Nghiên cứu thiết kế máy xát vỏ cà phê kiểu rulô ngang hai tầng XV-1500

HỘI NGHỊ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TOÀN QUỐC VỀ CƠ KHÍ LẦN THỨ V - VCME 2018  
Nghiên cứu thiết kế máy xát vỏ cà phê kiểu rulô ngang hai tầng  
XV-1500  
Design of a coffee de-husk using two horizontal rollers model XV-1500  
Phùng Chí Cường1*, Trần Như Khuyên2, Nguyễn Thanh Hải2 Nguyễn Khắc Thông3  
,
1Trường Đại học Kinh tế quốc dân  
2Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
3Bộ Giáo dục và Đào tạo  
*Email: cuongpc@neu.edu.vn  
Tel: +842462776688.; Mobile: 0912068370  
Tóm tắt  
Từ khóa:  
Máy xát vỏ cà phê kiểu rulô ngang hai tầng XV-1500 được thiết kế và  
chế tạo tại viện Cơ Điện và Công nghệ sau thu hoạch. Đây là loại  
máy xát vỏ cà phê có cấu trúc mới, sử dụng hai tầng rulô xát hình trụ  
đặt nằm ngang, trong đó khe hở giữa vấu xát và máng xát của rulô  
tầng trên và tầng dưới có thể điều chỉnh cho phù hợp để xát được  
nhiều loại cà phê có tính chất cơ lý khác nhau, đặc biệt là các loại cà  
phê có vỏ dày và cứng được trồng nhiều ở nước ta như: cà phê vối  
(Robusta) và cà phê mít (Chari). Kết quả nghiên cứu thực nghiệm khi  
xát vỏ cà phê vối cho thấy, máy xát XV-1500 có ưu điểm là hiệu suất  
bóc vỏ cao, ít vỡ hạt, tiết kiệm nước và giảm được chi phí điện năng  
riêng hơn so với máy xát kiểu rulô hình trụ hay côn một tầng và máy  
xát kiểu đĩa.  
Chi phí điện năng riêng; Máy xát vỏ  
cà phê; Rulô xát.  
Abstract  
Keywords:  
A coffee de-husk with two horizontal rollers model XV-1500 was  
designed and fabricated at the Vietnam Institute of Agricultural  
Engineering and Post-harvest Technology. This is the new structure  
coffee de-husk using two horizontal cylindrical de-husking rollers.  
The slot between claw and trough of the upper roller and the lower  
one can be adjusted for suitable to various coffee species with  
different physical specifications, especialy coffee with thick and hard  
husk such as Robusta and Chari species. Results of the experimental  
research with Robusta coffee showed that the coffee de-husk model  
XV-1500 has high de-husking efficiency, low crack and/or broken  
rate of coffee bean, low water consumption and especialy specific  
electric cost is lower compared to the one cylindrical roller, the  
conical roller as well as the disk coffee de-husks.  
Specific electric cost; Coffee de-  
husk; De-husking roller.  
Ngày nhận bài: 25/7/2018  
Ngày nhận bài sửa: 14/9/2018  
Ngày chấp nhận đăng: 15/9/2018  
HỘI NGHỊ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TOÀN QUỐC VỀ CƠ KHÍ LẦN THỨ V - VCME 2018  
1. GIỚI THIỆU  
Cà phê là một đặc sản nhiệt đới có giá trị kinh tế cao, là một trong những sản phẩm nông  
sản xuất khẩu quan trọng của Việt Nam, không chỉ là nguồn thu ngoại tệ mà còn là thu hút hàng  
triệu lao động ở các vùng nông thôn, miền núi.  
Trong những năm gần đây, cây cà phê Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh chóng  
cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Đến nay cả nước có khoảng 600.000 ha cà phê với tổng  
sản lượng đạt gần 1,5 triệu tấn, năng suất bình quân đạt khoảng 2,5 tấn nhân trên ha, cao hơn  
bình quân trên thế giới. Hiện nay cà phê Việt Nam xuất khẩu đứng thứ hai thế giới (sau Braxin)  
với khối lượng xuất khẩu đạt 1,4 triệu tấn năm 2017, kim ngạch xuất khẩu đạt 3,2 tỷ USD và có  
mặt ở trên 60 nước, khắp các Châu lục [1], [4].  
Tình hình xuất khẩu cà phê trong những năm qua cho thấy hạt cà phê Việt Nam vẫn chưa  
có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Nguyên nhân chủ yếu là do chất lượng cà phê  
xuất khẩu chưa cao và chưa ổn định, mẫu mã chưa đẹp và chưa đúng quy cách, vì vậy giá bán  
thường thấp hơn và khó bán.  
Để chế biến cà phê nhân, ở nước ta và một số nước trên thế giới vẫn áp dụng hai phương  
pháp chế biến: Phương pháp chế biến khô và phương pháp chế biến ướt. Phương pháp chế biến  
khô có ưu điểm là: qui trình công nghệ đơn giản, không đòi hỏi nhiều thiết bị đắt tiền nhưng có  
nhiều nhược điểm: thời gian phơi sấy kéo dài, tốn nhiều diện tích sân phơi (nếu phơi nắng) hoặc  
chi phí nhiên liệu cho quá trình sấy cao (nếu sử dụng thiết bị sấy), chất lượng cà phê nhân thấp,  
tỷ lệ vỡ nát nhiều nên hiện nay ít được áp dụng. Vì vậy, hiện nay phần lớn cà phê sau thu hoạch  
được chế biến theo phương pháp ướt.  
Trong quy trình chế biến cà phê nhân theo phương pháp ướt, xát vỏ quả tươi là khâu quan  
trọng, quyết định đến năng suất và chất lượng sản phẩm, loại bỏ được khối lượng lớn vỏ quả tươi  
để rút ngắn thời gian sấy, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các nông hộ sơ chế tại chỗ để bảo  
quản tạm thời khối lượng lớn cà phê sau thu hoạch tránh gây thối hỏng.  
Để xát vỏ cà phê, hiện nay ở nước ta thường dùng ba loại máy xát vỏ: máy xát kiểu trụ  
Gosdon, máy xát kiểu đĩa Hamburg và máy xát kiểu trụ liên hoàn Raoeng (vừa xát vỏ, vừa tách  
nhớt) của nước ngoài và một số máy xát vỏ được chế tạo trong nước như: máy xát vỏ kiểu trụ  
XVCF-1; XT 250DL; XT 2L-03; XT 2L-06, máy xát vỏ kiểu côn XVT-1,.... Nhìn chung các  
máy xát vỏ trên có ưu điểm là bóc và phân ly vỏ quả ngay để thu được cà phê thóc, tạo điều kiện  
cho quá trình chế biến tiếp theo như tách nhớt, phơi sấy, xát vỏ cà phê thóc,... nhưng có nhược  
điểm là tỷ lệ cà phê còn nguyên vỏ quả và tỷ lệ cà phê bị bong vỏ trấu cao, tương ứng là 3 ÷ 5%  
và 0 ÷ 5% đối với máy xát kiểu trụ liên hoàn Raoeng; 5 ÷ 10% và 0 ÷ 1% đối với máy xát kiểu  
đĩa Hamburg; 1 ÷ 5% và 0 ÷ 3% đối với máy xát kiểu trụ Gosdon; 1,8 ÷ 1,9% và 0 ÷ 1% đối với  
máy xát kiểu côn đứng XVT-1. Việc điều chỉnh khe khe hở giữa vấu xát và máng xát để giảm tỷ  
lệ sót vỏ quả và và tỷ lệ bong vỏ trấu rất khó khăn. Nếu giảm khe hở để giảm tỷ lệ cà phê còn  
nguyên vỏ quả thì sẽ làm tăng tỷ lệ cà phê bị bong vỏ trấu. Mặt khác cà phê trước khi đưa vào  
các máy xát này phải được phân loại rất kỹ theo kích thước và độ chín, chi phí nước và điện năng  
riêng cho quá trình xát khá lớn (chi phí nước 500 ÷ 700 lít/h đối máy xát Gosdon và Hamburg;  
2.500 ÷ 3.000 lít/h đối với máy xát Raoeng; chi phí điện năng riêng 2,0 ÷ 2,5 kWh/tấn đối với  
máy xát kiểu côn đứng XVT-1 [2],[3].  
Vì vậy, việc nghiên cứu thiết kế cải tiến máy xát vỏ cà phê quả tươi nhằm nâng cao năng  
suất và chất lượng sản phẩm, cấu tạo đơn giản giá thành hạ, giảm chi phí điện nước cho quá trình  
xát vỏ để có thể triển khai áp dụng rộng rãi trong sản xuất là vấn đề rất cấp thiết.  
Dưới đây trình bày một số kết quả cứu thiết kế máy xát vỏ cà phê kiểu rulô ngang hai tầng  
XV-1500.  
HỘI NGHỊ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TOÀN QUỐC VỀ CƠ KHÍ LẦN THỨ V - VCME 2018  
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Vật liệu nghiên cứu  
Vật liệu nghiên cứu là cà phê vối (Robursa). Đặc điểm: quả hình trứng tròn, khi chín có  
màu đỏ thẫm, vỏ quả cứng và dai hơn cà phê chè. Quả dạng bầu tròn, đường kính trung bình 9 ÷  
12 mm. Hạt cũng có dạng bầu tròn, ngắn và nhỏ hơn so với cà phê chè, có màu xám, xanh đục  
hoặc ngà vàng tuỳ vào giống, phương pháp chế biến và bảo quản, đường kính trung bình 4 ÷ 7  
mm. Trọng lượng trung bình 100 hạt 13 ÷ 16g. Hàm lượng caffein trong hạt 2,5 ÷ 3% [1], [2].  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu thiết kế  
Áp dụng các công thức tính toán lý thuyết để xác định các thông số hình học và chế độ làm  
việc của máy xát, đồng thời sử dụng chương trình Autocad và Inventor để thiết lập bản vẽ thiết  
kế tổng thể máy xát.  
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm  
Áp dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đơn yếu tố để nghiên cứu ảnh hưởng riêng  
của một số thông số làm cơ sở cho việc lựa chọn khoảng nghiên cứu của các yếu tố trong nghiên  
cứu thực nghiệm đa yếu tố.  
Các yếu tố ảnh hưởng: tốc độ quay của rulô xát n (vg/ph), khe hở giữa vấu xát và máng xát  
Δ(mm) và lưu lượng nước cung cấp vào trong buồng xát q(lít/h).  
Các chỉ tiêu cần xác định: độ sót vỏ δ(%), năng suất máy Q (tấn/h) và chi phí điện riêng Nr  
(kWh/tấn).  
Các thông số nghiên cứu của máy xát vỏ cà phê được xác định như sau: [1],[2]  
- Tốc độ quay trục xát được đo bằng thiết bị đo số vòng quay quang Unitest 93412- của  
Đức (dải đo 020.000 vg/ph, sai số 1%).  
- Khe hở giữa vấu xát và máng xát (tính từ đỉnh vấu xát đến máng xát) được xác định bằng  
bộ thước lá.  
- Lượng nước cung cấp vào buồng xát được xác định bằng đồng hồ công tơ nước, mã hiệu  
ĐHN-01-70309466 (hãng VIKIĐO Việt Nam), khoảng đo 0÷9999m3.  
- Năng suất máy được xác định bằng khối lượng mẫu sản phẩm xát được một lần thí  
nghiệm với khoảng thời gian thí nghiệm và được tính theo công thức:  
60q  
Q   
(tấn/h)  
(1)  
1000t  
q- khối lượng sản phẩm tạo ra khi máy hoạt động trong thời gian t (kg).  
t- thời gian lấy mẫu sản phẩm (phút).  
- Chi phí điện năng riêng Nr được xác định bằng tỷ số giữa công suất điện tiêu thụ N với  
năng suất máy Q và được tính theo công thức:  
N
(kWh/tấn)  
(2)  
Nr   
Q
Trong đó: Công suất tiêu thụ N(kW) được xác định bằng Ampe kìm, mã hiệu CHB-48  
(Cộng hòa Liên bang Đức), dải đo 100W 600kW, sai số 2%).  
- Độ sót vỏ quả xác định bằng phương pháp phân tích thủ công (phân ly quả chưa được bóc  
vỏ trong mẫu phân tích bằng tay) và được tính theo công thức:  
HỘI NGHỊ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TOÀN QUỐC VỀ CƠ KHÍ LẦN THỨ V - VCME 2018  
m
   
(%)  
(3)  
M
m- khối lượng quả chưa được bóc vỏ lẫn trong khối nhân, kg.  
M- khối lượng mẫu phân tích (hỗn hợp hạt và quả chưa được bóc vỏ), kg.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Kết quả nghiên cứu thiết kế máy xát vỏ cà phê  
Nguyên lý cấu tạo và hoạt động:  
Máy xát vỏ cà phê kiểu rulô ngang hai tầng, năng suất 1500kg/mẻ (ký hiệu XV-1500) được  
thiết kế và chế tạo tại Viện Cơ Điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch (hình 1) [1].  
14  
1
2
13  
3
12  
4
5
6
11  
10  
9
7
8
a)  
b)  
Hình 1. Sơ đồ nguyên lý cấu tạo máy xát vỏ cà phê XV-1500  
a) hình 2D; b) hình 3D  
1- phễu cấp liệu; 2,5- trục cuốn trên và dưới; 3,6- máng xát trên và dưới;  
4- phễu chứa nhân và quả chưa được bóc vỏ; 7- máng thu hạt; 8- khung máy; 9- động cơ điện;  
10,12- máng thu vỏ quả; 11,13- ru lô xát dưới và trên; 14- vòi phun nước.  
Đây là loại máy xát có kết cấu mới gồm có hai tầng trên đó có lắp hai rulô xát hình trụ nằm  
ngang. Loại máy này được sử dụng để xát vỏ cà phê quả tươi, có kích thước và độ chín thay đổi  
trong giới hạn rộng, phù hợp với giống cà phê và tập quán thu hái ở Việt Nam. Sơ đồ nguyên lý  
cấu tạo của máy xát vỏ XV-1500 trên hình 1. Máy gồm có các bộ phận chính như sau:  
- Bộ phận cung cấp nguyên liệu và nước gồm phễu cấp liệu, hai trục cuốn và vòi phun  
nước. Phễu cấp liệu có dạng hình phễu, thành thùng có độ nghiêng nhất định để nguyên liệu có  
thể tự chảy vào trong máy nhờ trọng lượng bản thân. Hai trục cuốn trên và dưới dạng hình trụ, có  
5 cánh, thực hiện nhiệm vụ phân phối đều nguyên liệu vào rulô xát trên và dưới. Trục cuốn trên  
được lắp ở đáy phễu cấp liệu, trục cuốn dưới được lắp ở đáy phễu thu hồi hạt, quả chưa được bóc  
vỏ và nước từ rulô xát trên chảy xuống. Bộ phận cung cấp nước được lắp ở trên phễu cấp liệu để  
HỘI NGHỊ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TOÀN QUỐC VỀ CƠ KHÍ LẦN THỨ V - VCME 2018  
phun nước vào khối quả trong phễu cấp liệu vừa làm sạch đất cát bám dính vừa tạo điều kiện  
thuận lợi cho việc phân ly vỏ quả và hạt khi máy làm việc.  
- Bộ phận xát gồm hai cặp rulô xát-máng xát, được bố trí theo hai tầng: cặp rulô-máng xát  
trên và cặp rulô-máng xát dưới. Rulô xát có dạng hình trụ nằm ngang, trên bề mặt có dập hàng  
vấu xát lồi cong hình lưỡi liềm, độ nhô của vấu xát so với bề mặt rulô 4mm. Máng xát được làm  
bằng thép tấm, lắp bao quanh một phần rulô xát, tạo nên khe hở hình nêm giữa rulô xát và máng  
xát (nhỏ dần từ trên xuống dưới). Khe hở nhỏ nhất giữa rulô và máng xát Δr = 5mm, khe hở này  
có thể điều chỉnh được cho phù hợp với kích thước và độ chín của quả cà phê khi đưa vào xát vỏ.  
Để không bị sót vỏ quả, khe hở giữa rulô xát và máng xát dưới được điều chỉnh nhỏ hơn khe hở  
giữa rulô xát và máng xát trên.  
- Bộ phận thu sản phẩm gồm có 1 máng thu nhân và 2 máng thu vỏ quả. Máng thu hồi  
nhân được lắp ở đáy rulô xát dưới, còn 2 máng thu vỏ quả, một máng được lắp ở đáy của rulô xát  
trên và một máng được lắp ở đáy rulô xát dưới. Đầu máng thu vỏ quả có đường gân lồi để phân  
ly hạt và vỏ quả theo hai cửa riêng biệt.  
- Bộ phận truyền động gồm một động cơ điện có công suất 1,1kW truyền động cho hai trục  
lắp rulô bằng đai thang với số vòng quay 800vg/ph và chuyển động từ trục lắp rulô sẽ truyền cho  
hai trục cuốn.  
Quá trình làm việc của máy như sau: Khi cho máy làm việc, cà phê quả ở phễu cấp liệu  
được trục cuốn trên vận chuyển liên tục và phân phối đều vào khe hở giữa rulô và máng xát trên.  
Nhờ trọng lượng bản thân và sức đẩy của dòng nước phun, khối quả chuyển động theo khe hở  
giữa rulô và máng xát xuống dưới. Khi tới khe hẹp hình nêm, quả cà phê được các hàng vấu xát  
trên bề mặt rulô móc vào, xé rách vỏ làm cho hạt tuột ra khỏi vỏ. Nhờ có đường gân lồi trên  
máng thu vỏ quả mà hạt được giữ lại ở máng xát còn vỏ được kéo ra theo phương tiếp tuyến với  
rulô xát sang phía đối diện với máng xát và rơi vào máng thu vỏ quả. Phần hạt của những quả đã  
được bóc vỏ và khoảng 10 ÷ 15% quả chưa được bóc vỏ ở rulô xát trên (chủ yếu là những quả có  
kích thước quá nhỏ hoặc quả quá xanh) tiếp tục theo máng xát đi xuống trục cuốn dưới và được  
trục cuốn này vận chuyển vào khe hở giữa rulô và máng xát dưới, quá trình bóc vỏ ở rulô xát  
dưới diễn ra tương tự. Hạt từ ru lô xát trên cùng với hạt mới được bóc vỏ ở ru lô xát dưới được  
xả vào máng thu hạt còn vỏ được xả vào máng thu vỏ quả dưới. Do điều chỉnh khe hở giữa rulô  
và máng xát dưới nhỏ hơn nên gần như toàn bộ số cà phê quả đều được bóc vỏ, đồng thời hạt và  
vỏ quả được phân ly theo hai cửa riêng.  
Với kết cấu như trên, máy xát vỏ cà phê XV-1500 có thể đạt được những ưu điểm như sau:  
- Có thể bóc được vỏ cà phê quả tươi có độ chín và kích thước không đồng đều nên không  
cần phải phân loại quả theo kích thước và độ chín quá kỹ, phù hợp với tập quán thu hoạch cà phê  
của các hộ nông dân trồng cà phê (chỉ một lần thu hoạch cả quả chín và xanh).  
- Do bố trí hai tầng rulô xát nên quá trình xát được thực hiện triệt để hơn: tỷ lệ sót vỏ thấp,  
nhân không bị vỡ hay bong vỏ trấu. Loại máy này có thể xát được cà phê có vỏ dày và cứng như  
cà phê vối và cà phê mít.  
Nhược điểm: Máy có cấu tạo tương đối phức tạp, giá thành cao hơn loại máy xát có một  
rulô.  
Các thông số kỹ thuật chính của máy xát vỏ cà phê được ghi trong bảng 1[1].  
Bảng 1. Các thông số kỹ thuật chính của máy xát vỏ cà phê  
Các thông sô  
Ký hiệu  
Đơn vị  
kg  
Giá trị  
1500  
2
Năng suất máy xát  
Số lượng trống xát  
Q
ntx  
trống  
HỘI NGHỊ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TOÀN QUỐC VỀ CƠ KHÍ LẦN THỨ V - VCME 2018  
Đường kính trống xát  
D
L
m
m
0,22  
0,5  
69  
Chiều dài trống xát  
Số hàng vấu xát trên trống xát  
Số vấu xát trên một hàng  
z
hàng  
vấu  
mm  
mm  
mm  
mm  
vg/ph  
kW  
mv  
λ
26  
Khoảng cách giữa các vấu trên một hàng  
Chiều cao vấu xát  
19,2  
4
h
Khe hở nhỏ nhất giữa rulô xát và máng xát  
Khe hở nhỏ nhất giữa vấu xát và máng xát  
Số vòng quay của trống xát  
Công suất của động cơ  
5
r  
n
1
800  
1,1  
Nđc  
Hình 2. Ảnh máy xát vỏ cà phê kiểu ru lô ngang hai tầng XV- 1500  
3.2. Khảo sát ảnh hưởng của một số thông số đến quá trình xát vỏ  
Tiến hành các thí nghiệm đơn yếu tố để nghiên cứu ảnh hưởng của 3 yếu tố: tốc độ quay  
của rulô xát n (v/ph), khe hở giữa vấu xát và máng xát Δ(mm) và lưu lượng nước cung cấp vào  
buồng xát q(lít/h) đến độ sót vỏ δ(%), năng suất máy Q (tấn/h) và chi phí năng lượng riêng Nr  
(kWh/tấn) [1].  
3.2.1. Ảnh hưởng của tốc độ quay trống xát n (vg/ph)  
Điều kiện thí nghiệm: Khe hở giữa vấu xát và máng xát =4 mm, lưu lượng nước cung  
cấp vào buồng xát q = 200 (lít/h). Kết quả thí nghiệm được ghi trong bảng 2 và đồ thị biểu diễn  
mức độ ảnh hưởng được thể hiện trên hình 3.  
Bảng 2. Số liệu thí nghiệm xác định ảnh hưởng của tốc độ quay rulô xát n(vg/ph)  
Tốc độ quay trống  
xát n (vg/ph)  
Các chỉ tiêu  
Độ sót vỏ quả δ (%) Năng suất máy Q (tấn/h) Chi phí điện năng riêng Nr (kWh/tấn)  
600  
700  
800  
900  
1000  
1,73  
1,34  
0,92  
1,04  
1,37  
0,47  
0,75  
1,03  
1,09  
1,19  
1,82  
1,47  
1,09  
0,86  
0,74  
HỘI NGHỊ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TOÀN QUỐC VỀ CƠ KHÍ LẦN THỨ V - VCME 2018  
Hình 3. Đồ thị ảnh hưởng của tốc độ quay rulô xát n(vg/ph)  
Trên đồ thị hình 3 và số liệu thí nghiệm trong bảng 2 ta thấy, khi số tăng tốc độ quay của  
rulô xát sẽ làm tăng lực ly tâm và lực vòng của vấu xát tác động vào khối quả trong khe hẹp giữa  
máng xát và rulô, nhờ đó đã làm tăng khả năng móc, xé rách, phân ly vỏ quả và nhân nên độ sót  
vỏ quả giảm, năng suất máy tăng và chi phí điện năng riêng giảm. Khi tiếp tục tăng tốc độ quay  
của rulô xát thì năng suất máy tiếp tục tăng và chi phí điện năng riêng giảm nhưng độ sót vỏ lại  
tăng lên do thời gian tác động của vấu xát vào vỏ quả quá ngắn, vấu xát chưa kịp móc sâu vào  
lớp vỏ để kéo và xé rách vỏ quả. Độ sót vỏ quả đạt giá trị nhỏ nhất δmin= 0,92% ứng với tốc độ  
quay của rulô xát n= 800vg/ph.  
3.2.2. Ảnh hưởng của khe hở giữa vấu xát và máng xát (mm)  
Điều kiện thí nghiệm: Tốc độ quay của rulô xát n= 800 (vg/ph), lưu lượng nước cung cấp  
vào buồng xát q = 200 (lít/h). Kết quả thí nghiệm được ghi trong bảng 3 và đồ thị biểu diễn mức  
độ ảnh hưởng được thể hiện trên hình 4.  
Bảng 3. Số liệu thí nghiệm xác định ảnh hưởng của khe hở giữa vấu xát và máng xát (mm)  
Khe hở giữa vấu xát  
Các chỉ tiêu  
và máng xát (mm)  
Độ sót vỏ quả δ (%) Năng suất máy Q(tấn/h) Chi phí điện năng riêng Nr(kWh/tấn)  
2
3
4
5
6
0,44  
0,59  
0,82  
1,14  
1,57  
0,76  
1,06  
1,28  
1,37  
1,28  
1,64  
1,26  
0,96  
0,62  
0,83  
Trên đồ thị hình 4 và số liệu trong bảng 3 cho thấy, khi khe hở giữa vấu xát và máng xát Δ  
tăng lên sẽ làm tăng lượng quả cấp vào vùng xát, khi đó năng suất máy tăng và chi phí điện năng  
riêng giảm nhưng độ sót vỏ quả luôn tăng lên do một phần quả có kích thước nhỏ có thể chảy  
qua khe hở giữa rulô xát và máng xát xuống dưới và không được bóc vỏ.  
HỘI NGHỊ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TOÀN QUỐC VỀ CƠ KHÍ LẦN THỨ V - VCME 2018  
Hình 4. Đồ thị ảnh hưởng của khe hở giữa vấu xát và máng xát (mm)  
Năng suất máy đạt giá trị lớn nhất Qmax = 1,37tấn/h và chi phí điện năng riêng nhỏ nhất  
Nrmin= 0,62kWh/tấn ứng với khe hở Δ = 5mm. Nếu tiếp tục tăng khe hở Δ lớn hơn nữa thì năng  
suất máy sẽ giảm xuống và chi phí điện năng riêng sẽ tăng lên, do độ tự ép của khối quả không  
đủ để giữa chặt cho quả không bị xoay trượt khi vấu xát tác động vào.  
Đối với máy xát vỏ rulô hai tầng, sau khi được bóc vỏ ở rulô trên, phần nhân và quả chưa  
được bóc vỏ cùng với nước sẽ chuyển xuống rulô dưới. Do khe hở giữa vấu xát và máng xát nhỏ  
hơn rulô trên nên hầu hết cà phê đều được bóc vỏ ở rulô này.  
3.2.3. Ảnh hưởng của lưu lượng nước cung cấp vào buồng xát q(lit/h)  
Điều kiện thí nghiệm: Tốc độ quay của trống xát n= 800 (vg/ph), khe hở giữa vấu xát và  
máng xát = 4 (mm). Kết quả thí nghiệm được ghi trong bảng 4 và đồ thị biểu diễn mức độ ảnh  
hưởng được thể hiện trên hình 5.  
Bảng 4. Số liệu thí nghiệm xác định ảnh hưởng của lưu lượng nước cung cấp vào buồng xát q(lít/h)  
Lưu lượng nước cung cấp  
vào buồng xát q(lít/h)  
Các chỉ tiêu  
Độ sót vỏ quả δ (%) Năng suất máy Q(tấn/h) Chi phí điện năng riêng Nr(kWh/tấn)  
100  
150  
200  
250  
300  
1,63  
1,22  
0,85  
0,61  
0,75  
0,33  
0,62  
0,86  
1,08  
1,14  
1,67  
1,31  
0,96  
0,82  
0,72  
HỘI NGHỊ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TOÀN QUỐC VỀ CƠ KHÍ LẦN THỨ V - VCME 2018  
Hình 5. Đồ thị ảnh hưởng của lưu lượng nước cung cấp vào buồng xát q(l/h)  
Trên đồ thị hình 5 và số liệu thí nghiệm trong bảng 4 cho thấy, khi tăng lưu lượng nước  
cung cấp vào vùng xát sẽ làm cho quả bị mềm ra, khi đó các vấu xát dễ dàng ăn sâu vào lớp vỏ  
quả và kéo rách, khả năng bóc vỏ tăng, vì vậy độ sót vỏ quả giảm, năng suất máy tăng và chi phí  
điện năng riêng giảm. Khi tiếp tục tăng lưu lượng nước, do áp lực dòng nước đẩy khối quả trôi  
nhanh theo khe hở giữa vấu xát và máng xát xuống dưới, khi đó sẽ có nhiều quả có kích thước  
nhỏ và quả xanh không được bóc vỏ nên độ sót vỏ quả tăng lên, độ sót vỏ đạt giá trị nhỏ nhất  
δmin= 0,61% ứng với lưu lượng nước cung cấp vào buồng xát q = 250 lít/h. Mặt khác do tăng lưu  
lượng nước sẽ làm tăng chi phí điện năng cho máy bơm, tăng chi phí nước và xử lý nước thải, vì  
vậy ta phải khống chế yếu tố này.  
Trên đồ thị hình 3 5, ta có thể chọn được giá trị thích hợp của các yếu tố ảnh hưởng và  
ứng với những giá trị này, các chỉ tiêu về độ sót vỏ δ, năng suất máy Q và chi phí điện năng  
riêng Nr đạt giá trị tương đối tốt: Tốc độ quay của rulô xát n = 700 ÷ 900vg/ph ứng với  
δmin = 0,92%, Q = 0,75 ÷ 1,09 tấn/h, Nr = 0,86 ÷ 1,47 kWh/tấn; Khe hở giữa vấu xát và máng xát  
Δ = 4 ÷ 6mm ứng với δ = 0,82 ÷ 1,57%, Qmax = 1,37 tấn/h, Nrmin= 0,62 kWh/tấn; Lưu lượng  
nước cung cấp vào buồng xát q = 200 ÷ 300 (lít/h) ứng với δmin = 0,61%, Q = 0,86 ÷ 1,14 tấn/h,  
Nr = 0,72 ÷ 0,96 kWh/tấn.  
Kết quả nghiên cứu trên là cơ sở để lựa chọn mức cơ sở, mức biến thiên và khoảng nghiên  
cứu thích hợp của các yếu tố khi nghiên cứu thực nghiệm đa yếu tố. Cũng từ kết quả này ta thấy,  
việc điều chỉnh khe hở thích hợp giữa vấu xát và máng xát cho cả hai tầng rulô xát trong máy xát  
vỏ cà phê XV-1500 có hiệu quả hơn so với việc nâng cao tốc độ quay của rulô xát và lưu lượng  
nước cung cấp vào trong buồng xát, vì sản phẩm cà phê sau khi xát có độ sót vỏ thấp hơn, năng  
suất máy cao hơn và chi phí điện năng riêng thấp hơn, đồng thời giảm được chi phí nước và xử  
lý nước thải trong chế biến.  
So sánh với máy xát kiểu rulô hình trụ hay hình côn một tầng và máy xát kiểu đĩa, máy xát  
vỏ XV-1500 có ưu điểm: độ sót vỏ quả, chi phí nước và điện năng riêng thấp, năng suất máy phù  
hợp với quy mô nông hộ, nhờ đó các hộ nông dân có thể chủ động sơ chế khối lượng lớn cà phê  
quả tươi tại chỗ, tránh gây thối hỏng [1], [2], [3].  
HỘI NGHỊ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TOÀN QUỐC VỀ CƠ KHÍ LẦN THỨ V - VCME 2018  
4. KẾT LUẬN  
Máy xát vỏ XV-1500 đã thiết kế và chế tạo, việc sử dụng hai tầng rulô xát hình trụ đặt nằm  
ngang, trong đó khe hở giữa vấu xát và máng xát của rulô tầng trên và tầng dưới có thể điều  
chỉnh cho phù hợp để xát được nhiều loại cà phê quả có tính chất cơ lý khác nhau, đặc biệt là các  
loại cà phê có vỏ dày và cứng được trồng nhiều ở nước ta như: cà phê vối (Robusta) và cà phê  
mít (Chari).  
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm khi xát vỏ cà phê vối cho thấy, máy xát XV-1500 có ưu  
điểm là hiệu suất bóc vỏ cao, tiết kiệm nước và chi phí điện năng riêng thấp hơn so với máy xát  
kiểu rulô hình trụ hay côn một tầng và máy xát kiểu đĩa.  
LỜI CẢM ƠN  
Nhóm tác giả cảm ơn sự hỗ trợ của Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội trong nghiên cứu.  
DANH MỤC DANH PHÁP/KÝ HIỆU  
δ: Độ sót vỏ quả (%)  
Q: năng suất máy (tấn/h)  
Nr: Hằng số thử nghiệm (kWh/tấn)  
n: Tốc độ quay của ru lô xát (vg/ph)  
Δ: Khe hở giữa vấu xát và máng xát (mm)  
q: Lưu lượng nước cung cấp vào buồng xát (lít/h).  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Phùng Chí Cường, 2006. Nghiên cứu một số thông số chính về cấu tạo và chế độ làm  
việc của máy xát vỏ cà phê quả tươi trục ngang hai cấp XV-1500. Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại  
học Nông nghiệp Hà Nội  
[2]. Trần Như Khuyên và CS, 2001. Nghiên cứu mẫu máy cho dây chuyền công nghệ chế  
biến cà phê theo phương pháp ướt. Đề tài NCKH cấp bộ GD &ĐT, mã số B99-32-48.  
[3]. Trần Như Khuyên và CS, 2014. Giáo trình kỹ thuật chế biến nông sản thực phẩm.  
NXB Đại học Nông nghiệp, 251-289.  
pdf 10 trang yennguyen 16/04/2022 2580
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu thiết kế máy xát vỏ cà phê kiểu rulô ngang hai tầng XV-1500", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_thiet_ke_may_xat_vo_ca_phe_kieu_rulo_ngang_hai_ta.pdf