Phát hiện đột biến mới trên gen ESCO2 trên bệnh nhi mắc dị tật dính ngón bàn tay bẩm sinh

VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 3 (2020) 10-16  
Original Article  
Detection of a Novel Mutation on the Gene ESCO2 in a  
Pediatric Patient with Syndactyly  
Nguyen Thy Ngoc1,2,, Le Thi Van Anh1, Nguyen Thuy Duong2,3, Nong Van Hai2,3  
1University of Science and Technology of Hanoi, Vietnam Academy of Science and Technology,  
18 Hoang Quoc Viet, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
2Graduate University of Science and Technology, Vietnam Academy of Science and Technology,  
18 Hoang Quoc Viet, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
3Institute of Genome Research, Vietnam Academy of Science and Technology,  
18 Hoang Quoc Viet, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
Received 05 January 2020  
Revised 24 April 2020; Accepted 25 April 2020  
Abstract: Syndactyly is a congenital disease caused by the limb formation abnormalities during  
fetal development. In this research, we studied the genetic mutations in a pediatric patient with 3rd  
and 4th fingers were fused together, symmetrically using the whole exome sequencing techniques  
based on Next generation sequencing. The obtained data revealed a novel mutation located in exon  
11 of the gene ESCO2: c.1745A>G: p.582K>R. Sequence verification by Sanger sequencing  
confirmed the existence of this mutation in the patient as heterozygous form. In silico prediction  
using PredictSNP, PhD-SNP, PROVEAN or Polyphen-2 tools indicated that the mutation was likely  
to affect the structure and function of Acetyltransferase? (encoded by ESCO2 gene). Further studies  
will be performed to analyze the effect of this mutations on the intracellular protein network  
associated with syndactyly.  
Keywords: Congenital disorder, syndactyly. Genetic mutation, ESCO2, child, Vietnam.  
________  
Corresponding author.  
Email address: [email protected]  
10  
N.T. Ngoc et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 3 (2020) 10-16  
11  
Phát hiện đột biến mới trên gen ESCO2  
trên bệnh nhi mắc dị tật dính ngón bàn tay bẩm sinh  
Nguyễn Thy Ngọc1,2,, Lê Thị Vân Anh1, Nguyễn Thùy Dương2,3, Nông Văn Hải2,3  
1Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội, Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam,  
18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
2Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam,  
18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
3Viện Nghiên cứu Hệ gen, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ VIệt Nam,  
18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 05 tháng 01 năm 2020  
Chỉnh sửa ngày 24 tháng 4 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 25 tháng 4 năm 2020  
Tóm tắt: Dính ngón bàn tay chân là một dị tật bẩm sinh gây ra do những rối loạn bất thường trong  
quá trình hình thành bàn tay, bàn chân ở giai đoạn phát triển phôi. Nghiên cứu này tập trung vào  
phát hiện các đột biến gen xảy ra ở một bệnh nhi bị dị tật dính ngón 3 và 4 đối xứng ở hai bên bàn  
tay bằng kỹ thuật giải trình tự hệ gen biểu hiện dựa trên công nghệ giải trình tự thế hệ mới. Dữ liệu  
cho thấy một đột biến sai nghĩa mới phát hiện thuộc exon 11 của gen ESCO2: c.1745A>G:  
p.582K>R. Kết quả kiểm tra lại trình tự chứa đột biến bằng giải trình tự Sanger đã xác nhận sự tồn  
tại của đột biến này trong hệ gen của bệnh nhân dưới dạng dị hợp tử. Các kết quả dự đoán in silico  
bằng các công cụ như PredictSNP, PhD-SNP, PROVEAN hay Polyphen-2 cho thấy amino acid bị  
thấy thế có khả năng cao làm thay đổi cấu trúc của protein và giảm hoạt tính enzyme  
Acetyltransferases mà gen ESCO2 mã hóa. Nghiên cứu này là tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo  
nghiên cứu về ảnh hưởng của đột biến lên mạng lưới protein nội tế bào dẫn đến dị tật dính ngón.  
Từ khóa: Dị tật bẩm sinh, dính ngón, đột biến gen, ESCO2, trẻ em, Việt Nam.  
dính liền có thể bao gồm cả sụn và xương. Các  
chi bị dính ngón có thể là hai chi đối xứng hoặc  
không đối xứng (chỉ có một bên chi bị dị tật). Dị  
tật này xảy ra do sự bất thường trong quá trình  
phát triển phôi thai vào khoảng tuần thứ bảy đến  
tuần thứ tám của thai kỳ. Ở các thai nhi phát triển  
bình thường, phần trung mô liên kết mô giữa các  
ngón tay và ngón chân bị chết theo chương trình  
(apoptosis) làm tan màng phân tách các chi bàn  
tay và bàn chân. Tuy nhiên ở những thai nhi bị  
dị tật dính ngón, quá trình này đã không xảy ra  
dẫn đến việc nhiều ngón tay, ngón chân vẫn dính  
1. Mở đầu  
Dính ngón bàn tay, bàn chân là một trong  
những dị tật tay bẩm sinh phổ biến nhất. Bệnh  
nhân mắc phải dị tật này có hai hoặc nhiều ngón  
ở các chi (bàn tay, bàn chân) bị dính chặt vào  
nhau. Tỷ lệ trẻ sơ sinh mắc phải dị tật dính ngón  
tay chân là 1 trong 2000-3000 trẻ sơ sinh trên  
toàn thế giới, trong đó trẻ nam dễ bị mắc phải  
hơn trẻ nữ [1]. Tùy thuộc vào từng phân nhóm,  
dị tật này có thể chỉ bao gồm các mô mềm ở các  
thể nhẹ. Ở các thể nặng hơn, phần mô ngón bị  
________  
Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]  
N.T. Ngoc et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 3 (2020) 10-16  
12  
liền với nhau một phần hoặc toàn phần cho đến  
khi sinh nở [2]. Cho đến nay, đã có chín loại dị  
tật dính ngón bàn tay – bàn chân không kèm theo  
hội chứng khác và hơn 300 loại dị tật dính ngón  
có kèm theo hội chứng, như hội chứng Apert, hội  
chứng Robert, hội chứng Ba Lan, hội chứng  
Jackson-Weiss hoặc hội chứng Saethre-Chotzen,  
đã được phát hiện [3,4].  
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Bệnh nhân  
Bệnh nhi là nam, 3 tuổi, bị dính ngón 3 và  
ngón 4 ở cả 2 bàn tay (đối xứng) đặc trưng ở  
bệnh dính ngón chân tay dạng I-c. Bệnh nhi được  
chọn hoàn toàn ngẫu nhiên khi đến khám và điều  
trị tại Khoa Chỉnh hình, Bệnh viện Nhi Trung  
Ương là nơi nhóm nghiên cứu tiến hành lấy mẫu.  
Bệnh nhân có bố mẹ có kiểu hình bình thường,  
trong gia đình không có ai bị mắc phải căn bệnh  
này. Các mô dính liền bao gồm mô da, mô thịt  
và một phần mô xương. Bệnh nhi có bàn chân  
hoàn toàn bình thường, các phần khác trên cơ thể  
cũng không có dấu hiệu bất thường nào. Bệnh  
nhi đến khám và phẫu thuật tại Khoa Chỉnh hình,  
Bệnh viện Nhi Trung Ương. Thủ tục lấy mẫu  
được tuân thủ đúng theo quy định của Bệnh viện  
Nhi Trung Ương. Gia đình của bệnh nhi đã được  
thông báo về mục đích của nghiên cứu và ký vào  
giấy đồng ý tham gia nghiên cứu. Nghiên cứu đã  
được Hội đồng Y đức của bệnh viện Nhi Trung  
ương cho phép tiến hành nghiên cứu theo Quyết  
định số 564/BVNTW-VNCSKTE ngày 18 tháng  
4 năm 2018.  
Ở dị tật dính ngón bàn tay chân, nhân tố di  
truyền (đột biến gen, DNA) là nhân tố có vai trò  
chi phối quyết định. Phần lớn các đột biến gen  
gây ra dị tật dính ngón chân tay được di truyền  
theo mô hình đột biến dạng trội không liên kết  
với giới tính. Tuy nhiên, một số đột biến gen liên  
quan đến dị tật này di truyền theo dạng lặn không  
liên kết giới tính, và một số dạng đột biến gây  
bệnh khác có di truyền liên kết với nhiễm sắc thể  
giới tính X [4-6]. Một số gen đã được các nghiên  
cứu trên thế giới chỉ ra trực tiếp gây nên dị tật  
dính ngón chân tay và những bất thường khác ở  
bàn tay, bàn chân như: HOXD13 [7], LRP4 [8],  
GJA1 [9] và nhiều gen khác. Gen ESCO2 mã hóa  
cho protein N-acetyltransferase ESCO 2, vốn  
đóng vai trò rất quan trọng trong việc phân tách  
2 nhiễm sắc thể chị em ở pha S trong chu kỳ phân  
bào cúa tế bào. Một vài nghiên cứu gần gây đã  
chỉ ra rằng đột biến trên gen ESCO2 có thể dẫn  
đến những dị thường ở phôi người trong giai  
đoạn mang thai, khiến trẻ em sinh ra mang đột  
biến này mắc phải hội chứng Roberts [10,11].  
Đây là một hội chứng bệnh với các đặc điểm  
như dị dạng xương bàn tay, bàn chân, mặt và hộp  
sọ, bệnh nhân mắc hội chứng Robert thường mắc  
phải trạng thái suy giảm trí tuệ với mức độ nặng  
nhẹ khác nhau.  
Bệnh dính ngón là một căn bệnh phức tạp  
bao gồm nhiều dạng, phân dạng khác nhau, dựa  
vào cấu trúc mô dính và các đặc điểm kiểu hình.  
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng kỹ  
thuật giải trình tự toàn bộ hệ gen biểu hiện bằng  
công nghệ giải trình tự thế hệ mới để khảo sát  
các đột biến gen ở một bệnh nhi mắc dị tật dính  
ngón chân tay dạng I-c. Kết quả của nghiên cứu  
này sẽ là tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo  
trên cỡ mẫu lớn hơn nhằm điều tra toàn diện hơn  
về những đột biến có thể liên quan đến bệnh dính  
ngón tay chân trên quần thể người Việt.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Thu thập mẫu máu tổng số  
Thủ tục lấy mẫu được tuân thủ theo quy định  
của Bệnh viện Nhi Trung ương về cách lấy mẫu  
trong nghiên cứu khoa học. Gia đình của bệnh  
nhi đã được thông báo về mục đích của nghiên  
cứu và ký vào giấy đồng ý tham gia nghiên cứu.  
Mẫu nghiên cứu là 2ml máu toàn phần được lấy  
từ ven tĩnh mạch chân của bệnh nhân. Mẫu máu  
sau khi lấy được cất trong ống chứa chất chống  
đông chứa EDTA và bảo quản ở tủ đông -20oC  
cho đến khi sử dụng cho các nghiên cứu tiếp  
theo.  
Thiết lập thư viện DNA và giải trình tự toàn  
bộ hệ gen biểu hiện  
DNA tổng số được tách từ mẫu máu toàn  
phần của bệnh nhi bằng kit tách DNA GeneJET  
Whole Blood Genomic DNA Purification Mini  
kit (ThermoFisher Scientific, USA). Nồng độ và  
N.T. Ngoc et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 3 (2020) 10-16  
13  
chất lượng của DNA được kiểm tra bằng phương  
pháp điện di trên gel agarose 0,8% và bằng  
phương pháp quang phổ trên máy Nanodrop Lite  
(ThermoFisher Scientific, USA). Thư viện hệ  
gen biểu hiện được chuẩn bị bằng kit  
SureSelectXT Library Prep Kit (Aligent  
Technology, USA) theo phương pháp của nhà  
sản xuất. Thư viện hệ gen biểu hiện này sau đó  
sẽ được giải trình tự thế hệ mới trên máy giải  
trình tự Illumina Novaseq 6000 (MacroGen) tạo  
thành các trình tự có độ dài 151 bp bắt cặp  
(paired – end).  
Dự đoán ảnh hưởng của đột biến lên chức  
năng của protein bằng các công cụ in-silico  
Tác động của đột biến gen sai nghĩa lên cấu  
trúc và chức năng của protein mà gen đó mã hóa  
được phân tích và dự đoán bằng các công cụ  
chuyên phân tích đột biến như PredictSNP, PhD-  
SNP, PROVEAN hay Polyphen-2. Mô hình di  
truyền (trội / lặn) của gen được nghiên cứu được  
đối chiếu cơ sở dữ liệu OMIM của Genecards.  
Độ bảo thủ của trình tự amino acid chứa điểm  
đột biến giữa các loài sinh vật khác nhau được  
phân tích dựa trên cơ sở dữ liệu của ngân hàng  
hệ gen UCSC Genome Browser.  
So sánh với ngân hàng gen, sàng lọc các đột  
biến  
3. Kết quả nghiên cứu  
Trình tự gen các đoạn đọc thu được được sắp  
xếp, căn chỉnh mà đánh dấu vị trí dựa trên bộ gen  
người tham chiếu phiên bản GRCh37/hg19 trên  
ngân hàng gen bằng phần mềm Burrows-  
Wheeler Aligner v0.7.17. Các đoạn đọc có chất  
lượng thấp hoặc không được đánh dấu vị trí được  
lọc bỏ bằng các phần mềm Trimmomatic v0.39  
và Samtools v1.3. Các đoạn lặp khuếch đại do  
phản ứng PCR được đánh dấu và lọc bỏ bằng  
phần mềm Picard v2.18.7. Sau khi so sánh với  
ngân hàng gen, các điểm đa hình, đột biến sai  
khác được chỉ ra bằng phần mềm Genome  
Analysis Toolkit v4.1.0.0. Các đa hình phổ biến  
đã được công bố được lọc bỏ, những đột biến  
điểm còn lại được chú thích vị trí gen bằng phần  
mềm ANNOVAR.  
3.1. Giải trình tự hệ gen biểu hiện và kiểm tra  
bằng phương pháp Sanger  
Từ mẫu máu toàn phần của bệnh nhi dính  
ngón tay, trình tự toàn bộ hệ gen biểu hiện đã  
được xác định theo phương pháp giải trình tự thế  
hệ mới của hãng Illumina. Kết quả giải trình tự  
thu được gần 80 triệu đoạn đọc (reads) ở hệ gen  
biểu hiện và các vùng lân cận, với độ bao phủ lên  
đến hơn 200X. Trong đó tỷ lệ các đoạn đọc cho  
chất lượng rất tốt (điểm chất lượng Q-score lớn  
hơn 30) chiếm 93%.  
Từ dữ liệu giải trình tự này, chúng tôi tiến  
hành xử lý dữ liệu, so sánh với trình tự tham  
chiếu GRCh37/hg19 để tìm ra các điểm sai khác  
như đã trình bày trong phần phương pháp nghiên  
cứu. Sau khi lọc bỏ các đột biến không thuộc các  
gen đã công bố có liên quan đến dị tật dính ngón  
bàn tay chân, các đa hình đã được công bố trên  
ngân hàng dbSNP v151, chúng tôi đã tìm thấy  
một đột biến mới thuộc gen ESCO2 có thể có liên  
quan đến dị tật dính ngón. Đây là đột biến sai  
nghĩa (missense mutation) nằm trên nhiễm sắc  
thể số 8, vị trí số 27660894 (vị trí 1745 trên  
cDNA của gen ESCO2), thay đổi nucleotide A  
thành G. Đột biến này làm thay đổi amino acid  
thứ 582 từ Lysine (K) thành Arginine (R). Đột  
biến tồn tại hệ gen của bệnh nhi mang dị tật dính  
ngón dưới dạng dị hợp tử (heterozygous). Vị trí  
đột biến này trên gen ESCO2 và kết quả kiểm tra  
lại đột biến bằng phương pháp giải trình tự  
Sanger được thể hiện trên Hình 1.  
Kiểm tra lại đột biến bằng phương pháp giải  
trình tự Sanger  
Các đoạn DNA chứa đột biến cần nghiên cứu  
sẽ được khuếch đại bằng phản ứng PCR thể tích  
20µl với thành phần bao gồm: 20 ng DNA tổng  
số, đệm PCR 1X, dNTP nồng độ 2,5 mM, nồng  
độ mồi 0,2 µM và 1 U Taq DNA polymerase  
(Qiagen ). Sản phẩm PCR đã được kiểm tra bằng  
điện di trên gel agarose 1,5% và tinh sạch bằng  
kit PCR Purification GeneJET (Thermo  
Science). Trình tự sản phẩm PCR tương ứng thu  
được theo phương pháp giải trình tự Sanger bằng  
kit đọc trình tự ABI Big Dye Terminator v3.1  
(Applied Biosystems, CA) trên máy đọc trình tự  
ABI 3500 (Applied Biosystems).  
N.T. Ngoc et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 3 (2020) 10-16  
14  
3.2. Dự đoán ảnh hưởng của đột biến thu được  
bằng các công cụ tin sinh học  
Đột biến ESCO2: c.1745A>G: p.582K>R  
sau khi được phát hiện ở bệnh nhi dính ngón tay  
chân được đưa vào mô hình dự đoán của đột biến  
này lên cấu trúc và chức năng của enzyme  
Acetyltransferase ESCO2 bằng các công cụ in-  
silico. Kết quả dự đoán bằng công cụ  
PredictSNP2 cho thấy đột biến này triệt tiêu hoạt  
tính của enzyme (deleterious) với độ chính xác  
97%. Công cụ PROVEAN cũng cho kết quả  
tương tự với điểm dự đoán -2,805 (đột biến được  
cho là thay đổi hoạt tính protein khi có điểm dự  
Hình 1. Vị trí đột biến phát hiện được thuộc exon 11  
của gen ESCO2 (A) và kết quả phân tích trình tự  
Sanger kiểm tra lại đột biến (B).  
đoán < -2,5). Các công cụ PolyPhen-2 và PhD-  
SNP cũng cho thấy kết quả tương tự (Bảng 1).  
Bảng 1. Kết quả dự đoán ảnh hưởng của đột biến ESCO2: p.582Lys>Arg lên chức năng protein  
Công cụ dự đoán (Điểm dự đoán)  
Gen  
Điểm đột biến  
PredictSNP2  
PolyPhen-2  
PROVEAN PhD-SNP  
Deleterious  
(97%)  
Probably damaging (1) Deleterious  
(-2,805)  
Disease  
(1)  
ESCO2  
p.K582R  
Trình tự amino acid chứa điểm đột biến  
ESCO2: p.582 K>R được đưa vào so sánh trình  
tự bảo thủ giữa người và các động vật khác trên  
ngân hàng gen UCSC Genome Browser. Kết quả  
cho thấy trình tự này được bảo tồn (không thay  
đổi) giữa các loài: Từ người đến các loài động  
vật có vú lân cận con người và các loài động vật  
không lân cận như rùa xanh (Hình 2).  
4. Thảo luận và kết luận  
Đối với bệnh dính ngón chân tay dạng I-c,  
cho đến nay mới chỉ có một đột biến trên gen  
HOXD13 c.917G > A (p.R306Q) được công bố  
phát hiện trên một phả hệ gia đình người Trung  
Quốc gồm 5 thành viên bị dính ngón dạng này  
[12]. Ngoài ra, một số gen cũng được phát hiện  
ở một vài gia đình có bệnh nhân dính ngón thuộc  
các dạng khác như gen FBLN1 liên quan đến  
dính ngón dạng II [13], gen LMBR1 liên quan  
đến dạng IV [14], hay gen LRP4 liên quan đến  
dạng VII [15].  
Trong công trình này, bằng kỹ thuật giải trình  
tự hệ gen biểu hiện theo phương pháp giải trình  
tự thế hệ mới, nhóm nghiên cứu đã phát hiện một  
đột biến thay thế mới ESCO2: c.1745A>G:  
p.582K>R trên bệnh nhi mắc dị tật dính ngón  
bàn tay 3-4 ở cả hai bàn tay. Ngoài ra, bệnh nhi  
không mắc phải đột biến nào thuộc các gen có  
liên quan đến bệnh dính ngón chân tay kể trên  
(HOXD13, FBLN1, LMBR1, LRP4). Đột biến  
Hình 2. Kết quả so sánh độ bảo thủ của trình tự  
amino acid chứa đột biến ESCO2:p.582Lys>Arg  
giữa người và các động vật khác.  
N.T. Ngoc et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 3 (2020) 10-16  
15  
này hoàn toàn chưa từng được công bố trong các  
công trình nghiên cứu trước đây cả trong và  
ngoài nước. Bằng các công cụ phân tích in-silico,  
đột biến này được dự đoán sẽ làm giảm mạnh  
hoạt tính của acetyltransferase ESCO2. Vị trí của  
đột biến ESCO2: p.582K>R là bảo thủ giữa  
những loài động vật có xương sống gần gũi với  
con người cũng như những loài cách khá xa con  
người trên bản đồ tiến hóa. Điều này cho thấy  
điểm đột biến này ở một vị trí rất quan trọng có  
thể thay đổi cấu trúc và hoạt tính của protein nếu  
xảy ra biến đổi ở khu vực này.  
Tài liệu tham khảo  
[1] H. Ahmed, H. Akbari, A. Emami, M.R. Akbari,  
Genetic Overview of Syndactyly and Polydactyly,  
Plastic and reconstructive surgery Global open 5,  
[2] H. Deng, T. Tan, Advances in the Molecular  
Genetics of Non-syndromic Syndactyly, Current  
genomics 16, 3 (2015) 183-193. https://doi.org/  
[3] D. Jordan, S. Hindocha, M. Dhital, M. Saleh, W.  
Khan, The epidemiology, genetics and future  
management of syndactyly, The open  
orthopaedics journal 6 (2012) 14-27. https://doi.  
org/10.2174/1874325001206010014.  
[4] S. Malik, Syndactyly: phenotypes, genetics and  
current classification, European journal of human  
genetics 20, 8 (2012) 817-824. https://doi.org/10.  
Acetyltransferase ESCO1 và 2 là những  
enzyme đã được chỉ ra đóng vai trò tối quan  
trọng cho việc phân chia nhiễm sắc thể được xảy  
ra một cách bình thường trong phân bào ở người,  
chuột cũng như nhiều động vật khác [16,17]. Hai  
đột biến trên gen ESCO2 (đột biến  
c.1131ꢀ+ꢀ1Gꢀ>ꢀA và đột biến c.954_955ꢀ+  
2delAAGT) đã được chứng minh bằng phương  
pháp phân tích 3D-FISH gây ra sự biến đổi về  
cấu trúc nhiễm sắc thể ở một bào thai mắc phải  
hội chứng Robert so với các bào thai bình thường  
[18]. Biến đổi trên gen ESCO2 cũng đã được  
chứng minh trên mô hình cá ngựa vằn gây nên  
rối loạn trong quá trình tự chết cúa tế bào  
(apoptosis), dẫn đến hội chứng Robert [19]. Tuy  
nhiên trong công trình này, lần đầu tiên đột biến  
sai nghĩa (làm thay đổi amino acid) thuộc gen  
ESCO2 được phát hiện ở một bệnh nhân mắc dị  
tật dính ngón tay chân – không bao gồm hội  
chứng. Những nghiên cứu chức năng tiếp theo  
cần được tiến hành để nghiên cứu sự tương tác  
gen giữa ESCO2 và HOXD13 và các gen khác kể  
trên và ảnh hưởng của từng gen lên tính trạng  
bệnh dính ngón chân tay.  
[5] S. Fujii, K. Yabe, Y. Kimura, Y. Ito, M.  
Rokukawa, M. Furukawa, K. Ito, M. Matsuura,  
M. Kiguchi, Syndactyly lethal: new mutation with  
multiple malformations occurring in Sprague  
Dawley rats, Congenital anomalies 49, 4 (2009)  
262-268.  
[6] S.S. Chaudhry, J. Gazzard, C. Baldock, J. Dixon,  
M.J. Rock, G.C. Skinner, K.P. Steel, C.M. Kielty,  
M.J. Dixon, Mutation of the gene encoding  
fibrillin-2 results in syndactyly in mice, Human  
molecular genetics 10,  
8 (2001) 835-843.  
[7] D.M. Ibrahim, N. Tayebi, A. Knaus, A.C. Stiege,  
A. Sahebzamani, J. Hecht, S. Mundlos, M.  
Spielmann, A homozygous HOXD13 missense  
mutation causes a severe form of synpolydactyly  
with metacarpal to carpal transformation,  
American journal of medical genetics Part A 170,  
a.37464.  
[8] R. Sukenik Halevy, H.C. Chien, B. Heinz, M.J.  
Bamshad, D.A. Nickerson, M. Kircher, N.  
Ahituv, Mutations in the fourth beta-propeller  
domain of LRP4 are associated with isolated  
syndactyly with fusion of the third and fourth  
fingers, Human mutation 39, 6 (2018) 811-815.  
[9] G. You, H. Cai, L. Jiang, Z. Zheng, B. Wang, Q.  
Fu, J. Wang, A novel GJA1 mutation identified by  
whole exome sequencing in a Chinese family with  
autosomal dominant syndactyly, Clinica chimica  
acta; international journal of clinical chemistry  
Lời cảm ơn  
Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn gia  
đình bệnh nhi đã đồng ý cung cấp mẫu bệnh  
phẩm cho nghiên cứu này. Công trình này được  
Học viện Khoa học và Công nghệ (GUST) –  
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam  
(VAST) tài trợ kinh phí theo mã số đề tài  
GUST.STS.ĐT2017-SH04.  
N.T. Ngoc et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 3 (2020) 10-16  
16  
[10] E. Mengen, L.D. Kotan, S.A. Ucakturk, A.K.  
[15] T.N. Khan, J. Klar, Z. Ali, F. Khan, S.M. Baig, N.  
Dahl, Cenani-Lenz syndrome restricted to limb  
and kidney anomalies associated with a novel  
LRP4 missense mutation, European journal of  
medical genetics 56, 7 (2013) 371-374. https://  
doi.org/10.1016/j.ejmg.2013.04.007.  
Topaloglu, B. Yuksel, A Novel Frameshift  
Mutation in ESCO2 Gene in Roberts Syndrome,  
Journal of the College of Physicians and Surgeons  
28, 5 (2018) 403-405. https://doi.org/ 10.29271/  
jcpsp.2018.05.403.  
[11] H.H. Afifi, G.M. Abdel-Salam, M.M. Eid, A.M.  
Tosson, W.G. Shousha, A.A. Abdel Azeem, M.K.  
Farag, M.I. Mehrez, K.R. Gaber, Expanding the  
mutation and clinical spectrum of Roberts  
syndrome, Congenital anomalies 56, 4 (2016)  
[12] H. Deng, T. Tan, Q. He, Q. Lin, Z. Yang, A. Zhu,  
L. Guan, J. Xiao, Z. Song, Y. Guo, Identification  
of a missense HOXD13 mutation in a Chinese  
family with syndactyly type I-c using exome  
sequencing, Molecular medicine reports 16, 1  
[16] Y. Lu, X. Dai, M. Zhang, Y. Miao, C. Zhou, Z.  
Cui, B. Xiong, Cohesin acetyltransferase Esco2  
regulates SAC and kinetochore functions via  
maintaining H4K16 acetylation during mouse  
oocyte meiosis, Nucleic acids research 45, 16  
[17] R. Kawasumi, T. Abe, H. Arakawa, M. Garre, K.  
Hirota, D. Branzei, ESCO1/2's roles in  
chromosome structure and interphase chromatin  
organization, Genes & development 31, 21 (2017)  
2136-2150. https://doi.org/10.1101/ gad.306084.  
117.  
[13] Y. Du, F. Chen, J. Zhang, Z. Lin, Q. Ma, G. Xu,  
D. Xiao, Y. Gui, J. Yang, S. Wan, A rare TTC30B  
[18] C. Dupont, M. Bucourt, F. Guimiot, L. Kraoua, D.  
Smiljkovski, D. Le Tessier, C. Lebugle, B.  
Gerard, E. Spaggiari, P. Bourdoncle, 3D-FISH  
analysis reveals chromatid cohesion defect during  
interphase in Roberts syndrome, Molecular  
cytogenetics 2014, 7, 1 (2014) 59. https://doi.org/  
variant is identified as  
a
candidate for  
synpolydactyly in a Chinese pedigree, Bone 127  
(2019) 503-509. https://doi.org/ 10.1016/j.bone.  
2019.07.012.  
[14] L. Dai, H. Guo, H. Meng, K. Zhang, H. Hu, H.  
Yao, Y. Bai, Confirmation of genetic  
homogeneity of syndactyly type IV and  
triphalangeal thumb-polysyndactyly syndrome in  
a Chinese family and review of the literature,  
European journal of pediatrics 172, 11 (2013)  
[19] R. Banerji, R.V. Skibbens, M.K. Iovine, Cohesin  
mediates  
Esco2-dependent  
transcriptional  
regulation in a zebrafish regenerating fin model of  
Roberts Syndrome, Biology open 6, 12 (2017)  
1802-1813. https://doi.org/ 10.1242/bio.026013.  
pdf 7 trang yennguyen 14040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phát hiện đột biến mới trên gen ESCO2 trên bệnh nhi mắc dị tật dính ngón bàn tay bẩm sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphat_hien_dot_bien_moi_tren_gen_esco2_tren_benh_nhi_mac_di_t.pdf