Luận văn Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

VIꢀN HꢁN LÂM KHOA HꢂC Xꢃ HꢄI VIꢀT NAM  
HꢀC VIꢁN KHOA HꢀC Xꢂ HꢃI  
NGUYỄN THỊ THU DUNG  
THꢄC HIꢁN PHꢅP LUꢆT Vꢇ BꢈNH ĐꢉNG GIꢊI  
Tꢋ THꢄC TIỄN TỈNH QUẢNG NGꢂI  
LUꢆN VĂN THẠC SĨ LUꢆT HꢀC  
HÀ NꢃI, năm 2018  
VIꢀN HꢁN LÂM KHOA HꢂC Xꢃ HꢄI VIꢀT NAM  
HꢀC VIꢁN KHOA HꢀC Xꢂ HꢃI  
NGUYỄN THỊ THU DUNG  
THꢄC HIꢁN PHꢅP LUꢆT Vꢇ BꢈNH ĐꢉNG GIꢊI  
Tꢋ THꢄC TIỄN TỈNH QUẢNG NGꢂI  
Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chꢌnh  
Mã số  
: 83.80.102  
LUꢆN VĂN THẠC SĨ LUꢆT HꢀC  
NGƯꢅI HƯꢆNG DẪN KHOA HꢂC:  
TS. TRẦN MINH ĐỨC  
HÀ NꢃI, năm 2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các  
số liệu trích dẫn trong luận văn dựa trên số liệu bảo đảm độ tin cậy, chính xác và  
trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong  
bất kỳ công trình nào khác.  
Tác giả luận văn  
Lê Đình Hiếu  
MỤC LỤC  
DANH MỤC CꢅC Tꢋ VIẾT TẮT  
BĐG  
: Bình đẳng giới  
CBCC  
CEDAW  
: Cán bộ, công chức  
: Convention on the Elimination of all forms of Discrimination  
Against Wome (Công ước của Liên hiệp quốc về xóa bỏ tất cả  
các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ)  
: Hội đồng nhân dân  
HĐND  
UBND  
LHPN  
: Ủy ban nhân dân  
: Liên hiệp phụ nữ  
HIV/AISD : Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người. Tiếng Anh:  
Human immunodeficiency virus infection /acquired  
immunodeficiency syndrome  
DANH MỤC CꢅC BẢNG  
Số hiệu  
Bảng 2.1:  
Bảng 2.2:  
Bảng 2.3:  
Bảng 2.4:  
Tên bảng  
Trang  
33  
Tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp  
Tỷ lệ nữ tham gia đại biểu Quốc hội  
Tỷ lệ nữ tham gia đại biểu HĐND các cấp  
34  
34  
Tỷ lệ nữ lãnh đạo chủ chốt trong cơ quan quản lý nhà  
35  
nước tỉnh và huyện  
Bảng 2.5:  
Tỷ lệ nữ lãnh đạo chủ chốt trong các tổ chức chính trị -  
35  
xã hội  
MỞ ĐẦU  
1. Tꢌnh cấp thiết của đề tài  
BĐG là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, là nhiệm vụ trọng tâm  
của chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, BĐG đồng thời vừa là  
mục tiêu vừa là cơ sở thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xây dựng xã hội ổn định  
và đồng thuận, phát triển bền vững đất nước.  
Trên phương diện pháp luật, BĐG hiện nay ở nước ta đã trở thành một  
chế định quan trọng và là nguyên tắc Hiến định (Khoản 1, Điều 26, Hiến pháp  
năm 2013), đây là cơ sở để tiếp tục thể chế hóa trong văn bản quy phạm pháp  
luật. Điều 4 Luật Bình đẳng giới năm 2006, “mục tiêu bình đẳng giới là xoá  
bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát  
triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới  
thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa  
nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình”. Cho đến nay,  
nước ta đã có một hệ thống văn bản pháp luật khá đầy đủ, điều chỉnh các quan  
hệ xã hội liên quan đến BĐG trên các lĩnh vực của đời sống xã hội để bảo vệ  
quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ, phòng chống hành vi xâm phạm đến  
quyền BĐG như: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Hôn nhân và gia  
đình, Luật Bảo vệ bà mẹ và trẻ em, Luật Bình đẳng giới và một số luật khác  
cũng như các văn bản dưới luật có liên quan…Tuy nhiên, các quy định pháp  
luật hiện hành vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định, mang đến không ít sự  
bất công, thiệt thòi như: chế độ bảo hiểm, chế độ thai sản, một số chế tài pháp  
luật chưa nghiêm đối với những hành vi vi phạm quyền, nhân phẩm phụ nữ,  
quyền trẻ em…Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu nội dung thực hiện pháp luật  
về BĐG không chỉ là yêu cầu của các nhà nghiên cứu mà còn là nhu cầu thiết  
thực của từng công dân trong xã hội.  
Đối với tỉnh Quảng Ngãi, thực hiện pháp luật về BĐG thời gian qua đã  
đạt được một số kết quả nhất định như: nhận thức của các cấp ủy, chính  
1
 
quyền về giới, BĐG, về phụ nữ và công tác phụ nữ được nâng lên rõ rệt; các  
cấp ủy đảng, chính quyền đã tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra việc  
thực hiện công tác BĐG và vì sự tiến bộ của phụ nữ; đội ngũ cán bộ nữ có sự  
chuyển biến cả về số lượng và chất lượng, đủ phẩm chất chính trị, đạo đức,  
năng lực và tinh thần trách nhiệm; vai trò, vị thế của phụ nữ trong gia đình và  
xã hội ngày càng được khẳng định; công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục  
chính sách, pháp luật về BĐG được đẩy mạnh; công tác phối hợp liên ngành  
được chú trọng góp phần hoàn thành tốt các chỉ tiêu, mục tiêu về BĐG đã đề  
ra. Bên cạnh đó, công tác này cũng còn bộc lộ những hạn chế nhất định như:  
Tỷ lệ cán bộ nữ cơ cấu trong các cấp ủy đảng, HĐND, UBND, tham gia lãnh  
đạo, quản lý tại các địa phương, sở, ban, ngành, cán bộ khoa học nữ tuy có  
tăng qua từng năm nhưng vẫn chưa đạt chỉ tiêu đề ra; công tác tuyển dụng,  
quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bố trí, sử dụng cán bộ nữ còn nhiều bất  
cập, nguồn cán bộ nữ còn thiếu; trình độ, năng lực, sự phấn đấu vươn lên của  
một bộ phận cán bộ nữ chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ; chưa hình  
thành đội ngũ cộng tác viên, tình nguyện viên tham gia công tác BĐG và vì  
sự tiến bộ của phụ nữ tại thôn, tổ dân phố; khoảng cách về giới vẫn còn hạn  
chế, việc tiếp cận các dịch vụ trong lĩnh vực lao động, giải quyết việc làm  
chưa cao; lao động nữ không được đào tạo nghề chiểm tỷ lệ cao; tỷ lệ chuyển  
đổi ngành nghề phù hợp với nhu cầu thị trường còn thấp…[31, tr11].  
Xuất phát từ quan điểm của Đảng, yêu cầu tiếp tục thực hiện có hiệu  
quả pháp luật về BĐG và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết nói chung  
và tại địa phương tỉnh Quảng Ngãi nói riêng, bản thân nhận thấy cần có  
những nghiên cứu chuyên sâu, mang tính hệ thống vấn đề này tại địa phương  
để tìm ra giải pháp tiếp tục thúc đẩy việc thực hiện các mục tiêu BĐG tại địa  
phương, xuất phát từ lý do đó tôi chọn đề tài: “Thực hiện pháp luật về bình  
đẳng giới từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi”, làm luận văn thạc sỹ luật học  
chuyên ngành luật hiến pháp - hành chính là có tính cấp thiết cả về lý luận và  
thực tiễn.  
2
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài  
Vấn đề BĐG và pháp luật về BĐG là nội dung được nhiều nhà khoa  
học quan tâm, đi sâu nghiên cứu được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác  
nhau như: triết học, chính sách công, xã hội học, luật học…Theo tìm hiểu  
bước đầu của tác giả, đã có một số công trình khoa học nghiên cứu liên quan  
đến đề tài của luận văn, tiêu biểu là các công trình:  
- Trần Thị Quốc Khánh (2012), Luận án tiến sỹ Luật học, “Hoàn thiện  
pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam”. Công trình đã đề cập đến những  
vấn đề lý luận như: giới, BĐG, pháp luật về BĐG, đặc điểm của pháp luật  
BĐG và các yếu tố ảnh hưởng. Nghiên cứu về pháp luật về BĐG một số nước  
trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam. Đánh giá  
thực trạng thực hiện pháp luật về BĐG từ năm 1992 đến 2012 trên các  
phương diện kết quả, hạn chế, nguyên nhân và đề xuất một số quan điểm, giải  
pháp thực hiện pháp luật BĐG ở Việt Nam.  
- Lê Thị Hằng (2012), Luận văn thạc sỹ luật học, “Thực hiện pháp luật  
về bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay”, đã đề cập đến thực trạng thực hiện  
pháp luật BĐG ở Việt Nam, đánh giá những thành tựu, hạn chế trong xây  
dựng và hoàn thiện pháp luật về BĐG và nguyên nhân của những hạn chế đó.  
Đưa ra kiến nghị và giải pháp chủ yếu để hoàn thiện pháp luật bảo BĐG ở  
Việt Nam hiện nay.  
- Lê Thị Thu Hường (2016), Luận văn thạc sỹ luật học,“Thực hiện  
pháp luật về bình đẳng giới từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng”. Đã đề cập đến  
một số vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật về BĐG. Đánh giá thực trạng  
pháp luật về BĐG tại thành phố Đà Nẵng trên các phương diện thành tựu, hạn  
chế. Trên cơ sở đó, đã đề xuất một số giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật  
về BĐG tại thành phố Đà Nẵng.  
- Trịnh Đình Thể, (2007), “Suy nghĩ về bình đẳng giới dưới góc nhìn  
pháp luật”, NXB Tư pháp, công trình đã tập trung đi sâu nghiên cứu chủ  
trương BĐG của Đảng ta, bình đẳng dưới góc độ pháp luật, thực tiễn tư pháp  
3
đã áp dụng để góp phần bảo đảm quyền BĐG, từ đó tác giả rút ra một số vấn  
đề về việc thực hiện chính sách BĐG qua thực tiễn.  
- Dương Thị Ngọc Lan (2013), Luận văn luật học, “Hoàn thiện pháp  
luật về quyền lao động nữ ở Việt Nam hiện nay”. Đã tập trung nghiên cứu các  
quy định của pháp luật lao động nữ, từ đó chỉ ra những bất cập, hạn chế,  
những kẽ hở của pháp luật lao động nữ và tìm ra giải pháp hoàn thiện pháp  
luật góp phần thực hiện BĐG về lao động nữ ở Việt Nam.  
- Nguyễn Thanh Hiền, “Hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền bình  
phapluat.aspx? ItemID=327, đã đánh giá, thực hiện BĐG trên thực tế là một  
nhiệm vụ khó khăn và phức tạp không chỉ riêng một lĩnh vực nào mà nó đi  
liền với nhiều bức xúc của xã hội. Trên có sở đó, đưa ra một số quan điểm,  
giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền BĐG ở Việt Nam.  
- Phạm Thi Lê Dung (2017), Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Chính  
sách công, “Thực hiện chính sách bình đẳng giới từ thực tiễn tỉnh Quảng  
Ngãi”. Đã đề cập đến những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách BĐG tại  
Việt Nam, đánh giá việc thực hiện chính sách BĐG tại tỉnh Quảng Ngãi và đề  
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thực hiện chính sách  
BĐG ở tỉnh Quảng Ngãi.  
Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu về BĐG trên nội dung  
và khía cạnh khác nhau như: Nguyễn Thị Báo (2003), “Quyền bình đẳng của  
phụ nữ trong sự nghiệp và cuộc sống”, Tạp chí Lý luận chính trị; Lê Thi  
(2011); Đề tài khoa học (2007), “Những vấn đề lý luận cơ bản về giới và kinh  
nghiệm giải quyết vấn đề giới ở một số nước” của Viện gia đình và giới –  
Viện khoa học xã hội Việt Nam do Ngô Thị Tuấn Dung làm chủ nhiệm; Sách  
“Vài nét bàn về việc thực thi công bằng, dân chủ và bình đẳng nam nữ ở Việt  
Nam hiện nay” của Lê Thi; Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Hữu Minh (2008),  
“Bình đẳng giới ở Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội; Bài viết “Thông điệp  
bình đẳng – Bất bình đẳng trong lĩnh vực kinh tế được đề cập trên truyền  
4
thông đại chúng” của Phạm Võ Quỳnh Hạnh trên tạp chí giáo dục lý luận  
(2016); Bài viết, “Kinh nghiệm bình đẳng giới ở một số nước trên thế giới”  
của Hà Thị Thùy Dương trên tạp chí Tổ chức nhà nước (2015); Bài viết “Giải  
pháp tăng cường tỷ lệ nữ trong cơ quan dân cử” của Minh Anh trên tạp chí  
Xây dựng Đảng (2016); Bài viết “Đảm bảo bình đẳng giới trong chính trị ở  
Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” của Phạm Võ Quỳnh Hạnh, trên tạp  
chính Lịch sử Đảng (2016); Bài viết “Bình đẳng giới ở Việt Nam qua các Chỉ  
số trong báo cáo phát triển con người” của Vũ Thị Thanh, trên tạp chí  
Nghiên cứu con người (2015)…  
Như vậy, vấn đề BĐG và thực hiện pháp luật về BĐG đã có nhiều công  
trình nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau, mức độ khác nhau. Các công  
trình nghiên cứu, đã cơ bản đã khái quát được các vấn đề lý luận liên quan  
đến thực hiện pháp luật về BĐG, đánh giá việc thực hiện pháp luật về BĐG ở  
phạm vi rộng, hẹp khác nhau, nội dụng khác nhau hoặc gắn với địa phương cụ  
thể và điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể, đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm  
hoàn thiện, thực hiện có hiệu quả pháp luật về BĐG. Tuy nhiên, cho đến nay  
chưa có công trình nào đề cập đến thực hiện pháp luật về BĐG dưới góc độ  
luật học tại tỉnh Quảng Ngãi, cũng như chưa có công trình nghiên cứu về thực  
hiện pháp luật về BĐG có những điều kiện kinh tế, xã hội tương đồng. Các  
vấn đề lý luận đã được các công trình nghiên cứu làm rõ sẽ được tác giả tiếp  
tục kế thừa có chọn lọc, việc đánh giá thực hiện pháp luật về BĐG trong  
phạm vi rộng hẹp, nội dung cụ thể, các kiến nghị, giải pháp là cơ sở quan  
trong để tác giả tham khảo, định hướng nghiên cứu. Việc tiếp tục có những  
nghiên cứu mang tính hệ thống, khoa học về thực hiện pháp luật về BĐG tại  
địa phương, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị thực hiện có hiệu  
quả pháp luật về vấn đề này trong thời gian đến là không trùng lặp với các  
công trình đã công bố và có ý ngĩa lý luận và thực tiễn.  
5
3. Mục đꢌch và nhiệm vụ nghiên cứu  
3.1. Mục đích nghiên cứu  
Nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật về BĐG, trên cơ sở đó đề  
xuất các giải pháp nhằm tăng cường thực hiện pháp luật về BĐG tại tỉnh  
Quảng Ngãi trong thời gian đến.  
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu  
- Làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về BĐG và thực hiện pháp  
luật về BĐG.  
- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về BĐG trên địa bàn tỉnh  
Quảng Ngãi thời gian qua.  
- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm tăng cường việc thực hiện  
pháp luật về BĐG tại tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian đến, phù hợp với điều  
kiện cụ thể của địa phương và yêu cầu đổi mới hiện nay.  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
4.1. Đối tượng nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc thực hiện pháp luật về  
BĐG và một số vấn đề có liên quan đến thực hiện pháp luật về BĐG.  
4.2. Phꢀm vi nghiên cứu  
- Về không gian: Luận văn tập trung vào hoạt động thực hiện pháp luật  
về BĐG trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.  
- Phạm vi về thời gian: Các dữ liệu nghiên cứu từ năm 2007 đến 2017.  
5. Cơ sở lý luận và thực tiễn  
5.1. Cơ sở lý luận  
Nghiên cứu trên cơ sở của phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật  
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt  
Nam về nhà nước và pháp luật, về cải cách tư pháp.  
5.2. Phương pháp nghiên cứu  
Luận văn kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu và sử dụng ở mức  
độ khác nhau trong những nội dung khác nhau như: Phương pháp phân tích -  
6
tổng hợp; phương pháp luật học so sánh; phương pháp nghiên cứu trường  
hợp điển hình, khảo sát thực tiễn; phương pháp chuyên gia; phương pháp  
lịch sử.  
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn  
Làm rõ hơn một số vấn đề lý luận và thực hiện pháp luật về BĐG.  
Nhận thức được những kết quả đạt được, hạn chế yếu kém và nguyên  
nhân trong thực hiện pháp luật về BĐG trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.  
Đề xuất một số giải pháp khả thi nhằm thực hiện có hiệu quả pháp luật  
về BĐG trên điạ bàn tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian đến.  
Bên cạnh đó, luận văn còn là nguồn tham khảo cho các nhà quản lý, các  
cán bộ, công chức, viên chức tại địa phương khi thực hiện các nhiệm vụ,  
quyền hạn có liên quan đến BĐG và pháp luật về BĐG và những ai quan tâm  
đến vấn đề này.  
7. Kết cấu của luận văn  
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung  
của luận văn gồm 3 chương:  
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật trong thực hiện pháp luật  
về bình đẳng giới  
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về bình đẳng giới từ thực  
tiễn tỉnh Quảng Ngãi  
Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường thực hiện pháp luật  
về bình đẳng giới từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi.  
7
CHƯƠNG 1  
NHỮNG VẤN Đꢇ LÝ LUꢆN VÀ PHꢅP LUꢆT  
TRONG THꢄC HIꢁN PHꢅP LUꢆT Vꢇ BꢈNH ĐꢉNG GIꢊI  
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò thực hiện pháp luật về bình đẳng giới  
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm thực hiện pháp luật về bình đẳng giới  
Để nhận thức một cách đúng đắn, khoa học về khái niệm, đặc điểm thực  
hiện pháp luật BĐG cần làm rõ một số khái niệm sau.  
1.1.1.1. Giới và bình đẳng giới  
Giới là khái niệm ra đời từ khoa học xã hội học, là phạm trù chỉ quan  
niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ, xã hội tạo ra và  
giành cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới với các đặc điểm  
giới khác nhau. Đặc điểm giới rất đa dạng và có thể thay đổi được, nói về giới  
là nói về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quan niệm hay quy định  
cho nam giới và phụ nữ. Tại khoản 1 Điều 5 Luật bình đẳng giới năm 2006  
quy định: “giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối  
quan hệ xã hội” [21].  
Như vậy, từ khái niệm trên cho chúng ta thấy sự khác nhau giữa khái  
niệm giới với khái niệm giới tính. Sự phân biệt hai khái niệm “giới tính” và  
“giới” nhằm phân biệt hai loại đặc điểm của phụ nữ và nam giới: Một loại đặc  
điểm do yếu tố sinh học quy định - đặc điểm giới tính, loại đặc điểm thứ hai do  
quan niệm xã hội và sự phân công lao động xã hội tạo nên - đặc điểm giới. Vì  
vậy, muốn đạt đến vấn đề BĐG tức là bình đẳng xã hội giữa nam và nữ thì vấn  
đề không phải là thay đổi các đặc điểm về giới tính, mà cần phải thay đổi quan  
niệm về vị trí, vai trò của phụ nữ và nam giới cũng như thay đổi những định  
kiến về giới, thay đổi về cách phân công lao động trong xã hội. [13, tr21].  
Có nhiều cách hiểu khác nhau và phổ biến BĐG là sự thừa nhận và coi  
8
     
trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa nữ giới và nam giới.  
Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, các thuật ngữ “bình đẳng nam nữ”,  
“nam nữ bình quyền” đã được sử dụng trong các văn bản pháp luật để thể  
hiện sự bình đẳng về địa vị pháp lý của nam nữ trong các quan hệ pháp luật  
cụ thể. Tuy nhiên, việc nam nữ bình đẳng về địa vị pháp lý không bao hàm sự  
bình đẳng của nam và nữ trong tất cả các quan hệ xã hội. [26, tr14].  
Sự BĐG được thể hiện ở nhiều phương diện như: Bình đẳng trong đối  
xử, bình đẳng về cơ hội, bình đẳng về hưởng thụ, lợi ích, bình đẳng trong  
kiểm soát và ra quyết định.....Ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt  
Nam, xuất phát từ vấn đề quyền con người, Hiến pháp đã ghi nhận quyền bình  
đẳng giữa nam và nữ trên mọi phương diện.  
Như vậy, khi đề cập đến BĐG cần được hiểu dưới các khía cạnh sau:  
Thứ nhất, BĐG không chỉ có ý nghĩa cơ học là số lượng của phụ nữ và  
nam giới tham gia trong tất cả các hoạt động là như nhau.  
Thứ hai, BĐG có nghĩa là nam và nữ được hưởng các thành quả một  
cách bình đẳng.  
1.1.1.2. Pháp luật về bình đẳng giới và thực hiện pháp luật về bình đẳng  
giới  
Pháp luật là một khái niệm phức tạp, trải qua các thời đại và các khu vực  
trên thế giới, những vấn đề như bản chất, nguồn gốc, vai trò, phạm vi điều  
chỉnh của pháp luật…được nhận thức một cách khác nhau. Ở Việt Nam hiện  
nay, trong giáo trình của các cơ sở đào tạo luật học cũng như trong sách báo  
pháp lý tồn tại nhiều định nghĩa về pháp luật dưới góc độ là pháp luật thực  
định. Tuy nhiên, có thể thấy, các định nghĩa đó cơ bản chỉ khác nhau về câu  
chữ và thể hiện quan niệm về pháp luật với tư cách là một loại quy tắc ứng xử  
của con người, một loại chuẩn mực xã hội, pháp luật có những điểm khác biệt  
so với các loại chuẩn mực xã hội khác như đạo đức, phong tục tập  
9
quán…Theo giáo trình Lý luận về nhà nước và pháp luật của Trường Đại học  
Luật Hà Nội có thể hiểu, “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử do nhà nước  
đặt ra hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội  
theo mục đích, định hướng của nhà nước”. [29, tr212].  
Từ khái niệm trên có thể thấy, pháp luật có một vai trò rất quan trọng  
trong đời sống xã hội nói chung, là công cụ và phương tiện có vai trò dẫn dắt  
và chi phối xã hội bằng việc kiến tạo môi trường, cơ hội pháp lý như nhau đối  
với các thành viên trong xã hội để phát huy khả năng của mình để phát triển.  
Pháp luật xã hội chủ nghĩa là phương tiện có khả năng bảo đảm bình đẳng  
trong xã hội, bởi vì pháp luật của nhà nước xã hội chủ nghĩa là những giá trị  
bình đẳng mà xã hội có, xã hội cần và ủng hộ. Bên cạnh đó, pháp luật xã hội  
chủ nghĩa còn là phương tiện để nhà nước điều hòa lợi ích giữa các tầng lớp  
xã hội, bảo đảm cho xã hội phát triển hài hòa và ổn định, là phương tiện để  
nhà nước thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền  
công dân, giữ gìn an ninh, an toàn xã hội cho con người.  
Dưới góc độ khoa học pháp lý, chỉ những xử sự phù hợp với những quy  
định của pháp luật, được tiến hành bởi những chủ thể có đủ khả năng nhận thức  
được yêu cầu của pháp luật, có khả năng tự mình xác lập, thực hiện hành vi do  
pháp luật quy định…thì mới được coi là biểu hiện thực tế của việc thực hiện  
pháp luật, theo đó, có thể hiểu “Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động  
có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành  
những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật”. [30, tr454]. Như  
vậy, sau khi được ban hành, để phát huy được vai trò của mình pháp luật phải  
được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng và tự giác thực hiện, vì thế trên thực tế,  
thực hiện pháp luật là quá trình các chủ thể khi gặp tình huống, sự kiện mà quy  
phạm pháp luật đã dự liệu trước, từ nhận thức chuyển hóa chúng vào tình  
huống cụ thể đó bằng hành vi thực tế, hợp pháp của mình.  
10  
Thực hiện pháp luật về BĐG là một quá trình nên có tính liên tục,  
thường xuyên, được xem là bộ phận quan trọng trong tổng thể các biện pháp  
thúc đẩy BĐG trên các lĩnh vực gắn với bảo đảm công bằng xã hội, hướng  
đến phát triển bền vững. Các chủ thể này phải là chuẩn mực trong tuân thủ,  
chấp hành và áp dụng pháp luật, nhà nước có trách nhiệm thiết lập các thể  
chế, thiết chế hỗ trợ nam giới và phụ nữ thực hiện pháp luật, giúp họ tiếp cận  
pháp luật, sử dụng các thiết chế hỗ trợ trong thực hiện các chính sách, pháp  
luật BĐG.  
Đề cập đến thực hiện pháp luật về BĐG, chúng ta thấy có các đặc điểm  
sau:  
Thứ nhất, chủ thể thực hiện pháp luật BĐG có tính đa dạng, phong phú,  
trong đó, các cơ quan nhà nước là chủ thể đặc biệt vì trong quá trình thực hiện  
pháp luật về BĐG là chủ thể mang tính quyền lực nhà nước, nhân danh nhà  
nước thực hiện trách nhiệm quản lý xã hội, đảm bảo cho quyền BĐG được tổ  
chức thực hiện trên một phạm vi rộng lớn toàn quốc. Trách nhiệm của các cơ  
quan nhà nước trong thực hiện pháp luật về BĐG không giống nhau, bởi  
BĐG được thực hiện trên nhiều khía cạnh, nội dung khác nhau liên quan đến  
chức năng, nhiệm vụ khác nhau của mỗi cơ quan. Bên cạnh đó, các tổ chức  
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ  
chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các tổ chức kinh tế, các đơn vị sự  
nghiệp, các gia đình, dòng họ và công dân Việt Nam đều là chủ thể có liên  
quan đến việc thực hiện pháp luật về BĐG.  
Thứ hai, Căn cứ vào chức năng, thẩm quyền của từng cơ quan, tổ chức,  
đơn vị, cá nhân phạm vi trách nhiệm trong thực hiện pháp luật về BĐG sẽ có  
sự khác nhau. Xuất phát từ tính đặc thù trong nội dung thực hiện pháp luật về  
BĐG phạm vi thực hiện còn đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ trong quá trình thực  
hiện của các chủ thể trong phạm vi không gian, địa lý nhất định.  
11  
Thứ ba, nội dung thực hiện pháp luật về BĐG bao gồm nhiều khía cạnh  
khác nhau như: chính trị, kinh tế, lao động việc làm, giáo dục, y tế, khoa học  
công nghệ…vì bản thân các nội dung về BĐG còn có mối quan hệ tác động  
và phụ thuộc lẫn nhau. Do vậy, nội dung thực hiện pháp luật về BĐG trong  
quá trình thực hiện cần có sự phối hợp đồng bộ cả chính sách, pháp luật, giữa  
các cơ quan, tổ chức trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền  
hạn được giao.  
Thứ tư, thực hiện BĐG và pháp luật về BĐG không chỉ là mối quan tâm  
và trách nhiệm của riêng quốc gia nào, mà nó đã trở thành trách nhiệm và  
nghĩa vụ chung của cả cộng đồng quốc tế. Cộng đồng quốc tế đã thông qua  
nhiều văn bản pháp lý quy định về việc thực hiện BĐG, đây là những cơ sở  
pháp lý quan trọng đảm bảo cho các quốc gia thực hiện BĐG, cụ thể hóa các  
quy định vào pháp luật quốc gia. Việt Nam là một trong những quốc gia đầu  
tiên trên thế giới ký tham gia Công ước Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối  
xử với phụ nữ (CEDAW), ngày 29/7/1980 và phê chuẩn ngày 27/11/1981.  
Điều 4 Công ước khẳng định: “Việc các nước tham gia Công ước thông qua  
những biện pháp đặc biệt tạm thời nhằm thúc đẩy nhanh sự bình đẳng trong  
thực tế giữa nam và nữ sẽ không bị coi là phân biệt đối xử theo định nghĩa đề  
ra tại Công ước này nhưng sẽ không vì thế mà đưa đến việc duy trì những tiêu  
chuẩn không bình đẳng hoặc khác nhau. Những biện pháp này sẽ chấm dứt  
khi các mục tiêu bình đẳng về cơ hội và đối xử đã đạt được” [17].  
1.1.2. Vai trò thực hiện pháp luật về bình đẳng giới  
Vai trò của pháp luật có thể được xem xét ở nhiều góc độ, mức độ, nhiều  
khía cạnh khác nhau, tuy nhiên, để nhận thức một cách toàn diện và sâu sắc  
vai trò của pháp luật, cần phải đặt pháp luật trong từng mối quan hệ cụ thể  
giữa nó đối với sự vật, hiện tượng khác. Theo Giáo trình Lý luận chung về  
nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội, có thể xem xét vai  
12  
trò của pháp luật đối với xã hội, vai trò của pháp luật đối với lực lượng cầm  
quyền, vai trò của pháp luật đối với nhà nước, vai trò của pháp luật đối với  
các công cụ điều chỉnh khác. [29, tr268,278, 281]. Dưới góc tiếp cận đó, tác  
giả đồng tình với nhận định của Lê Thị Thu Hường tại công trình [14,  
tr14,15] và một số tác giả khác khi thực hiện pháp luật về BĐG pháp luật thể  
hiện một số vai trò sau:  
1.1.2.1. Hiện thực hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và  
pháp luật của nhà nước vào thực tiễn đời sống xã hội  
Thực hiện pháp luật về BĐG là cách thức, biện pháp cơ bản nhất để  
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước được  
thực hiện trên thực tế. Nhà nước thể chế hóa chủ trương, đường lối lãnh đạo  
của Đảng đối với việc thực hiện BĐG thành pháp luật, nội dung pháp luật  
BĐG là chủ trương, quan điểm, chính sách của Đảng đối với BĐG. Do vậy,  
thực hiện pháp luật về BĐG là cách thức cơ bản, có hiệu lực, hiệu quả nhất để  
chủ trương, chính sách đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả trong điều  
chỉnh các quan hệ xã hội, qua đó giúp Đảng, Nhà nước kiểm nghiệm tính  
đúng đắn của các chính sách, pháp luật đã được ban hành trong thực tiễn để  
kịp thời sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, phát hiện, uốn nắn những sai sót trong  
tổ chức thực hiện để bảo đảm thực hiện tốt hơn các chính sách, pháp luật về  
BĐG trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội.  
1.1.2.2. Đảm bảo các mục tiêu phát triển bình đẳng giữa nam và nữ  
Đảm bảo nguyên tắc "nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống  
xã hội và gia đình” là tiền đề quan trọng cho thực hiện tiến bộ xã hội và công  
bằng xã hội. Thực hiện pháp luật về BĐG là một trong những phương tiện  
thực hiện mục tiêu của Nhà nước ta là, xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ  
hội như nhau cho nam và nữ, tiến tới BĐG thực chất giữa nam và nữ trong  
mọi lĩnh vực. Là phương thức đề cao trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm  
13  
quyền trong bảo đảm công bằng chính trị - xã hội; bảo đảm BĐG góp phần  
thúc đẩy phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn, chủ động hơn, đóng góp ngày  
càng lớn hơn cho phát triển của cộng đồng, đất nước.  
1.1.2.3. Góp phần nâng cao ꢀ thức pháp luật của các cơ quan, tổ chức,  
cá nhân về pháp luật nói chung và pháp luật về bình đẳng giới nói riêng  
Thực hiện pháp luật về BĐG đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố,  
nâng cao ý thức pháp luật, đồng thời bồi dưỡng năng lực làm chủ để tham gia  
quản lý nhà nước và xã hội, giải quyết công việc chung của cộng đồng. Giúp  
các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân nắm vững pháp luật, nhận thức sâu  
sắc, hiểu biết đầy đủ hơn về chuẩn mực xã hội, thấy được giới hạn của các  
hành vi bình đẳng và bất bình đẳng, biết được những nguyên tắc cơ bản về  
BĐG, những hành vi bị nghiêm cấm. Hiểu biết pháp luật giúp các cơ quan, tổ  
chức, gia đình, cá nhân tôn trọng quyền hợp pháp của chủ thể khác, yêu cầu  
các chủ thể thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ, tham gia quản lý Nhà nước,  
hoạt động xã hội, góp phần thực thi công lý, bảo đảm công bằng xã hội.  
1.1.2.4. Tiếp tục khẳng định uy tín và trách nhiệm của Nhà nước trước  
cộng đồng quốc tế trong việc đảm bảo và thúc đẩy quyền con người  
Việt Nam đã có những cố gắng đáng kể trong việc thực hiện các cam kết  
quốc tế của mình về việc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt về giới, tiến tới  
BĐG thực sự. Việt Nam cũng đang cố gắng xóa bỏ những tập tục truyền  
thống đối xử bất bình đẳng với phụ nữ và trẻ em, tuy nhiên chúng ta cũng  
đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức, đặc biệt, khi thực hiện Công ước  
CEDAW trong bối cảnh hiện nay nhiều vấn đề về quyền bình đẳng của phụ  
nữ trong công cuộc đổi mới đặc biệt là phụ nữ trí thức và phụ nữ nông thôn,  
vấn đề bảo đảm quyền chăm sóc sức khỏe phụ nữ, vấn đề lao động và việc  
làm, vấn đề bạo lực gia đình.... Do đó, “việc xây dựng và hoàn thiện pháp  
luật Việt Nam về bình đẳng giới không chỉ thuần tuꢀ nhằm hoàn thiện hệ  
14  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 85 trang yennguyen 19720 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_thuc_hien_phap_luat_ve_binh_dang_gioi_tu_thuc_tien.pdf