Sự phân bố và hiện diện của nấm rễ nội cộng sinh (Vesicular Arbuscular Mycorrhyza) trong vùng đất trồng bưởi da xanh tại Bà Rịa - Vũng Tàu
10
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
The distribution and presence of versicular-arbuscular mycorrhiza fungi in
rhizosphere soil of Da Xanh pummelo in Ba Ria Vung Tau province
Huong N. D. Thai∗, Linh T. M. Nguyen, & Duong T. T. Pham
Faculty of Agronomy, Nong Lam University, Ho Chi Minh City, Vietnam
ARTICLE INFO
Research Paper
ABSTRACT
The study was carried out to determine the distribution and pres-
ence of versicular-arbuscular mycorrhiza (VAM) fungi in rhizo-
sphere soil and roots of Da Xanh pummelo in Phu My town, Ba
Ria Vung Tau province. The rhizosphere soil and root samples
were collected from 6 - 7 years old pummelo of two main soil
types, on two soil layers at depths of 0 - 20 cm and 20 - 40 cm, at
2/3 and the edge of canopy. The results showed that the presence
of VAM spore density was higher in red basaltic soil (ferralsols)
than black soil (luvisols), and common exist on the topsoil layer
(0 - 20 cm) as well as the edge of canopy. Glomus and Acaulospora
were two most abundant genera in survey areas, and the propor-
Received: February 23, 2021
Revised: April 02, 2021
Accepted: April 16, 2021
Keywords
Acaulospora
Glomus
Mycorrhiza distribution
Pummelo
tion of mycorrhizal spores ranged from 53.18
0.46 and from 23.68 2.96% to 29.33
2.59% to 58.54
0.64%, respectively.
Soil depth
Increasing the soil depth negatively affected on spore density of
VAM fungi. The VAM fungi composition aslo changed with soil
depth. The percentage of root colonization by VAM fungi ranged
from 56.20 3.11% to 62.00 3.37%, and the highest percentage
of root colonization by VAM fungi was detected in red basaltic
soil.
∗Corresponding author
Thai Nguyen Diem Huong
Email: diemhuong_tn@hcmuaf.edu.vn
Cited as: Thai, H. N. D, Nguyen, L. T. M, & Pham, D. T. T. (2021). The distribution and
presence of versicular-arbuscular mycorrhiza fungi in rhizosphere soil of Da Xanh pummelo in Ba
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
11
Sự phân bố và hiện diện của nấm rễ nội cộng sinh (Vesicular Arbuscular Mycorrhyza)
trong vùng đất trồng bưởi Da Xanh tại Bà Rịa Vũng Tàu
Thái Nguyễn Diễm Hương∗, Nguyễn Thị Mỹ Linh & Phạm Thị Thuỳ Dương
Khoa Nông Học, Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM, TP. Hồ Chí Minh
TÓM TẮT
THÔNG TIN BÀI BÁO
Bài báo khoa học
Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định sự phân bố và
hiện diện của nấm nội cộng sinh VAM (Versicular Arbuscular
Mycorrhiza) trong vùng đất quanh rễ và rễ bưởi Da Xanh tại
Phú Mỹ, Bà Rịa Vũng Tàu. Các mẫu đất và rễ được thu thập
trên các vườn bưởi 6 - 7 năm tuổi, trồng trên 2 nền đất phổ biến
tại địa phương, ở 2 tầng đất 0 - 20 cm và 20 - 40 cm, tại 2/3 tán
và mép tán. Kết quả cho thấy nấm VAM hiện diện trên nền đất
đỏ bazan với mật số bào tử cao hơn trong đất đen, tập trung
chủ yếu ở tầng đất mặt (0 - 20 cm) và ở mép tán. Chi Glomus
và Acaulospora là 2 chi chiếm ưu thế với tỉ lệ dao động lần lượt
Ngày nhận: 23/02/2021
Ngày chỉnh sửa: 02/04/2021
Ngày chấp nhận: 16/04/2021
Từ khóa
Acaulospora
Bưởi
trong khoảng từ 53,18
2,59% đến 58,54
2,96% đến 29,33 0,64%. Càng tăng độ sâu tầng đất, mật số
0,46% và 23,68
Độ sâu tầng đất
Glomus
Sự phân bố nấm nội cộng sinh
bào tử nấm VAM càng giảm, thành phần các chi nấm cộng sinh
cũng thay đổi. Tỉ lệ rễ có sự cộng sinh dao động từ 56,20
3,11% đến 62,00 3,37%, cao nhất trên đất đỏ.
∗Tác giả liên hệ
Thái Nguyễn Diễm Hương
Email: diemhuong_tn@hcmuaf.edu.vn
1. Đặt Vấn Đề
hình khí hậu diễn biến phức tạp như hiện nay.
Bà Rịa Vũng Tàu có nhiều chủng loại cây ăn
Nấm cộng sinh Vesicular Arbuscular Mycor-
rhiza (VAM) là một dạng cộng sinh giữa thực
vật bậc cao và nấm. Gần 90% các loài cây trồng
trên trái đất có sự tồn tại của nấm cộng sinh
(Gadkar & ctv., 2001). Sự có mặt của nấm cộng
sinh trong vùng rễ cây trồng giúp cây trồng tăng
tỉ lệ sống cây con, tăng khả năng sinh trưởng và
số hoa. Wu & ctv. (2011) đã báo cáo rằng việc
chủng nấm cộng sinh vào cây họ cam quýt đã
làm tăng số lượng rễ, chiều dài rễ và thể tích rễ,
nhờ đó tăng khả năng hút nước và dinh dưỡng
cho cây trồng. Với những lợi ích của nấm rễ cộng
sinh như vậy, việc nghiên cứu ứng dụng nấm rễ
nội cộng sinh trong nông nghiệp có vai trò quan
trọng trong việc duy trì một hệ sinh thái ổn định
và một nền nông nghiệp bền vững (Wang & ctv.,
2012), đặc biệt trong điều kiện bất lợi và tình
trái, trong đó có bưởi Da Xanh. Theo thống kê
của BRVT CPPPS (2018), thị xã Phú Mỹ có diện
tích trồng bưởi Da Xanh lớn nhất trong toàn tỉnh
(chiếm gần 50% diện tích trồng bưởi Da Xanh
của tỉnh), tập trung chủ yếu tại xã Sông Xoài và
phường Hắc Dịch.
Để nâng cao chất lượng và xây dựng một vùng
bưởi Da Xanh an toàn và bền vững, việc nghiên
cứu sử dụng các chế phẩm sinh học là việc làm
cần thiết, trong đó, nghiên cứu và ứng dụng nấm
cộng sinh trong canh tác cây trồng là một trong
những hướng cần được quan tâm. Vì vậy, nghiên
cứu đã được thực hiện để xác định sự phân bố
và hiện diện của những chủng nấm cộng sinh có
trong vùng rễ và những nền đất trồng bưởi Da
Xanh chủ yếu tại Phú Mỹ, Bà Rịa Vũng Tàu,
làm nền tảng cho những nghiên cứu tiếp theo.
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)
12
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
Bảng 1. Thông tin mẫu đất và rễ thu thập tại Phú Mỹ, Bà Rịa Vũng Tàu
STT Kí hiệu mẫu Loại đất Tuổi cây (tuổi) Địa điểm thu thập
1
2
3
4
5
6
7
8
9
SX1
SX2
SX3
SX4
SX5
HD1
HD2
HD3
HD4
HD5
Đỏ bazan
Đỏ bazan
Đen
Đen
Đen
Đỏ bazan
Đỏ bazan
Đỏ bazan
Đen
6
6
6
7
6
6
6
7
6
6
Sông Xoài
Sông Xoài
Sông Xoài
Sông Xoài
Sông Xoài
Hắc Dịch
Hắc Dịch
Hắc Dịch
Hắc Dịch
Hắc Dịch
10
Đen
2. Vật Liệu và Phương Pháp Nghiên Cứu mẫu, loại bỏ lớp đất mặt 0 - 2 cm để loại trừ xác
bã thực vật, dùng xẻng đã khử trùng bằng cồn
đào lấy đất ở độ sâu 0 - 20 cm và 20 - 40 cm, ở vị
2.1. Vật liệu
trí 2/3 tán và mép tán. Mẫu được đựng vào bao,
Mẫu đất và mẫu rễ thu thập tại vườn bưởi Da
Xanh trên hai nền đất trồng bưởi phổ biến tại địa
phương. Cây đang trong giai đoạn nuôi trái (giai
đoạn 100 - 130 ngày sau đậu trái), khoẻ mạnh,
6 - 7 năm tuổi, thuộc xã Sông Xoài và phường
Hắc Dịch, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
dán nhãn kí hiệu vùng đất, địa điểm, vị trí, tầng
đất lấy mẫu và mang về phòng thí nghiệm ngay
sau khi thu.
Phương pháp xử lý mẫu: Mẫu rễ được tách khỏi
đất, rửa sạch, loại bỏ các rễ già, hư hỏng, sau đó,
cắt rễ thành từng đoạn dài 1 cm và tiến hành
nhuộm rễ. Đối với mẫu đất, loại bỏ xác bã thực
vật, tiến hành phân lập và đếm số lượng bào tử
nấm cộng sinh có trong mẫu thu thập.
Một số hoá chất và dụng cụ sử dụng trong
nghiên cứu:
• Hoá chất: Đường Sucrose, acid lactic, glyc-
erol, polyvinyl alcohol, hydrogen peroxide, amo-
niac, acid clohydric, chloral hydrate, iodine, try-
pan blue, acid acetic, kali hydroxit, potassium
dichromate, acid sulfuric đậm đặc, acid phospho-
ric đậm đặc, muối morh và một số hoá chất khác.
Chỉ tiêu theo dõi:
• Nấm cộng sinh:
Mật số bào tử nấm cộng sinh (bào tử/100 g
đất): đếm số lượng bào tử có trong 100 g đất
trên kính hiển vi. Việc phân lập bào tử nấm cộng
sinh theo TCVN 12560 – 1:2018 bằng kỹ thuật
sàng ướt ly tâm nổi.
• Thiết bị và dụng cụ: kính hiển vi Olympus
(Model CX21FS1), lame, đĩa petri, giấy lọc, rây
50 – 1000 m, cốc thủy tinh 10 mL và 1000 mL,
pipet, máy ly tâm và một số thiết bị khác.
% chi trong mẫu (%): đếm số lượng từng chi và
tính tỉ lệ % mỗi chi có trong mẫu. Việc định danh
được thực hiện theo các tiêu chí của INVAM.
Tỉ lệ đoạn rễ có nấm cộng sinh (%): cắt rễ
thành từng đoạn có chiều dài 1 cm, chọn ngẫu
nhiên 20 đoạn rễ/mẫu, quan sát dưới kính hiển
vi sau khi nhuộm bằng trypan blue. Ghi nhận tỉ
lệ xâm nhiễm và tính tỉ lệ đoạn rễ có cộng sinh.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Chọn ngẫu nhiên 10 hộ canh tác bưởi Da Xanh
trên các nền đất trồng bưởi phổ biến tại Phú Mỹ,
Bà Rịa Vũng Tàu, diện tích trồng lớn hơn 1.000
m2, cây ở giai đoạn cho trái ổn định (6 - 7 năm
tuổi), không bón phân cách thời điểm thu mẫu 7
ngày. Tiến hành thu thập mẫu ở 2 tầng đất: 0 -
20 cm, 20 - 40 cm; ở vị trí 2/3 tán và mép tán.
Tỉ lệ đoạn rễ có nấm cộng sinh (%) = (số đoạn
rễ có nấm cộng sinh/tổng số đoạn rễ quan sát) x
100.
• Đất:
Phương pháp lấy mẫu: dựa theo TCVN5297 -
1995. Trên mỗi vườn thu mẫu, chọn ngẫu nhiên 5
điểm trong vườn theo đường chéo góc, mỗi điểm
chọn 1 cây, mỗi cây lấy ở 4 vị trí ở 4 hướng khác
nhau, mỗi vị trí lấy mẫu tại 2 tầng đất. Khi thu
Thành phần cơ giới: Theo TCVN 8567:2010.
pHH O: Đo bằng máy đo pH.
2
Hàm lượng chất hữu cơ (%): Theo phương pháp
Tyurin.
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
13
Bảng 2. Một số tính chất lý hoá của đất trồng bưởi Da Xanh tại Phú Mỹ, Bà Rịa Vũng Tàu
pHnước
(1:5)
Thành phần cơ giới đất
Sét (%) Thịt (%) Cát (%)
Hàm lượng
chất hữu cơ (%)
Loại đất Vị trí lấy mẫu
2/3 tán
Đen
59,33
63,33
63,33
67,33
10,00
9,33
8,67
8,67
30,67
27,33
28,00
24,00
4,52
4,70
4,65
4,84
3,29
3,69
3,48
3,94
Mép tán
2/3 tán
Đỏ bazan
Mép tán
Bảng 3. Sự phân bố của bào tử nấm cộng sinh trên các nền đất và độ sâu khác nhau
Tầng đất
t-test
Chỉ tiêu
Loại đất
Đen
0 – 20 cm
20 – 40 cm
149,05 4,49 53,91 1,77
Đỏ bazan 168,66 10,17 57,97 1,70
**
**
Mật số bào tử (bào tử/100g đất khô kiệt)
t-test
Đen
Đỏ bazan
t-test
**
**
57,96 0,39
58,54 0,46
ns
53,18 2,59
53,92 2,48
ns
**
**
% bào tử Glomus (%)
% bào tử Acaulospora (%)
Đen
Đỏ bazan
t-test
29,33 0,64
29,28 0,56
ns
24,98 3,06
23,68 2,96
ns
**
**
Đen
Đỏ bazan
t-test
12,71 0,54
12,18 0,53
ns
21,84 3,29
22,41 2,97
ns
**
**
% bào tử chi chưa định danh được (%)
khoảng tin cậy ở mức 95%; ∗∗: Sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê; ns: Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.
Phương pháp xử lý số liệu: Các số liệu thu thập 2011), dao động từ 3,29 - 3,94%. Kết quả cho
được tổng hợp, xử lý và so sánh t-test bằng phần thấy, pH và hàm lượng chất hữu cơ ở phần mép
mềm Excel.
tán có xu hướng cao hơn ở 2/3 tán. Điều này có
thể giải thích là do tập quán canh tác của nông
dân địa phương, đặc biệt là cách bón phân nên
ảnh hưởng đến tính chất hoá học của đất. Đa số
nông dân trồng bưởi tại Phú Mỹ, Bà Rịa Vũng
Tàu bón phân hoá học ở vị trí khoảng 2/3 tán.
Việc bón một số loại phân hoá học, đặc biệt là
super lân, kali sunphat sẽ khiến đất chua hơn.
3. Kết Quả và Thảo Luận
3.1. Đặc tính lý hoá của đất trồng bưởi Da
Xanh
Những đặc điểm của đất có ảnh hưởng một
cách rõ ràng đến cả cây trồng và nấm cộng sinh
nên việc nghiên cứu về VAM cần xem xét đến
yếu tố thổ nhưỡng cũng như cây trồng và nấm
(Kapoor & ctv., 2002). Tại Phú Mỹ, Bà Rịa Vũng
Tàu, các nông hộ trồng bưởi chủ yếu trên hai
3.2. Sự phân bố của bào tử nấm cộng sinh trên
các nền đất khác nhau
Trên 2 nền đất trồng bưởi Da Xanh phổ biến tại
nền đất: đất đen và đất đỏ bazan. Kết quả Bảng Phú Mỹ, Bà Rịa Vũng Tàu, kết quả khảo sát cho
sa cấu sét (với tỉ lệ sét cao hơn 50%) (USDA, nhau, trong đó có 2 chi định danh được là Glomus
1960), trong đó đất bazan có tỉ lệ sét cao hơn
60%. Đồng thời, các mẫu đất có pHH O (1:5) ở
mức chua rất nhiều (Slavich & Petters2on, 1993),
và Acaulospora. Ở các tầng đất khác nhau, mật
số bào tử nấm cộng sinh, tỉ lệ % của các chi hiện
diện trong đất cũng khác nhau và khác biệt rất có
rất có ý nghĩa về mật số bào tử nhưng tỉ lệ % của
các chi hiện diện trong đất khác biệt không có ý
nghĩa về mặt thống kê khi so sánh t-test. Đất có
dao động trong khoảng 4,52 - 4,84. Ở mức pH
này, lân và một số nguyên tố khác dễ bị cố định,
gây ảnh hưởng một phần đến sự phân bố và hiện
diện của các chi và loài nấm cộng sinh. Hàm lượng
chất hữu cơ ở mức trung bình (Rayment & Lyons,
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)
14
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
hàm lượng sét, pH và chất hữu cơ cao hơn thì mật 3.3. Sự phân bố của bào tử nấm cộng sinh ở
các vị trí lấy mẫu khác nhau
số bào tử VAM cũng có xu hướng tăng. Kết quả
này phù hợp với kết luận của Day & ctv. (1987)
tại Phú Mỹ, Bà Rịa Vũng Tàu, ở các tầng đất
và vị trí lấy mẫu khác nhau, mật số bào tử nấm
VAM nói chung và các chi Glomus, Acaulospora
nói riêng khác biệt rất có ý nghĩa về mặt thống
kê. Cụ thể, mật số bào tử ở tầng đất mặt (0 –
20 cm) cao hơn lượng bào tử thu thập ở tầng 20
– 40 cm bởi việc sản sinh bào tử tập trung chủ
yếu ở lớp đất mặt (Oehl & ctv., 2005; Cuenca &
Lovera, 2010) và có thể cộng sinh với phần lớn
rễ hút hiện diện ở tầng canh tác. Nấm VAM phụ
thuộc hoàn toàn vào nguồn cacbon của cây ký
chủ, vì vậy, sự phân bố của bào tử VAM có liên
quan đến sự phân bố rễ trong đất. Kết quả cũng
cho thấy bào tử chi Glomus và Acaulospora hiện
diện với mật số khá cao, đặc biệt là trên tầng
đất mặt. Có lẽ do đây là hai chi cần ít thời gian
để hình thành bào tử hơn loài của các chi khác
(Wang & Jiang, 2015). Hơn nữa, kết quả cũng chỉ
ra rằng, bào tử VAM tập trung nhiều ở phần mép
tán (nhiều hơn so với 2/3 tán) ở tất cả các tầng
đất. Điều này có thể lý giải là do ở mép tán, pH
(Joner & Jakobsen, 1995; He & ctv., 2002). Bên
cạnh đó, theo quan sát thực địa, một lượng lớn rễ
hút phân bố chủ yếu theo hình chiếu tán cây, tạo
điều kiện cho nấm cộng sinh xâm nhập và phát
triển. Riêng đối với chi Acaulospora, mật số bào
tử trong tầng đất mặt (0 - 20 cm) ở mép tán và
2/3 tán là như nhau, khác biệt không có ý nghĩa
về mặt thống kê. Tương tự, ở tầng sâu hơn (20 -
40 cm), mật số bào tử chưa định danh được cũng
không phụ thuộc vào vị trí lấy mẫu.
và Johnson & ctv. (1991). Đặc biệt trên nền đất
giàu hữu cơ, sự phân nhánh và phát triển của sợi
nấm sẽ được kích thích khi có sự cạnh tranh với
các vi sinh vật khác (Joner & Jakobsen, 1995).
Do đó, mật số bào tử VAM trong đất đỏ bazan
cao hơn mật số bào tử VAM trong đất đen, khác
biệt rất có ý nghĩa về mặt thống kê. Mặt khác,
Bảng 3 cũng cho thấy nấm VAM hiện diện chủ
yếu trên tầng đất mặt (0 - 20 cm) với mật số khá
cao và giảm mạnh ở tầng 20 - 40 cm. Điều này
cho thấy, độ sâu của đất càng tăng, mật số bào tử
nấm VAM càng giảm. Kết quả này phù hợp với
nghiên cứu của Cuenca & Lovera (2010), Shukla
& ctv. (2013), Nguyen & ctv. (2017). Bởi khi độ
sâu đất càng tăng, lượng chất hữu cơ, hàm lượng
oxy sẽ càng giảm, và các rễ tơ - nơi nấm rễ có thể
cộng sinh tập trung chủ yếu ở lớp đất mặt.
Trong các chi nấm VAM hiện diện trong đất
trồng bưởi Da Xanh tại Phú Mỹ, Bà Rịa Vũng
Tàu, chi Glomus chiếm ưu thế nhất (trên 50%).
Đây cũng là chi nấm hiện diện chủ yếu trong đất
trồng cây có múi theo kết luận của Davies & Al-
brigo (1994) và Fidelibus & ctv. (2000). Một vài
loài trong chi Glomus phổ biến trong đất trung
tính hoặc kiềm nhưng một số ít lại hiện diện trong
đất chua trong khi các loài thuộc chi Acaulospora
lại thường tìm thấy trên đất chua (Rupam & ctv.,
2002). Chính vì vậy, kết quả khảo sát trên vùng
đất trồng bưởi Da Xanh tại Phú Mỹ cho thấy,
bên cạnh chi Glomus, chi Acaulospora cũng khá
phổ biến. Chi Acaulospora và chi Glomus cũng là
hai trong những chi phổ biến nhất trên đất trồng
cam ở Nghệ An (Nguyen & ctv., 2012) hay đất
trồng cam quýt ở miền Nam Trung Quốc (Wang
& ctv., 2012).
3.4. Sự phân bố của nấm cộng sinh trong rễ
của các chi nấm thay đổi theo độ sâu tầng đất,
khác biệt rất có ý nghĩa về mặt thống kê khi so
sánh t-test. Kết quả này cũng phù hợp với nghiên
cứu của Shukla & ctv. (2013). Theo Oehl & ctv.
(2005), có thể có một vài loài VAM khá phổ biến,
có mặt ở các độ sâu khác nhau của đất nhưng
cũng có một vài loài chỉ hiện diện ở độ sâu đặc
biệt và rất khác biệt so với những loài VAM có
trong tầng đất mặt. Có lẽ chính vì vậy mà những
chi khác (chưa định danh được) hiện diện trong
tầng đất trồng bưởi Da Xanh tại Phú Mỹ ở độ
sâu 20 - 40 cm với tỉ lệ cao hơn so với tầng 0 - 20
cm.
Lợi ích mà nấm VAM mang lại chỉ khi có sự
cộng sinh với rễ (Solaiman & Hirata, 1996). Kết
quả cho thấy nấm VAM cộng sinh trong rễ bưởi
Da Xanh trồng tại Phú Mỹ, Bà Rịa Vũng Tàu
với tỉ lệ khác nhau. Có khoảng 53 - 65% đoạn rễ
khảo sát có sự cộng sinh. Theo thang phân loại
của Zangaro & ctv. (2002), kết quả này ở mức
trung bình đến cao. Theo khảo sát t-test, tỉ lệ
đoạn rễ có nấm cộng sinh ở vị trí 2/3 tán và mép
tán khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê
Da Xanh có nấm cộng sinh trên 2 nền đất tại vị
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
15
Bảng 4. Sự phân bố của bào tử nấm cộng sinh ở độ sâu và vị trí lấy mẫu khác nhau
Vị trí lấy mẫu
t-test
Chỉ tiêu
Tầng đất
Trung bình
2/3 tán
Mép tán
0 - 20 cm 150,43 7,81 167,29 8,17 158,86 7,84
**
**
Mật số bào tử VAM
(bt/100 g đất khô kiệt)
20 - 40 cm 52,25 1,34
59,62 1,64
**
55,94 1,30
t-test
**
0 - 20 cm
20 - 40 cm 28,02 1,59
87,45 4,74
97,62 4,62
31,87 1,60
**
92,54 4,57
29,94 1,25
**
**
Mật số bào tử Glomus
(bt/100 g đất khô kiệt)
t-test
**
0 - 20 cm
20 - 40 cm 11,99 1,51
44,84 2,74
48,51 2,91
15,39 1,95
**
46,67 2,74
13,69 1,20
ns
**
Mật số bào tử Acaulospora
(bt/100 g đất khô kiệt)
t-test
**
0 - 20 cm
20 - 40 cm 12,24 1,71
t-test **
18,14 0,89
21,15 1,18
12,37 1,81
**
19,65 0,92
12,31 1,33
**
ns
Mật số bào tử chi chưa
định danh được
(bt/100 g đất khô kiệt)
khoảng tin cậy ở mức 95%; ∗∗: Khác biệt rất có ý nghĩa thống kê; ∗: Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê; ns: Sự khác biệt
không có ý nghĩa thống kê.
trí 2/3 tán. Điều này cho thấy vị trí 2/3 hay mép
tán, nấm VAM đều có thể cộng sinh trong rễ với
tỉ lệ như nhau. Tỉ lệ này chỉ bị ảnh hưởng khi
canh tác bưởi trên các nền đất khác nhau. Trên
nền đất đỏ bazan, tỉ lệ đoạn rễ bưởi có nấm cộng
sinh cao hơn đoạn rễ bưởi thu thập trên nền đất
đen. Nguyên nhân có thể do bào tử VAM ở nền
đất này hiện diện với mật số cao hơn.
production status in Ba Ria Vung Tau (research re-
port). Ba Ria Vung Tau Agriculture and Rural Devel-
opment Department, Ba Ria Vung Tau, Vietnam.
Cuenca, G., & Lovera, M. (2010). Seasonal variation and
distribution at different soil depths of Arbuscular Myc-
orrhizal fungi spores in a tropical sclerophyllous shrub-
land. Botany 88(1), 54-64.
Davies, F. S., & Albrigo, L. G. (1994). Citrus (Crop pro-
duction science in horticulture) (1st ed.). Oxford, UK:
Oxford University Press.
Bảng 5. Tỉ lệ (%) đoạn rễ bưởi Da Xanh có nấm
cộng sinh
Day, L. D., Sylvia, D. M., & Collins, M. E. (1987). Inter-
actions among vesicular arbuscular mycorrhizae, soil,
and landscape position. Soil Science Society of Amer-
ica Journal 51(3), 635-639.
Vị trí lấy mẫu
t-test
Loại đất
Đen
2/3 tán
Mép tán
56,20 3,11 58,40 3,80 ns
Fidelibus, M. W., Martin, C. A., Wright, G. C., & Stutz,
J. C. (2000). Effect of arbuscular mycorrhizal (AM)
fungal communities on growth of ’Volkamer’ lemon
in continually moist or periodically dry soil. Scientia
Horticulturae 84(1-2), 127-140.
Đỏ bazan 62,00 3,37 62,20 3,10 ns
t-test ns
*
:
Khoảng tin cậy ở mức 95%; ∗: Sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê; ns: Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.
Gadkar, V., David-Schwartz, R., Kunik, T., & Kapulnik,
Y. (2001). Arbuscular mycorrhizal fungal colonization.
Factors involved in host recognition. Plant Physiology
127(4), 1493-1499.
4. Kết Luận
Trên vùng đất trồng bưởi Da Xanh tại Phú Mỹ,
Bà Rịa Vũng Tàu có sự hiện diện của VAM với 2
chi chính là Glomus và Acaulospora. Mật số bào
tử VAM và tỉ lệ rễ có sự cộng sinh trên nền đất
đỏ cao hơn trên đất đen, tập trung chủ yếu trên
tầng đất mặt và ở vị trí mép tán. Độ sâu tầng
canh tác càng cao, mật số bào tử càng giảm và
thành phần các chi VAM cũng thay đổi.
He, X. L., Mouratov, S., & Steinberger, Y. (2002). Spatial
distribution and colonization of arbuscular mycorrhizal
fungi under the canopies of desert halophytes. Arid
Land Research and Management 16(2), 149-160.
Johnson, N. C., Zak, D. R., Tilman, D., & Pfleger, F. L.
(1991). Dynamics of vesicular-arbuscular mycorrhizal
fungi during old field succession. Oecologia 86, 349-
358.
Joner, E. J., & Jakobsen, I. (1995). Growth and extracel-
lular phosphatase activity of arbuscular mycorrhizal
hyphae as influenced by soil organic matter. Soil Biol-
ogy and Biochemistry 27(9), 1153-1159.
Tài Liệu Tham Khảo (References)
BRVT CPPPS (Ba Ria Vung Tau Crop Production and
Plant Protection Subdepartment). (2018). Fruit crops
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)
16
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
Kapoor, R., Giri, B., & Mukerji, K. G. (2002). Soil
factors in relation to distribution and occurrence of
vesicular Arbuscular Mycorrhiza. In Mukerji, K. G.,
Manoharachary, C., & Chamola, B. P. (Eds.). Tech-
niques in mycorrhizal studies (51-85). Dordrecht, Ger-
many: Springer.
Oehl, F., Sieverding, E., Ineichen, K., Ris, E. A., Boller,
T., & Wiemken, A. (2005). Community structure of
arbuscular mycorrhizal fungi at different soil depths in
extensively managed agroecosystems. New Phytologist
165(1), 273-283.
Wang, M.,
& Jiang, P. (2015). Colonization and
Nguyen, L. T. K., Le, T. T., Nguyen, H. V., & Nguyen, H.
H. (2012). A study on Arbuscular Mycorrhiza diversity
in soil and orange roots sampled from Quy Hop, Nghe
An. Journal of Biology 34(4), 441-445.
diversity of AM fungi by morphological anal-
ysis on medicinal plants in Southeast China.
The Scientific World Journal (ID 753842).
Nguyen, T. T., Tran T. T. T., & Nguyen, H. V. (2017).
Distribution of Arbuscular Mycorrhiza fungi (AMF)
spores in citrus orchards in Cao Phong district, Hoa
Binh province. Journal of Science: Advanced Materials
and Devices 33(1S), 235-242.
Wang, P., Zhang, J. J., Shu, B., & Xia, R. X. (2012).
Arbuscular mycorrhizal fungi associated with citrus
orchards under different types of soil management,
southern China. Plant Soil Environment 58, 302-308.
Wu, Q. S., Zou, Y. N., He, X. H., & Luo, P. (2011). Arbus-
cular mycorrhizal fungi can alter some root characters
and physiological status in trifoliate orange (Poncirus
trifoliate L. Raf.) seedlings. Plant Growth Regulation
65, 273-278.
Rayment, G. E., & Lyons, D. J. (2011). Soil chemical
methods - Australasia. Collingwood, Australia: Csirop-
ublishing.
Shukla, A., Vyas, D., & Anuradh, J. (2013). Soil depth:
an overriding factor for distribution of arbuscular my-
corrhizal fungi. Journal of Soil Science and Plant Nu-
trition 13(1), 23–33.
Zangaro, W., Nisizaki, S. M. A., Domingos, J. C. B.,
& Nakano, E. M. (2002). Arbuscular mycorrhizal in
native woody species of Tibagi River Basin, Paraná.
Cerne 8(1), 077-087.
Slavich, P. G., & Petterson, G. H. (1993). Estimating the
critical conductivity of saturated paste extracts from
1:5 soil: water suspensions and texture. Australian
Journal of Soil Research 31(1), 73-81.
Solaiman, M. Z., & Hirata, H. (1996). Effectiveness of
arbuscular mycorrhizal colonization at nursery stage
on growth and nutrition in wetland rice (Oryza sativa
L) after transplanting under different soil fertility
and water regimes. Soil Science and Plant Nutrition
42(3), 561-571.
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)
Bạn đang xem tài liệu "Sự phân bố và hiện diện của nấm rễ nội cộng sinh (Vesicular Arbuscular Mycorrhyza) trong vùng đất trồng bưởi da xanh tại Bà Rịa - Vũng Tàu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
su_phan_bo_va_hien_dien_cua_nam_re_noi_cong_sinh_vesicular_a.pdf

