung, được gọi là kế hoạch “Pleven”,  
cũng như một cộng đồng chính trị châu Âu (cấu trúc liên bang hoặc liên  
minh), theo sau đó là sự không thành công của kế hoạch “Fouchet” đầu những  
năm 1960, đó là dự kiến một liên minh của các quốc gia với chính sách đối  
ngoại và quốc phòng chung.  
Tuy nhiên, những nỗ lực trong lĩnh vực này vẫn tiếp tục nhưng trở  
thành mục tiêu ít tham vọng hơn và chuyển dần sang phương thức hội nhập có  
chủ quyền. Kết quả là dẫn đến sự ra đời chính thức của Tổ chức Hợp tác  
chính trị châu Âu vào năm 1970 và năm 1974 một cấu trúc mới – Hội đồng  
châu Âu. Với hiệu lực của Đạo luật Châu Âu Thống nhất vào năm 1987,  
Cộng đồng châu Âu được hình thành từ Tổ chức Hợp tác chính trị Châu Âu  
có được nền tảng thế chế và pháp lý riêng của mình.[4]  
15  
1.2.1. Bối cảnh ra đời chính sách an ninh và đối ngoại chung của EU:  
1.2.1.1. Bối cảnh quốc tế: Tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến  
động cũng tác động mạnh đến châu Âu. Sự chấm dứt đối đầu Xô – Mỹ, sự sụp  
đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu tạo ra khoảng trống  
quyền lực mà không một quốc gia riêng lẻ nào ở châu Âu có thể lấp đi được.  
Trong khi Mỹ bị tổn thất rất nhiều trong cuộc chạy đua cùng Liên Xô trong  
thời kỳ Chiến tranh Lạnh thì đây chính là cơ hội để châu Âu có thể vươn lên  
thoát khỏi lệ thuộc Mỹ. Ngoài ra còn hai sự kiện tác động lên quá trình đẩy  
nhanh việc hình thành CFSP chính là Chiến tranh vùng Vịnh đầu tiên kết thúc  
và cuộc khủng hoảng Nam Tư. Các nước châu Âu thấy lo lắng và phải đối mặt  
với một khoảng trống quyền lực sau khi bố trí lại số lượng quân đội Mỹ. Cộng  
đồng Châu Âu mong muốn hội nhập sâu hơn và có tiếng nói thống nhất hơn,  
Hiệp ước Maastricht và CFSP ra đời vào cuối năm 1992.  
Bên cạnh đó sự bùng nổ của cuộc khủng hoảng Nam Tư cũng làm tăng  
yêu cầu Cộng đồng châu Âu có tiếng nói thống nhất. Năm 1991, chứng kiến  
giai đoạn đầu của một loạt các xung đột bạo lực trong lãnh thổ của Liên bang  
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Nam Tư cũ. Trước cuộc khủng hoảng, Nam Tư đã  
tổ chức một vị trí đặc quyền với các nước châu Âu do tầm quan trọng về địa  
chính trị của mình giữa khối Liên Xô với các nước phương Tây. Vì vậy, sau  
khi chính quyền Mỹ cho thấy rằng các đồng minh châu Âu cần phải đi đầu và  
người châu Âu miễn cưỡng đề cử lực lượng gìn giữ hòa bình dưới sự bảo trợ  
của Liên Hợp Quốc. Cộng đồng Châu Âu nhận ra sự thiếu thống nhất trong  
lĩnh vực chính trị và thiếu phương tiện để hành động trong lĩnh vực quốc  
phòng. [3], [4]  
1.2.1.2. Bối cảnh của Liên minh châu Âu: Trong thời kỳ Chiến tranh  
Lạnh, châu Âu hầu như chịu phụ thuộc chiếc ô bảo vệ của Hoa Kỳ về an ninh,  
quốc phòng. Các vấn đề an ninh và quân sự đều bị chi phối nhiều bởi Tổ chức  
16  
Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Khi suy giảm của răn đe hạt nhân và  
tầm quan trọng của sức mạnh kinh tế ngày càng tăng, một số thành viên của  
Cộng đồng châu Âu mong muốn phát triển cộng đồng gắn kết và sâu rộng  
hơn1. Trong tình thế như vậy, các nước thành viên EC đã buộc phải tìm cách  
vượt qua những khó khăn để thực hiện mong muốn mà họ ấp ủ từ lâu, đó là  
mở rộng liên kết sang lĩnh vực chính trị cụ thể là lĩnh vực chính sách đối  
ngoại và an ninh, quốc phòng. [3], [4]  
Công đồng EC và các nước thành viên coi chính sách an ninh và đối  
ngoại chung như phương tiện để bảo vệ lợi ích quốc gia cũng như giúp Cộng  
đồng châu Âu vươn lên chủ động trong các vấn đề thế giới và khu vực liên  
quan. Cơ cấu hợp tác an ninh và chính trị giữa các nước thành viên châu Âu  
được bổ sung thể chế mới sẽ giúp ngăn ngừa các cuộc xung đột, bất đồng trong  
ngôi nhà chung châu Âu. Cũng theo lời của Walter Hallstein, Chủ tịch đầu tiên  
của Ủy ban châu Âu thì một lý do cho việc ra Cộng đồng Châu Âu là cho phép  
châu Âu có thể tham gia nhiều, có trách nhiệm và hiệu quả các vấn đề khu vực  
và thế giới liên quan. Điều quan trọng đối với cộng đồng là để có thể có một  
tiếng nói chung và hành động thống nhất trong các quan hệ kinh tế với các đối  
tác, chủ thể quốc tế. Nhu cầu bên ngoài và mong đợi của EU đóng vai trò tích  
cực hơn trong hệ thống quốc tế cũng có thể là một trong những yếu tố đằng sau  
việc xây dựng CFSP. [37]  
Tóm lại, những năm đầu trong tiến trình hội nhập châu Âu, vai trò của Cộng  
đồng Châu Âu trên trường quốc tế dựa trên một phần mở rộng của chính sách phổ  
biến của nó như chính sách thương mại chung và chính sách nông nghiệp chung.  
Trong ngoại giao, lĩnh vực chính trị và an ninh, các nước thành viên của Cộng  
đồng Châu Âu duy trì quyền tự chủ tương đối lớn chứ không chịu ảnh hưởng nhiều  
của Cộng đồng EEC. Hiệp ước Maastricht có hiệu lực tạo ra một liên minh với ba  
17  
trụ cột hợp tác trong đó chính sách đối ngoại và an ninh chung (CFSP) là trụ cột  
thứ hai. Từ đó, EEC muốn có vai trò thống nhất, quan trọng trên bàn cờ chính trị  
thế giới.  
1.3. Nội dung chính sách đối ngoại và an ninh chung của EU  
Nội dung chủ yếu của chính sách đối ngoại chung của các quốc gia chính là  
mục tiêu và nguyên tắc hoạt động của chính sách. Việc thực thi chính sách đối  
ngoại như thế nào có ý nghĩa quyết định sự thành công của chính sách đối ngoại của  
mỗi chủ thể. EU đưa ra chính sách đối ngoại chung gồm mục tiêu, nguyên tắc hoạt  
động và bộ máy vận hành là một bước thành công lớn cho chính sách đi vào thực  
tiễn.  
1.3.1. Mục tiêu và nguyên tắc của CFSP: Các vấn đề chính trị, an ninh, quân  
sự bên trong và bên ngoài lãnh thổ Liên minh châu Âu được đề cập đến bắt đầu từ  
hiệp ước Maastricht (năm 1992), hiệp ước Amsterdam (năm 1999), hiệp ước Nice  
(năm 2003) và mới đây là hiệp ước Lisbon (năm 2009). Hiệp ước Maastricht tạo  
nền tảng cho sự ra đời của CFSP và được bổ sung và phát triển thông qua các hiệp  
ước tiếp theo. Sự kiện Hiệp ước Lisbon đã ra đời và có hiệu lực vào tháng 12 năm  
2009 đóng vai trò pháp lý gắn kết các quốc gia Châu Âu, là tiền đề quan trọng tạo  
cơ hội thực hiện những kế hoạch đầy tham vọng của tổ chức châu lục này và giúp  
nó vươn mình ra thế giới. CFSP được xây dựng nhằm mục tiêu:  
- Bảo vệ những giá trị chung, những lợi ích cơ bản và độc lập của Liên minh.  
- Tăng cường hợp tác an ninh giữa các nước thành viên.  
- Duy trì hòa bình và tăng cường an ninh quốc tế theo nguyên tắc của Hiến  
chương Liên Hiệp Quốc, đồng thời thúc đẩy và tăng cường hợp tác quốc tế  
trong các vấn đề an ninh.  
- Tăng cường dân chủ và thúc đẩy phát triển dân chủ, tôn trọng nhân quyền và  
các quyền tự do cơ bản của con người.[29]  
18  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 77 trang yennguyen 12720 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Chính sách đối ngoại của liên minh châu Âu đối với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương trong bối cảnh mới", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_chinh_sach_doi_ngoai_cua_lien_minh_chau_au_doi_voi.pdf