Tài liệu Hướng dẫn chẩn đoán điều trị, phục hồi chức năng đối với trẻ bại não

Cơ quan phát hành: Bộ Y tế  
BỘ Y TẾ  
HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN  
ĐIỀU TRỊ, PHỤC HỒI CHỨC NĂNG  
ĐỐI VỚI TRẺ BẠI NÃO  
(Ban hành kèm theo Quyết định số /QĐ-BYT ngày / /2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế)  
(Hướng dẫn về Ngôn ngữ trị liệu)  
Hà Nội, năm 2020  
Tài liệu này được xây dựng với sự hỗ trợ của USAID trong khuôn khổ  
Dự án Tăng cường “Chăm sóc Y tế và Đào tạo Phục hồi chức năng”  
do Tổ chức Humanity &Inclusionthực hiện.  
MỤC LỤC  
Danh mục chữ viết tắt  
Augmentative and Alternative Communication  
Giao tiếp tăng cường và thay thế  
Activities of Daily Living  
AAC  
ADL  
AAT  
CBR  
CFCS  
COPM  
CP  
Sinh hoạt hàng ngày  
Adaptive & Assistive Technology  
Kỹ thuật Trợ giúp & Thích ứng  
Community-based rehabilitation  
Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng  
Communication Function Classification System  
Hệ thống Phân loại Chức năng Giao tiếp  
Canadian Occupational Performance Measure  
Đo lường Thực hiện hoạt động Canada  
Cerebral Palsy  
Bại não  
Evidence-based practice  
Thực hành dựa vào chứng cứ  
EBP  
Eating and Drinking Ability Classification System  
Hệ thống Phân loại Khả năng ăn và uống  
Ear, Nose & Throat  
EDACS  
ENT  
Tai, Mũi & Họng  
Functional Communication Classification System  
Hệ thống phân loại giao tiếp chức năng  
FCCS  
Flexible Endoscopic Evaluation of Swallowing  
Thăm dò nuốt bằng nội soi mềm  
Functional Mobility Scale  
FEES  
FMS  
Thang điểm lượng giá chức năng di chuyển  
Goal Attainment Scaling  
GAS  
Thang điểm đánh giá thiết lập Mục tiêu  
Gross Motor Function Classification System  
Hệ thống Phân loại Chức năng Vận động thô  
Gross Motor Function Measure  
Đo lường Chức năng Vận động thô  
Gastroesophageal Reflux Disease  
Bệnh trào ngược dạ dày – thực quản  
International Classification of Function  
Phân loại Quốc tế về Hoạt động chức năng, Khiếm khuyết và Sức khoẻ  
Key Performance Indicator  
Chỉ số Đánh giá Khả năng Thực hiện  
Manual Abilities Classification Scale  
Thang Phân loại các Khả năng của tay  
Ministry of Education & Training  
Bộ Giáo dục & Đào tạo  
GMFCS  
GMFM  
GORD  
ICF  
KPI  
MACS  
MOET  
MOH  
NCH  
Ministry of Health  
Bộ Y tế  
National Children’s Hospital  
Bệnh viện Nhi Trung ương  
Oropharyngeal Dysphagia  
Khó nuốt giai đoạn miệng – hầu  
OPD  
Trang | 1  
 
Occupational Therapy  
Hoạt động trị liệu  
OT  
Physiotherapy  
Vật lý trị liệu  
PT  
Speech and Language Therapy/Therapist  
Ngôn ngữ trị liệu/Kỹ thuật viên Ngôn ngữ trị liệu  
Schedule for Oral-Motor Assessment  
Chương trình đánh giá vận động miệng  
Speech Therapist  
Kỹ thuật viên Ngôn ngữ trị liệu  
Specific, Measurable, Attainable/Achievable, Realistic, Time-bound  
Cụ thể, Đo lường được, Có thể đạt được, Thực tiễn, Xác định thời gian  
Videofluoroscopic Swallow Study  
Thăm dò nuốt qua quay video có cản quang  
World Health Organization  
SLT  
SOMA  
ST  
SMART  
VFSS  
WHO  
Tổ chức Y tế Thế giới  
Trang | 2  
1. Giới thiệu  
1.1. Sự cần thiết phải có các Tài liệu Hướng dẫn  
Bại não là một rối loạn phức tạp. Đây là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra tình trạng khuyết tật về  
thể chất ở trẻ em, xuất phát từ nhiều bệnh nguyên khác nhau, dẫn đến các biểu hiện lâm sàng phong  
phú và đa dạng. Sự đa dạng của bại não thể hiện ở các dạng khiếm khuyết vận động, các thể vận  
động, các mức độ của rối loạn vận động (liên quan đến chức năng) và các thương tật thứ phát đi  
kèm.  
Trẻ bại não ở Việt Nam có các khiếm khuyết và nhu cầu hỗ trợ được giải quyết thông qua các hệ  
thống chăm sóc sức khoẻ, chăm sóc phục hồi chức năng (PHCN) và chăm sóc xã hội. Các hướng  
dẫn về xử lý trẻ bị bại não là cần thiết để:  
● Hiểu rõ hơn về vai trò và trách nhiệm của các chuyên gia y tế trên tất cả các tuyến/mức độ  
chăm sóc sức khoẻ và PHCN ở Việt Nam  
● Cho phép tiếp cận kịp thời với các can thiệp thích hợp nhằm tăng cường tối đa các khả năng  
chức năng và chất lượng cuộc sống cho trẻ bại não và gia đình trẻ.  
Bộ Tài liệu Hướng dẫn này bao gồm các tài liệu sau: Hướng dẫn chẩn đoán can thiệp Phục hồi chức  
năng chung, một Hướng dẫn Kỹ thuật cho Vật lý trị liệu và một Hướng dẫn Kỹ thuật cho Hoạt động  
trị liệu và một Hướng dẫn Kỹ thuật cho Ngôn ngữ trị liệu. Các tài liệu này tập hợp lại tạo nên một  
bộ các Hướng dẫn (được gọi là "các Hướng dẫn") để can thiệp toàn diện trẻ bại não.  
Hướng dẫn về Ngôn ngữ trị liệu (NNTL) cho trẻ bại não này đưa ra các khuyến cáo và hướng  
dẫn về hình thức chăm sóc PHCN cần được cung cấp cũng như các khuyến cáo kèm theo về hệ  
thống tổ chức, chăm sóc đa ngành và toàn diện, chăm sóc lấy người bệnh làm trung tâm, hỗ trợ gia  
đình và tham gia của gia đình, lộ trình chăm sóc và giới thiệu chuyển tuyến, xuất viện và theo dõi,  
tái hoà nhập cộng đồng và tham gia vào xã hội.  
1.2. Đối tượng của các Tài liệu Hướng dẫn  
Hướng dẫn này chủ yếu là một công cụ nguồn về thực hành cho các Kỹ thuật viên Ngôn ngữ trị liệu  
liên quan đến PHCN cho trẻ bại não.  
Hướng dẫn sẽ hữu ích cho bất kỳ chuyên gia nào quan tâm đến PHCN cho trẻ bại não bao gồm các  
bác sĩ, bác sĩ thần kinh, bác sĩ PHCN, điều dưỡng, kỹ thuật viên vật lý trị liệu, kỹ thuật viên hoạt  
động trị liệu, kỹ thuật viên dinh dưỡng, kỹ thuật viên chỉnh hình, dược sĩ, nhà tâm lý học, các kỹ  
thuật viên về sức khoẻ cộng đồng, nhân viên xã hội, nhân viên cộng đồng, trẻ bại não, gia đình và  
người chăm sóc của trẻ.  
1.3. Mục đích của Tài liệu Hướng dẫn  
Các Hướng dẫn này có ý nghĩa là một hướng dẫn nguồn để xử lý PHCN cho những bệnh nhân bại  
não ở Việt Nam. Các Hướng dẫn này không mang tính chỉ định mà chỉ đưa ra các ý tưởng khác  
Trang | 3  
       
nhau về cách can thiệp. Căn cứ vào các Hướng dẫn này có thể lựa chọn các hoạt động hoặc trong  
một số trường hợp có thể điều chỉnh hoạt động cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế của địa phương.  
Các Hướng dẫn cũng giúp mọi người nhận thức rõ hơn về vai trò và chức năng của những người có  
liên quan đến chăm sóc PHCN cho trẻ bại não. Các tài liệu cũng có thể được đơn giản hóa để phù  
hợp với đội ngũ nhân viên có trình độ thấp hơn hoặc cho trẻ bại não và gia đình.  
Các Hướng dẫn cũng có thể nêu bật những thiếu hụt và nhu cầu về nguồn nhân lực cho các chuyên  
ngành cụ thể như là các Kỹ thuật viên NNTL đủ trình độ chuyên môn và các Kỹ thuật viên HĐTL  
cũng như đưa ra các khuyến cáo mục tiêu cho 5 - 10 năm tới về cách thức cải thiện chất lượng  
PHCN cho trẻ bại não ở Việt Nam.  
1.4. Lưu ý  
Hướng dẫn này không hoàn toàn đóng vai trò như một chuẩn mực chăm sóc y tế. Các chuẩn mực  
chăm sóc được xác định trên cơ sở tất cả các dữ liệu lâm sàng có được cho từng trường hợp cụ thể  
và có thể thay đổi khi kiến thức khoa học, tiến bộ công nghệ và các mô hình chăm sóc phát triển.  
Việc tuân thủ theo các hướng dẫn sẽ không đảm bảo kết quả thành công trong mọi trường hợp và  
chọn lựa cuối cùng về đánh giá lâm sàng hoặc kế hoạch can thiệpcụ thể phải dựa trên các dữ liệu  
lâm sàng của bệnh nhân cũng như dựa trên chẩn đoán và các hình thức can thiệp sẵn có. Tuy nhiên,  
trong trường hợp có những quyết định khác hẳn các hướng dẫn này, nên ghi chép đầy đủ trong hồ  
sơ bệnh án vào thời điểm đưa ra quyết định.  
1.5. Theo dõi và cung cấp dịch vụ  
Năng lực đánh giá chất lượng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ là cần thiết để cung cấp thông  
tin cho thực hành lâm sàng và cải thiện kết quả của bệnh nhân. Điều quan trọng và cần thiết là  
lượng giá, theo dõi và đánh giá các chỉ số hoạt động chính và các đo lường kết quả để chứng minh  
hiệu quả và hiệu suất của các dịch vụ PHCN cho trẻ bại não.  
Thu thập dữ liệu phải:  
. Liên kết với các khuyến cáo trong các hướng dẫn và đo lường sự tuân thủ với chăm sóc dựa  
trên chứng cứ.  
. Thường xuyên và liên tục  
. Liên quan đến đo lường chuẩn hoá và trở thành một phần của quy trình cải thiện chất lượng  
dựa trên chứng cứ  
Các yếu tố dữ liệu cần phản ánh các khía cạnh thiết yếu của chăm sóc PHCN cho trẻ bại não và bao  
gồm các đo lường về:  
. Quá trình chăm sóc  
. Thay đổi chức năng  
. Tham gia vào các hoạt động trong cuộc sống và cộng đồng  
. Chất lượng cuộc sống  
. Sự hài lòng của bệnh nhân và gia đình  
Trang | 4  
   
1.6. Bại não là gì  
Bại não là một thuật ngữ chung mô tả “một nhóm các rối loạn vĩnh viễn về phát triển vận động và  
tư thế, gây ra các giới hạn về hoạt động do những rối loạn không tiến triển xảy ra trong não bào thai  
hoặc giai đoạn não ở trẻ đang phát triển. Các rối loạn vận động của bại não thường kèm theo những  
rối loạn về cảm giác, nhận cảm, nhận thức, giao tiếp và hành vi, với động kinh và với các vấn đề cơ  
xương thứ phát.” (Rosenbaum và cộng sự, 2007).  
Tỷ lệ mới mắc bại não ở các nước có nguồn lực cao là 1,4 - 2,1 trên 1.000 trẻ sinh ra sống (ACPR,  
2016, Sellier và cộng sự, năm 2015). Việt Nam chưa có sổ đăng ký bại não quốc gia. Việc thiết lập  
một sổ đăng ký quốc gia sẽ cho phép xác định được tỷ lệ hiện mắc và mới mắc.  
Hiện nay chưa có nhiều thông tin về dịch tễ học bại não tại Việt Nam.Bệnh viện Nhi Trung ương  
(National Children's Hospital – NCH)tại Hà Nội hiện đang tiến hành theo dõi tình trạng bại não tại  
bệnh viện nhằm xác định căn nguyên, chức năng vận động và mức độ nặng, những khiếm khuyết  
kèm theo, và tình trạng dinh dưỡng và phục hồi chức năng của trẻ bại não (< 18 tuổi) tại Hà Nội,  
Việt Nam(Khandaker et al. BMJ Open 2017).Phát hiện sơ bộ (liên lạc cá nhân vào ngày 2.2.2018,  
GS. Elliott, Điều tra viên chính) từ bài nghiên cứu này cho thấy trong số những trẻ bại não đến khoa  
phục hồi chức năng của Bệnh viện Nhi Trung ương, Hà Nội:  
▪
▪
Độ tuổi chẩn đoán bại não trung bình là 20.7 tháng (dao động từ 1 tháng tuổi – 13 tuổi)  
Thể bại não vào thời điểm chẩn đoán:  
o 66% liệt tứ chi kiểu co cứng  
o 21% liệt nửa người/liệt một chi  
o 6.4% liệt hai chi dưới  
▪
▪
▪
1.5% chủ yếu thể múa vờn  
54% trẻ có khiếm khuyết trí tuệ và 12.7% có khả năng có khiếm khuyết trí tuệ  
Dựa trên Hệ thống Phân loại Chức năng Vận động thô (Gross Motor Function Classification  
System – GMFCS):  
o 16% chức năng ở Mức V  
o 27% chức năng ở Mức IV (cho thấy nhu cầu cần sử dụng xe lăn đẩy tay hoặc xe lăn  
điện), tuy nhiên chưa trẻ nào được tiếp cận xe lăn  
o 13% chức năng ở Mức III  
o 16% chức năng ở Mức II  
o 23% chức năng ở Mức I  
1.7. Mô tả bại não  
Phần này đưa ra định nghĩa về các thể vận động của bại não. Phần tiếp theo đề cập đến những tình  
trạng kèm theo.  
1.7.1. Thể vận động  
Thể vận động đề cập đến rối loạn vận động quan sát được. Mỗi thể lâm sàng liên quan chặt chẽ đến  
vùng não bị tổn thương.  
Trang | 5  
   
(I) Thể co cứng  
Co cứng là sức cản với sự kéo căng cơ phụ thuộc vào tốc độ. Co cứng đặc trưng bởi tình trạng  
cứng quá mức trong các cơ khi trẻ cố gắng di chuyển hoặc giữ một tư thế chống lại trọng lực. Co  
cứng ở trẻ có thể thay đổi tuỳ theo mức độ tỉnh táo, cảm xúc, hoạt động, tư thế và tình trạng đau  
(Sander, Delgado và cộng sự, 2003).  
(II) Dyskinesia/Hyperkinesia  
Thể loạn vận động/tăng vận động liên quan đến sự gia tăng hoạt động của cơ, có thể gây ra những  
vận động bất thường quá mức, vận động bình thường quá mức, hoặc kết hợp cả hai. Bại não thể  
loạn động/tăng động đặc trưng bởi các bất thường về trương lực cơ và biểu hiện các rối loạn vận  
động khác nhau bao gồm loạn trương lực, múa vờn và múa giật (Sanger, Chen và cộng sự, 2010).  
▪
▪
Loạn trương lực đặc trưng bởi các co cơ ngắt quãng hoặc kéo dài gây các vận động xoắn  
vặn hoặc lập lại  
Múa vờn đặc trưng bởi các vận động vặn vẹo và chậm, không kiểm soát cản trở trẻ giữ  
vững một tư thế. Đó là những vận động trơn tru liên tục xuất hiện ngẫu nhiên và không gồm  
những mảnh vận động có thể xác định được. Múa vờn có thể nặng hơn nếu cố gắng vận  
động tuy nhiên múa vờn cũng có thể xuất hiện lúc nghỉ. Phân biệt múa vờn với loạn trương  
lực ở chỗ không giữ được các tư thế kéo dài, và với múa giật ở chỗ không có các mảnh vận  
động có thể xác định được (Sanger và cộng sự, 2010, trang 1543).  
▪
Thể Múa giật là một chuỗi của một hoặc nhiều vận động không tự ý hoặc mảnh vận động  
rời rạc xuất hiện ngẫu nhiên liên tục. Múa giật được phân biệt với loạn trương lực ở bản chất  
xảy ra ngẫu nhiên, liên tục, không thể đoán trước của các vận động, so với các vận động  
hoặc tư thế rập khuôn, dễ đoán trước được hơn của loạn trương lực. Các vận động của múa  
giật thường có vẻ nhanh hơn những vận động của loạn trương lực. Mặc dù chứng múa giật  
có thể nặng hơn khi vận động, cố gắng vận động, hoặc căng thẳng, các vận động này không  
được tạo ra bởi các cố gắng chủ ý với cùng độ đặc hiệu về thời gian như ở loạn trương lực  
(Sanger và cộng sự, 2010, trang 1542). Trẻ bị chứng múa giật biểu hiện bồn chồn hoặc  
chuyển động liên tục.  
Múa vờn và múa giật thường cùng hiện diện ở bại não và khi kết hợp được gọi là múa giật-vờn  
(III) Thể Thất điều  
Thất điều được đặc trưng bởi các chuyển động run rẩy và ảnh hưởng đến sự điều hợp và thăng bằng  
của người bệnh. Đây là thể bại não ít gặp nhất.  
(IV) Các thể vận động phối hợp  
Là bại não biểu hiện với nhiều hơn một thể vận động, ví dụ như co cứng và loạn trương lực.  
Thường thì một thể vận động sẽ chiếm ưu thế.  
Trang | 6  
Để có thêm thông tin chi tiết về các thể vận động và phân loại các thể vận động: xem Hướng dẫn  
chung và Hướng dẫn về Vật lý trị liệu và Hoạt động trị liệu về can thiệp phục hồi chức năng cho bại  
não.  
1.7.2. Theo Định khu  
Định khu đề cập đến sự phân bố những khiếm khuyết vận động hoặc các phần cơ thể bị ảnh hưởng.  
Các khiếm khuyết vận động có thể là một bên (chỉ ảnh hưởng đến một bên của cơ thể) hoặc hai bên  
(ảnh hưởng đến cả hai bên của cơ thể).  
(I) Bại não một bên  
▪
▪
Liệt một chi - ảnh hưởng đến một chi thể, có thể là tay hoặc chân ở bên phải hoặc bên trái  
của cơ thể.  
Liệt nửa người - ảnh hưởng đến một nửa bên của cơ thể, có thể là bên phải hoặc bên trái.  
Tay và chân không nhất thiết bị ảnh hưởng như nhau.  
(II) Bại não hai bên  
. Liệt hai chi - cả hai chân bị ảnh hưởng là chính. Trẻ bị liệt hai chi thường có một vài khiếm  
khuyết ở chức năng chi trên.  
. Liệt ba chi - ảnh hưởng đến ba chi thể và không ảnh hưởng đến chi thứ tư.  
. Liệt tứ chi - tất cả bốn chi đều bị ảnh hưởng kèm theo đầu, cổ, và thân mình cũng bị ảnh  
hưởng.  
1.7.3. Theo Mức độ nặng  
Bại não có thể được mô tả hoặc phân loại theo mức độ nặng của các khiếm khuyết vận động. Có  
bốn hệ thống phân loại về chức năng vận động, khả năng giao tiếp và ăn uống được quốc tế công  
nhận. Các phân loại này liên quan đến cách một trẻ bại não di chuyển (GMFCS), cách trẻ sử dụng  
tay trong hoạt động hàng ngày (MACS), cách trẻ giao tiếp với những người thân quen và không  
thân quen (CFCS) và khả năng trẻ ăn uống an toàn (EDACS). Những công cụ phân loại mức độ  
nặng này sẽ được trình bày chi tiết ở phần sau. Những công cụ phân loại mức độ nặng liên quan  
đếnkỹ thuật viênNgôn ngữ trị liệu được đề cập chi tiết trong hướng dẫn này ở Mục 1.9.4 và 1.9.5.  
1.8. Các tình trạng sức khỏe phối hợp  
Các khiếm khuyết vận động của bại não hầu như luôn luôn đi kèm với một hoặc nhiều khiếm  
khuyết thứ phát (Rosenbaum, và cộng sự, 2007). Đối với nhiều trẻ, những tình trạng thứ phát này  
gây nhiều khuyết tật hơn khiếm khuyết thể chất ban đầu.  
. 3/4 số trẻ bị đau mạn tính  
. 1/2 số trẻ trẻ sẽ bị suy giảm trí tuệ  
. 1/3 số trẻ sẽ không thể đi được  
. 1/3 số trẻ sẽ bị di lệch khớp háng  
. 1/4 số trẻ sẽ không thể nói được  
Trang | 7  
 
. 1/4 số trẻ sẽ bị động kinh  
. 1/4 số trẻ sẽ có rối loạn hành vi  
. 1/4 số trẻ sẽ có tình trạng tiểu không tự chủ  
. 1/5 số trẻ sẽ bị rối loạn giấc ngủ  
. 1/10 số trẻ sẽ có khiếm khuyết về thị giác  
. 1/15 số trẻ sẽ không thể ăn được bằng đường miệng  
. 1/25 số trẻ sẽ có khiếm khuyết về thính giác  
(Novak et al., 2012)  
1.9. Các công cụ phân loại  
1.9.1. Khả năng di chuyển chức năng  
(I) Hệ thống phân loại Chức năng Vận động Thô (GMFCS)  
(Palisano, Rosenbaum, Walters, Russell, Wood & Galuppi, 1997; Palisano, Rosenbaum, Bartlett &  
Livingston, 2008).  
Hệ thống Phân loại Chức năng Vận động Thô (GMFCS) là một phân loại gồm 5 mức độ, mô tả  
chức năng vận động thô của trẻ bại não dựa trên vận động trẻ tự khởi phát, chú trọng đặc biệt đến  
khả năng ngồi và đi. Phân biệt giữa các mức độ dựa trên các khả năng chức năng, nhu cầu về kỹ  
thuật trợ giúp (bao gồm các thiết bị di chuyển cầm tay như khung đi, nạng hoặc gậy hoặc di chuyển  
có bánh xe và chất lượng của vận động.  
(II) Thang điểm Di chuyển Chức năng (FMS)  
(Graham, Harvey, Rodda, Nattras & Piripis, 2004)  
Thang điểm Di chuyển Chức năng (FMS) (phiên bản 2) được xây dựng để phân loại di chuyển chức  
năng ở trẻ từ 4 đến 18 tuổi, có xét đến các thiết bị hỗ trợ mà trẻ có thể sử dụng qua ba khoảng cách:  
5 mét (trong và xung quanh nhà), 50 mét (trong và xung quanh trường học/trường mẫu giáo) và 500  
mét (trong cộng đồng). FMS có thể phát hiện sự thay đổi sau can thiệp phẫu thuật.  
1.9.2. Phân loại dáng đi  
Các phân loại về các mẫu dáng đi thường gặp ở trẻ bại não liệt nửa người và liệt hai chi dưới đã  
được xây dựng. Phân loại các mẫu dáng đi có vai trò quan trọng khi cân nhắc các can thiệp bằng  
thuốc và phẫu thuật nhằm cải thiện dáng đi và chức năng di chuyển.  
Tiến hành  
Người lượng giá: Các bác sĩ quen thuộc với lượng giá dáng đi qua quan sát, kỹ thuật viên VLTL.  
Cách thực hiện: Các mẫu dáng đi được phân loại qua lượng giá dáng đi bằng quan sát kỹ và lượng  
giá thể chất.  
Trang | 8  
 
Thời gian: 15 - 45 phút tùy thuộc vào sự phức tạp của mẫu dáng đi, lượng giá thể chất và kinh  
nghiệm của người lượng giá.  
(I) Các phân loại về Các mẫu dáng đi: Dáng đi Liệt nửa người  
(Winters, Gage & Hicks, 1987)  
Phân loại dáng đi liệt nửa người của Winters, Gage và Hicks (1987) mô tả bốn loại mẫu dáng đi dựa  
trên chuyển động học ở mặt phẳng đứng dọc của xương chậu, háng, gối và cổ chân:  
Bàn chân rủ trong thì đu của dáng đi, tầm vận động gấp mu cổ chân  
bình thường trong thì tựa/chống  
Loại 1 - Bàn chân rủ  
Loại 2A - Bàn chân  
Gấp lòng cổ chân quá mức ở cả thì tựa/chống và thì đu của dáng đi  
ngựa  
Các sai lệch trên kèm theo hạn chế tầm vận động gấp/duỗi gối trong các  
thì tựa/chống và thì đu của dáng đi  
Loại 2B - Bàn chân  
ngựa /Ưỡn gối  
Các sai lệch trên kèm theo hạn chế tầm vận động gấp/duỗi khớp háng  
trong thì tựa/chống và thì đu của dáng đi  
Loại 3 - Bàn chân ngựa  
/Nhảy gối  
Bàn chân ngựa với gối gập, cứng, háng gấp, khép và xoay trong kèm  
theo nghiêng xương chậu ra trước.  
Loại 4 - Bàn chân ngựa  
thật sự/ Nhảy gối  
(II)Phân loại các mẫu dáng đi: Dáng đi liệt hai chân  
(Rodda & Graham, 2001)  
Phân loại các mẫu dáng đi thường gặp ở trẻ liệt hai chi dưới thể co cứng đã được xây dựng bởi  
Rodda & Graham (2001) và Rodda và cộng sự (2004). Các mẫu dáng đi liệt hai chân bao gồm:  
Gấp lòng cổ chân suốt thì tựa với háng và gối duỗi.  
Nhóm I - Bàn chân  
Ngựa  
Cổ chân gấp lòng, háng và gối gấp, nghiêng chậu ra trước và tăng độ ưỡn  
thắt lưng. Thường gối bị cứng do hoạt động của cơ thẳng đùi trong thì đu  
của dáng đi  
Nhóm II - Dáng đi  
nhún nhảy  
Đi với đầu các ngón chân, tuy nhiên bàn chân ngựa là tương đối (biểu  
kiến) chứ không thật sự, khi quan sát chuyển động học ở mặt phẳng đứng  
dọc cho thấy cổ chân có tầm vận động gấp mu bình thường nhưng háng  
và gối gấp quá mức suốt thì tựa/chống của dáng đi  
Nhóm III - Bàn chân  
ngựa tương đối (biểu  
kiến)  
Nhóm IV - Dáng đi  
gập (khom)  
Gấp mu cổ chân quá mức kết hợp với gấp gối và háng quá mức.  
Kết hợp bất kỳ hai mẫu dáng đi kể trên.  
Nhóm V - Dáng đi  
không đối xứng  
Trang | 9  
1.9.3. Khả năng của tay  
(I) Thang Phân loại các Khả năng của tay (Manual Ability Classification System – MACS) &  
Mini-MACS  
(Eliasson, Krumlinde Sundholm, Rösblad, Beckung, Arner, Öhrvall & Rosenbaum, 2005)  
Thang Phân loại các Khả năng của tay (Manual Ability Classification System – MACS) đưa ra một  
phương pháp có hệ thống để phân loại khả năng sử dụng tay khi thao tác đồ vật trong các hoạt động  
hàng ngày ở trẻ bại não độ tuổi từ 4 đến 18 tuổi.  
Mini-MACS là một thay đổi điều chỉnh của MACS để phân loại cho trẻ từ 1 - 4 tuổi. Mini-MACS  
phân loại khả năng cầm nắm xử lý các đồ vật phù hợp với lứa tuổi và sự phát triển của trẻ cũng như  
nhu cầu được nâng đỡ và trợ giúp của trẻ trong các tình huống như vậy.  
Để có thêm thông tin chi tiết về các đoạn từ 1.9.1 đến 1.9.3 xem Hướng dẫn chung và Hướng dẫn  
về Vật lý trị liệu và Hoạt động trị liệu về can thiệp phục hồi chức năng cho bại não  
1.9.4. Khả năng giao tiếp  
(I) Hệ thống Phân loại Chức năng Giao tiếp (Communication Function Classification System-CFCS)  
(Hidecker, Paneth, Rosenbaum, Kent, Lillie, Eulenberg, Chester, Johnson, Michalsen, Evatt &  
Taylor, 2011)  
Hệ thống Phân loại Chức năng Giao tiếp (CFCS) phân loại khả năng thực hiện giao tiếp hàng ngày  
thành một trong năm mức độ mô tả. Phân loại giao tiếp dựa trên khả năng thực hiện của trẻ với vai  
trò là người gửi và người nhận một thông điệp giao tiếp, nhịp độ giao tiếp và sự thân quen của đối  
tác giao tiếp với trẻ. Tất cả các phương pháp giao tiếp được xem xét bao gồm lời nói, các cử chỉ,  
các hành vi, ánh mắt, nét mặt và các hệ thống giao tiếp tăng cường và thay thế (AAC). Đánh giá  
hiệu quả của giao tiếp dựa trên kỹ năng hiện tại của trẻ trong các tình huống giao tiếp hàng ngày  
chứ không phải khả năng học kỹ năng mới.  
Trẻ giao tiếp hiệu quả với người lạ và người quen  
Trẻ giao tiếp hiệu quả, nhịp độ chậm với người lạ và người quen  
Trẻ chỉ giao tiếp hiệu quả với người quen  
Mức 1  
Mức 2  
Mức 3  
Mức 4  
Mức 5  
Trẻ chỉ thỉnh thoảng giao tiếp hiệu quả với người quen  
Trẻ hiếm khi giao tiếp hiệu quả kể cả với người quen  
Tiến hành  
Người lượng giá: Phụ huynh, người chăm sóc hoặc nhân viên y tế quen thuộc với khả năng giao  
tiếp của trẻ.  
Các thực hiện: Được hoàn thành hoặc qua báo cáo của phụ huynh/người chăm sóc và/hoặc quan sát  
trong buổi hẹn thông thường  
Thời gian: Không áp dụng  
Tính sẵn có: Có thể truy cập tại: www.cfcs.us  
Trang | 10  
(II) Hệ thống phân loại giao tiếp chức năng (Functional Communication Classification System  
– FCCS)  
(Barty, Caynes và Johnston, 2016)  
Hệ thống phân loại giao tiếp chức năng (Functional Communication Classification System – FCCS)  
là một hệ thống phân loại khả năng giao tiếp của trẻ em trong các hoạt động hàng ngày. Hệ thống  
này cung cấp thông tin về cách thức giao tiếp thông thường và đối tượng giao tiếp của trẻ.  
Giao tiếp hiệu quả trong đa số tình huống  
Có thể giao tiếp độc lập nhiều thông điệp/chủ đề đa dạng với người lạ cũng như  
người quen thuộc trong đa số môi trường  
Mức 1  
Giao tiếp hiệu quả trong đa số tình huống, nhưng cần giúp đỡ một chút  
Có thể giao tiếp nhiều thông điệp/ chủ đề đa dạng với người quen thuộc nhưng có thể  
gặp đôi chút khó khăn với người/chủ đề và môi trường không quen thuộc và có thể  
cần được gợi ý, nhắc nhở, ví dụ như câu hỏi gợi ý, lặp lại (để người khác hiểu) và âm  
lượng  
Mức 2  
Nếu trẻ sử dụng AAC, thì trẻ cần được trợ giúp trong khâu chuẩn bị, và/hoặc lên  
chương trình; và người nghe có thể cần được trợ giúp đôi chút để định hướng/ hiểu  
các chiến lược AAC  
Giao tiếp hiệu quả trong một số tình huống. Có thể giao tiếp một số thông điệp/  
chủ đề nhất định với đa số người quen thuộc  
Giao tiếp hiệu quả với những người và hoạt động quen thuộc và trong những bối cảnh  
quen thuộc về nhu cầu và mong muốn của trẻ, và những gì đang diễn ra nhưng cần  
được trợ giúp với người/chủ đề và môi trường không quen thuộc  
Mức 3  
Phụ thuộc vào một đối tác/cộng sự giao tiếp quen thuộc để hiểu các chiến lược AAC  
mà trẻ sử dụng, hoặc khi trẻ cố gắng nói, và cần người đối tác/cộng sự giao tiếp này  
hỗ trợ khâu chuẩn bị và giao tiếp  
Cần được trợ giúp trong đa số tình huống, đặc biệt với những người và môi  
trường không quen thuộc. Giao tiếp những nhu cầu và mong muốn hàng  
ngày/theo thói quen với người quen thuộc  
Có thể khởi đầu và gây sự chú ý của người khác nhưng cần một người quen thuộc và  
hiểu thói quen thường quy, những trải nghiệm gần đây/quan trọng và những gì trẻ  
thích và không thích, và để hiểu giao tiếp của trẻ  
Mức 4  
Đáp ứng với giọng nói, âm thanh và thói quen thường quy quen thuộc bằng cách  
dùng các động tác cơ thể, biểu cảm gương mặt và phát ra âm thanh  
Giao tiếp không có chủ ý với người khác, bằng cách dùng động tác và hành vi  
Người quen thuộc hiểu những nhu cầu và mong muốn hàng ngày/theo thói quen của  
trẻ bằng cách quan sát trạng thái cảm xúc, các động tác cơ thể và hành vi của trẻ  
Mức 5  
Cần người quen thuộc trợ giúp hoàn toàn để quan sát, diễn giải các động tác và hành  
vi, dự đoán, và giải quyết vấn đề dựa trên kinh nghiệm, trình độ huấn luyện và quan  
sát của họ  
Trang | 11  
Tiến hành  
Người lượng giá: Phụ huynh, người chăm sóc hoặc nhân viên y tế quen thuộc với trẻ.  
Thời gian: Không áp dụng – được hoàn thành thông qua báo cáo hoặc quan sát.  
Tính sẵn có: Có thể truy cập tại: https://onlinelibrary.wiley.com/doi/abs/10.1111/dmcn.13124  
Lưu ý: Hệ thống phân loại giao tiếp chức năng (FCCS) nằm trong mục thông tin hỗ trợ, tên file là  
“dmcn13124-sup-0001-AppendixS1.pdf”.  
Liên hệ: Trung tâm Bại Não và Liên đoàn về Bại não của Queensland (The Centre for Cerebral  
Palsy and Cerebral Palsy League of Queensland), [email protected].au.  
(III) Thang đo lời nói Viking (Viking Speech Scale)  
(Pennington et al., 2013)  
Thang đo lời nói Viking (Viking Speech Scale) phân loại tính rõ ràng của lời nói ở trẻ emtheo cách  
hiểu của người nghe không quen thuộc với trẻ. Thang này được thiết kế cho trẻ trên 4 tuổi. Thang  
này không nhằm mục đích phân loại tính rõ ràng của giao tiếp ở những trẻ sử dụng phương pháp  
giao tiếp tăng cường và thay thế. Thang này không đánh giá năng lực giao tiếp tổng quát, mà chỉ tập  
trung vào tính dễ hiểu của lời nói.  
Lời nói không bị ảnh hưởng bởi rối loạn vận động  
Lời nói không chính xác nhưng người nghe không quen thuộc với trẻ thường vẫn có  
thể hiểu được  
Mức 1  
Mức 2  
Lời nói không rõ ràng và người nghe không quen thuộc với trẻ thường không thể hiểu  
được nếu không có ngữ cảnh  
Không có lời nói mà người nghe có thể hiểu được  
Mức 3  
Mức 4  
Tiến hành  
Người lượng giá:Kỹ thuật viên NNTL hoặc nhân viên y tế quen thuộc với trẻ.  
Thời gian: Không áp dụng – được hoàn thành thông qua lượng giá không chính thức, thu thập thông  
tin và quan sát.  
Tính sẵn có:Có thể truy cập tại: http://www.scpenetwork.eu/assets/SCPE-Tools/VSS/Viking-  
Speech-Scale-2011-Copyright..pdf  
Liên hệ: Lindsay Pennington, [email protected]  
1.9.5. Khả năng ăn uống  
(I) Hệ thống Phân loại Khả năng ăn và uống (Eating and Drinking Ability Classification  
System – EDACS)  
(Sellers, Mandy, Pennington, Hankins & Morris, 2014)  
Hệ thống Phân loại Khả năng ăn và uống (Eating and Drinking Ability Classification System –  
EDACS) là một hệ thống phân loại khả năng ăn và uống của trẻ bại não từ 3 tuổi trở lên. Hệ thống  
Phân loại Khả năng ăn và uống (EDACS) tập trung vào các khía cạnh của ăn uống như nhai, nuốt,  
mút, cắn và giữ thức ăn và thức uống trong miệng. Phân biệt giữa năm mức độ dựa vào khả năng về  
chức năng, nhu cầu cần điều chỉnh kết cấu thức ăn, các kỹ thuật được sử dụng và sự hỗ trợ cần thiết.  
Hệ thống Phân loại Khả năng ăn và uống (EDACS) mô tả năm mức độ khả năng riêng biệt bằng  
cách dùng những đặc điểm chủ yếu về an toàn và mức độ hiệu quả:  
Trang | 12  
Ăn và uống an toàn và hiệu quả  
Mức I  
Ăn và uống an toàn nhưng có một số hạn chế về tính hiệu quả  
Ăn và uống có một số hạn chế về tính an toàn; có thể hạn chế về tính hiệu quả  
Ăn và uống có hạn chế đáng kể về tính an toàn  
Mức II  
Mức III  
Mức IV  
Mức V  
Không thể ăn hoặc uống an toàn - có thể cân nhắc dinh dưỡng qua ống thông  
Có thể sử dụng một phân loại mức độ trợ giúp đòi hỏi trong bữa ăn để bổ sung cho EDACS. Các  
mức độ bao gồm: Độc lập (Ind), Đòi hỏi trợ giúp (RA) hoặc phụ thuộc hoàn toàn (TD). Phân loại  
này lượng giá mức độ thực hiện bình thường thay vì khả năng hoạt động tốt nhất.Phân loại này bổ  
túc cho GMFCS, MACS và CFCS và có mục đích sử dụng được trên lâm sàng lẫn trong nghiên cứu  
Tiến hành  
Người lượng giá: Phụ huynh, người chăm sóc hoặc nhân viên y tế quen thuộc với khả năng ăn và  
uống của trẻ.  
Các thực hiện: Được hoàn thành hoặc qua báo cáo của phụ huynh/người chăm sóc và/hoặc quan sát  
Thời gian: Không áp dụng  
Tính sẵn có: Có thể truy cập tại: www.EDACS.org  
Khuyến nghị -  
>Những hệ thống phân loại dành cho bại não nên được đưa vào sử dụng tại Việt Nam.  
1.10. Ngôn ngữ trị liệu là gì  
1.10.1. Định nghĩa  
Ngôn ngữ trị liệulà một chuyên ngành và những nhà lâm sàng thực hành chuyên ngành này được  
biết đến với tên gọi kỹ thuật viên Ngôn ngữ trị liệu (NNTL). Ngôn ngữ trị liệu là một chuyên  
ngành chăm sóc sức khoẻ lấy khách hàng làm trung tâm với mục tiêu chủ đạo là phòng ngừa, lượng  
giá, chẩn đoán, và can thiệp những rối loạn về lời nói, ngôn ngữ, giao tiếp xã hội, giao tiếp – nhận  
thức, và nuốt ở trẻ em và người lớn.  
Kỹ thuật viên NNTL làm việc độc lập; nghĩa là không có chuyên gia khác chỉ định hay giám sát  
dịch vụ của họ mà họ thường xuyên hợp tác với những chuyên gia khác.Kỹ thuật viên NNTL cung  
cấp dịch vụ trong tất cả lĩnh vực sau đây: vận động chính sách, dịch vụ lâm sàng, tư vấn, giáo dục,  
phòng ngừa, chăm sóc sức khỏe cộng đồng và nghiên cứu về những rối loạn giao tiếp và nuốt có thể  
xảy ra trong cuộc đời của một người. Kỹ thuật viên NNTL có trách nhiệm đảm bảo họ làm việc  
trong phạm vi năng lực của họ và thường xuyên cập nhật kiến thức và kỹ năng chuyên môn khi cần  
thiết (Hiệp hội Ngôn ngữ trị liệu Úc, 2010a).  
1.10.2. Lĩnh vực và phạm vi thực hành Ngôn ngữ trị liệu  
Kỹ thuật viên ngôn ngữ trị liệu là người tham gia cung cấp dịch vụ lâm sàng, phòng ngừa,vận động  
chính sách, giáo dục, quản lý, và nghiên cứu về lĩnh vực giao tiếp và nuốt trong cuộc đời của một  
Trang | 13  
 
người từ lúc sinh ra đến khi già đi. Mục tiêu chung của dịch vụ ngôn ngữ trị liệu là nhằm tối ưu hóa  
khả năng giao tiếp và nuốt của một người, từ đó cải thiện chất lượng cuộc sống của họ.  
Phân loại Quốc tế về Hoạt động chức năng, Khiếm khuyết và Sức khoẻ (International Classification  
of Functioning, Disability and Health) là một hệ thống phân loại sức khỏe đa chức năng do Tổ chức  
Y tế Thế giới (World Health Organization) xây dựng (ICF; WHO, 2001). Hệ thống phân loại này  
đưa ra ngôn ngữ và khuôn khổ tiêu chuẩn để mô tả hoạt động chức năng và sức khỏe. Khuôn khổ  
ICF giúp mô tả phạm vi vai trò của kỹ thuật viên ngôn ngữ trị liệu trongphòng ngừa, lượng giá, và  
học chức năng/ phục hồi chức năng, nâng cao khả năng, và nghiên cứu khoa học về giao tiếp và  
nuốt.  
Kỹ thuật viên ngôn ngữ trị liệunỗ lực cải thiện chất lượng cuộc sống bằng cách giảm bớt khiếm  
khuyết về chức năng và cấu trúc cơ thể, giới hạn về mặt hoạt động, hạn chế về mặt tham gia, và  
những rào cản gây ra bởi các yếu tố bối cảnh liên quan đến giao tiếp và nuốt.  
Kỹ thuật viên ngôn ngữ trị liệu có thể tác động đến các yếu tố bối cảnh thông qua nỗ lực giáo dục  
và vận động chính sách ở cấp địa phương và cấp quốc gia. Ví dụ trong ngôn ngữ trị liệu bao gồm  
việc một người sử dụng dụng cụ giao tiếp tăng cường cần được hỗ trợ trong lớp học để đạt thành  
tích học tập tốt.  
Tham khảo mục 2.3 để có thêm thông tin về vai trò của kỹ thuật viênNNTL trong mô hình ICF.  
Trang | 14  
2. Các lộ trình và các nguyên tắc của Phục hồi chức năng  
2.1. Giới thiệu  
2.1.1. Phục hồi chức năng  
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) mô tả phục hồi chức năng là "một tập hợp các biện pháp hỗ trợ  
những người đang mắc phải, hoặc có khả năng gặp phải, tình trạng khuyết tật [do khiếm khuyết, bất  
kể xảy ra khi nào (bẩm sinh, mắc phải)] nhằm đạt được và duy trì hoạt động chức năng tối ưu trong  
mối tương tác với môi trường của họ". "Các biện pháp phục hồi chức năng nhắm vào các cấu trúc  
và chức năng của cơ thể, các hoạt động và sự tham gia, các yếu tố cá nhân và các yếu tố môi  
trường" (WHO, 2011).  
Phục hồi chức năng có thể bao gồm nhiều hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong lĩnh  
vực y tế, phục hồi chức năng tác động đến các bệnh lý và khiếm khuyết mạn tính hoặc kéo dài với  
mục tiêu đảo ngược hoặc hạn chế ảnh hưởng của chúng. Các dịch vụ có thể bao gồm ngôn ngữ trị  
liệu, vật lý trị liệu, hoạt động trị liệu, cung cấp các dụng cụ trợ giúp và các phẫu thuật đặc biệt để  
chỉnh sửa các biến dạng và các loại khiếm khuyết khác.  
Các hoạt động chính của chăm sóc PHCN bao gồm:  
. Sàng lọc và lượng giá đa ngành  
. Xác định các khó khăn về chức năng và đo lường các khó khăn đó  
. Lập kế hoạch can thiệp thông qua thiết lập mục tiêu  
. Cung cấp các biện pháp can thiệp có thể đem lại sự thay đổi hoặc hỗ trợ cho cá nhân đối phó  
với thay đổi kéo dài  
. Đánh giá hiệu quả của can thiệp  
. Báo cáo  
2.1.2. Học kỹ năng  
Học kỹ năng bao gồm các can thiệp giúp cá nhân duy trì, học hỏi, hoặc cải thiện các kỹ năng và  
hoạt động chức năng trong cuộc sống hàng ngày. Vấn đề trọng tâm là học các kỹ năng mới khi một  
trẻ sinh ra có khuyết tật ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường (và do đó đạt được kỹ năng bình  
thường). Đây là những kỹ năng mà chỉ có thể thành thạo thông qua các dịch vụ can thiệp có mục  
đích và có kỹ thuật.  
Ví dụ bao gồm việc dạy một trẻ không có lời nói cách sử dụng hệ thống Giao tiếp Tăng cường và  
Thay thế (Augmentative and Alternative Communication – AAC). Học chức năng cũng có thể bao  
gồm điều chỉnh môi trường để đảm bảo ăn uống an toàn bằng cách điều chỉnh kết cấu thức ăn và  
thức uống và/hoặc thay đổi tư thế.  
Trang | 15  
   
2.2. Quy trình phục hồi chức năng  
Tiếp cận phục hồi chức năng truyền thống đi theo một quy trình:  
2.2.1. Lượng giá  
▪
Lượng giá bệnh nhân và xác định các nhu cầu;  
(Tái)  
Can thiệp  
2.2.2. Thiết lập Mục tiêu  
Lượng giá  
▪
▪
Trên cơ sở lượng giá, xác định các mục tiêu phục  
hồi chức năng cho bệnh nhân. Đây có thể là các  
mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn;  
Thiết lập  
Mục tiêu  
Xây dựng kế hoạch để đạt được các mục tiêu này  
2.2.3. Can thiệp  
▪
Cung cấp các can thiệp phù hợp để đạt được các mục tiêu;  
2.2.4. Tái lượng giá  
▪
Lượng giá tiến triển của người bệnh nhằm xem xét việc can thiệp có đạt được các mục tiêu  
đã được thống nhất hay không. Nếu không thì có thể xem xét lại các mục tiêu và điều chỉnh  
các can thiệp.  
2.2.5. Xuất viện  
● Bại não sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường và do đó ảnh hưởng đến khả năng lĩnh  
hội kỹ năng bình thường.  
Có thể cân nhắc xuất viện nếu đã đạt được mục tiêu và/hoặc nếu mục tiêu không có tiến bộ  
do ảnh hưởng của các tình trạng kèm theo, ví dụ như động kinh, vấn đề động lực, v.v.  
● Có thể cần theo dõi sau xuất viện để những trẻ có khiếm khuyết có thể duy trì mức độ độc  
lập tối đa trong khi trẻ lớn lên.  
2.2.6. Sơ lược về quy trình phục hồi chức năng  
Trong nhiều trường hợp, trẻ bại não sẽ không đạt được mức phát triển phù hợp với lứa tuổi về mặt  
chức năng giao tiếp và nuốt. Điều này là do tổn thương thần kinh vĩnh viễn và khiếm khuyết cảm  
giác và vận động.  
Vai trò của kỹ thuật viên NNTL có thể là tiến hành chăm sóc theo đợt/ chu kỳ với mục tiêu gia tăng  
tối đa hoạt động và sự tham gia thông qua những mục tiêu chức năng rõ ràng. Can thiệp cũng nên  
tập trung vào việc gia tăng kỹ năng của gia đình và cải thiện các yếu tố môi trường.  
Vì vậy phục hồi chức năng xuyên suốt độ tuổi thơ ấu có thể bao gồm những giai đoạn can thiệp trực  
tiếp và những giai đoạn xuất viện hoặc theo dõi, và người chăm sóc có thể quyết định tái thực hiện  
quy trình khi có thay đổi về mặt khiếm khuyết, hoạt động, sự tham gia và các yếu tố môi trường. Ví  
Trang | 16  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 74 trang yennguyen 19180 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Hướng dẫn chẩn đoán điều trị, phục hồi chức năng đối với trẻ bại não", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_huong_dan_chan_doan_dieu_tri_phuc_hoi_chuc_nang_doi.pdf