Luận văn Ứng dụng xử lý ảnh đếm các đối tượng có ảnh chạm nhau

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG  
NGUYỄN THỊ THANH XUÂN  
ỨNG DỤNG XỬ LÝ ẢNH  
ĐẾM CÁC ĐỐI TƯỢNG CÓ ẢNH CHẠM NHAU  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÁY TÍNH  
Thái Nguyên năm 2020  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tên tôi là: Nguyễn Thị Thanh Xuân  
Sinh ngày: 10/10/1977  
Học viên lớp cao học CHK17A - Trường Đại học Công nghệ Thông tin và  
Truyền thông - Đại học Thái Nguyên.  
Hiện đang công tác tại: Trường THPT Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên.  
Xin cam đoan: Đề tài “Ứng dụng xử lý ảnh đếm các đối tượng có ảnh chạm  
nhau” do TS. Phạm Đức Long hướng dẫn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.  
Tất cả tài liệu tham khảo đều có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.  
Tác giả xin cam đoan tất cả những nội dung trong luận văn đúng như nội  
dung trong đề cương và yêu cầu của thầy giáo hướng dẫn. Nếu sai tôi hoàn toàn  
chịu trách nhiệm trước hội đồng khoa học và trước pháp luật.  
Thái Nguyên, ngày 01 tháng 10 năm 2020  
Tác giả luận văn  
Nguyễn Thị Thanh Xuân  
 
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Sau một thời gian nghiên cứu và làm việc nghiêm túc, được sự động viên,  
giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của Thầy giáo hướng dẫn TS. Phạm Đức Long, luận  
văn với Đề tài “Ứng dụng xử lý ảnh đếm các đối tượng có ảnh chạm nhau”.  
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:  
Thầy giáo hướng dẫn TS. Phạm Đức Long đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ tôi  
hoàn thành luận văn này.  
Phòng đào tạo Sau đại học Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền  
thông đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn.  
Trường THPT Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên nơi tôi công tác đã tạo điều kiện  
tối đa cho tôi thực hiện khóa học này.  
Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên,  
khích lệ, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, thực hiện và hoàn  
thành luận văn này.  
Thái Nguyên, ngày 01 tháng 10 năm 2020  
Tác giả luận văn  
Nguyễn Thị Thanh Xuân  
 
iii  
MỤC LỤC  
LỜI CAM ĐOAN ..................................................................................................... i  
LỜI CẢM ƠN .......................................................................................................... ii  
MỤC LỤC............................................................................................................... iii  
DANH MỤC CÁC BẢNG...................................................................................... iv  
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ...................................................................................v  
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................Error! Bookmark not defined.  
2.2 Đếm đối tượng có ảnh dính nhau dùng hình thái học kinh điển.......................14  
2.2.1 Hình thái học kinh điển..................................................................................14  
 
v
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ  
Hình 1.4 Đếm quả để ước tính sản lượng .................................................................4  
 
Hình 2.19 Watershed transform trên lưới ô vuông, cho các kết nối khác nhau......26  
Hình 2.26 Kiến trúc CNN .......................................................................................34  
Hình 2.31 Quy ước các hướng trong ảnh với thực hiện hình thái học có định hướng......37  
Hình 2.34 Góc thay đổi qua các trục thể hiện các điểm lõm (a) và lồi (b) của biên.…39  
vi  
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
AI- Artificial Intelligence  
Trí tuệ nhân tạo  
CNN - Convolutional Neural Networks  
Mạng nơ ron chập cuộn  
(phần mềm)  
CNN- Cellular Neural Netwwork  
Mạng nơ ron tế bào  
(phần cứng)  
Closing  
Toán tử đóng Closing  
Phép dãn nở  
Dilation  
DT - Distance Transform  
Deep learning  
Biến đổi khoảng cách  
Học sâu  
Erosion  
Phép co  
Morphological Operator  
Morphological Gradient  
Opening  
Toán tử hình thái học  
Hình thái học Gradient  
Toán tử mở Opening  
Hình thái học định hướng  
Cảm biến CCD  
OM - Oriented Morphology  
Sensor CCD (Charge Coupled Device)  
Sensor Complementary Metal-Oxide-Semiconductor (CMOS)  
Cảm biến bán dẫn ô xit kim loại  
Biến đổi Watershed  
Watershed Segmentation  
 
1
MỞ ĐẦU  
Đếm các đối tượng trong ảnh là một bài toán được đặt ra nhiều trong thực tế  
như đếm các tế bào, đếm hồng cầu trong máu qua ảnh từ kính hiển vi điện tử, đếm  
các sản phẩm công nghiệp qua các camera công nghiệp… Khó khăn lớn nhất với  
việc đếm bằng xử lý ảnh là ảnh của các đối tượng cần đếm thường dính với nhau  
gây ra kết quả sai khác so với thực tế. Cho đến nay đã có nhiều phương pháp làm  
tăng độ chính xác của kết quả đếm bằng xử lý ảnh. Tuy nhiên kết quả của các  
phương pháp đó vẫn chưa cho độ chính xác 100%. Trong bài báo này chúng tôi đề  
xuất một phương pháp mới áp dụng hình thái học có định hướng để tách các đối  
tượng bị dính nhau trong ảnh để đưa độ chính xác kết quả của các quá trình đếm có  
khả năng đạt đến độ chính xác tuyệt đối trong một số ứng dụng trong công nghiệp  
hiện nay. Thực nghiệm được thực hiện trên ảnh của các bó thép cho số lượng cây  
thép có trong bó có thể đạt độ chính xác tuyệt đối. Kết quả này có thể được ứng  
dụng thay cho việc đếm bằng thủ công trong các nhà máy cán thép hiện nay.  
Nhu cầu đếm các đối tượng có rất nhiều trong thực tiễn. Đếm thủ công bằng  
mắt là một phương pháp tự nhiên, đã có lâu đời. Nhưng ngày nay việc đếm thủ công  
đã không còn đáp ứng được nữa do tốc độ xuất hiện và tồn tại các đối tượng cần  
đếm rất nhanh, do số lượng đối tượng cần đếm vô cùng lớn, do các đối tượng trong  
nhóm dính hoặc chồng lấn lên nhau  
Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu Xây dựng thuật toán đếm đối tượng có  
ảnh dính nhau dùng hình thái học định hướng. Chúng ta thấy morphological  
gradient chỉ có tác dụng nổi biên ở các phía trong và ngoài biên cũng như nổi biên  
so với nền ảnh trong một số trường hợp và không tác dụng tách rời các đối tượng  
dính nhau. Với mục tiêu tách đối tượng tách rời các đối tượng dính nhau chúng tôi  
đưa ra một loại hình thái học mới thực hiện hình thái học dựa trên đặc điểm của  
biên ảnh tại những vị trí có biểu hiện đặc điểm của hai đối tượng “dính nhau”. Từ  
đó tiến hành xây dựng mô hình thực nghiệm đếm ảnh sản phẩm trên phần mềm  
Matlab. Do vậy em lựa chọn đề tài “Ứng dụng xử lý ảnh đếm các đối tượng có ảnh  
chạm nhau” cho đề tài luận văn tốt nghiệp.  
 
2
CHƯƠNG 1  
TỔNG QUAN ĐẾM ĐỐI TƯỢNG VÀ NHU CẦU ĐẾM  
BẰNG XỬ LÝ ẢNH  
1.1. Đếm đối tượng trong thực tế  
1.1.1 Đếm thủ công bằng mắt  
Nhu cầu đếm là một nhu cầu tự nhiên của con người. Từ lúc đi săn bắn ở  
rừng đã phải đếm xem bắt được/bắn được mấy con thú, hái được bao nhiêu quả  
rừng. Khi chưa xuất hiện số đếm con người dùng các bộ phận thân thể để nhớ số  
lượng, đánh dấu khi nhớ.  
Hình 1.1 Đếm sơ khai và trừu tượng với con số  
Số đếm ra đời cho phép con người đếm được nhiều hơn. Tuy nhiên với số  
lượng lớn sự bao quát của mắt không thể đáp ứng được. Lúc đó phải có đánh dấu, ví  
dụ đếm cây thép qua đầu bó thép mỗi cây thép đã đếm rồi thì phải bôi sơn vào để  
không đếm nhầm lại nữa.  
Hình 1.2 Đếm thủ công đầu bó thép dùng sơn và mắt thường  
           
3
Tuy nhiên với các yêu cầu đếm nhanh, đếm tự động chính xác thì phải có  
những phương pháp khác.  
Đây mới chỉ đề cập đến đếm thuần túy và chưa kể đến đếm có kiểm tra ví dụ đếm  
tiền bằng máy đếm.  
1.1.2 Đếm qua thiết bị sensor  
b) Đếm sản phẩm trên dây chuyền sản xuất  
b) Đếm người ra-vào qua cửa  
Hình 1.3 Đếm bằng sensor  
Đây là phương pháp hay được sử dụng trong công nghiệp và một số không  
gian công cộng (như bảo tàng, siêu thị, nhà ga):  
+ Với lối ra vào hẹp chỉ đủ cho một người: Một (hoặc một số) sensor tiệm cận,  
sensor hồng ngoại được bố trí để khi không có vật (hoặc người) qua thì giá trị tín  
hiệu ra của sensor là “0” khi có tín hiệu của sản phẩm hoặc của người qua thì tín  
hiệu bằng “1” và số đếm = số đếm +1.  
+ Với lối ra vào rộng: Để tránh trường hợp có 2 hay nhiều hơn số người cùng đi qua  
mà vẫn chỉ có một tín hiệu “1” thì các sensor cần bố trí theo dãy ngang từ trên  
xuống.  
Một số nhược điểm của dùng sensor là khi cường độ nhiễu của môi trường  
với biên độ lớn đến hơn 100V làm bộ điều khiển bị “treo” hoặc sensor báo tín hiệu  
sai. Đây là trường hợp dùng sensor đếm thép cây trên dây chuyền trong quá trình  
sản xuất tại nhà máy cán thép.  
   
4
1.1.3 Đếm qua ảnh  
Khái niệm “ảnh” ở đây được hiểu không chỉ là ảnh quang học thu qua các camera  
mà cả ảnh thu qua các mảng sensor (ví dụ ảnh trên thiết bị kiểm tra vị trí xe ô tô).  
Trong thực tiễn để có kết quả đếm rất nhiều trường hợp không thể sử dụng  
đếm bằng sensor và đếm bằng mắt thì không đếm xuể ví dụ đếm hồng cầu, đếm quả  
trong vườn, [1], [2], [3].  
Hình 1.4 Đếm quả để ước tính sản lượng  
Hình 1.5 Đếm hồng cầu qua kính hiển vi  
Hình 1.6 Đếm ô tô trên đường cao tốc  
     
5
1.2 Đặc điểm đếm đối tượng qua ảnh  
1.2.1 Ảnh số  
Hình 1.7 Nguyên lý máy ảnh số  
Các máy ảnh số hiện nay không phải thu và lưu trữ các ảnh thực như máy  
ảnh chụp phim mà dùng các sensor quang thu và lưu giữ các điểm ảnh thực đã được  
rời rạc hóa và chuyển sang giá trị số. Các máy ảnh đặc biệt chụp ban đêm hoặc y  
học có thể dùng các cảm biến quang ở vùng phổ tia X, tia gamma. Hai loại sensor  
quang được dùng trong các máy ảnh số thông dụng là CCD (hoặc CMOS). Trong  
hình 1.7 là nguyên lý của một máy ảnh số dùng sensor CCD. Cường độ sáng của  
đối tượng qua hệ thống ống kính tác động lên mảng sensor sẽ cho ra ở đầu ra của  
mảng sensor các điện áp khác nhau phụ thuộc độ sáng của mỗi điểm ảnh. Các gía trị  
điện áp này sẽ được bộ xử lý và bộ ADC chuyển sang các mức điện áp tương ứng  
với các giá trị số 0/1 (tức là mảng ảnh số). Để tích hợp ảnh màu cần có 3 mảng  
sensor để chuyển đổi một mảng tín hiệu quang học thành 3 nhóm tín hiệu màu cơ  
bản; chẳng hạn các nhóm RGB trong hệ màu Đỏ, Xanh lam, Xanh dương.  
Cả hai loại sensor ảnh phổ biến CCD và CMOS đều được phát triển từ giai  
đoạn cuối 1960-1970.  
Sensor CCD (Charge Coupled Device)  
CCD bao gồm một mạng lưới các điểm bắt sáng (điểm ảnh, pixel). Các điểm này  
lại được phủ các lớp lọc màu (thường là 1 trong 3 màu cơ bản: đỏ, xanh lam và  
xanh dương (Red, Green, Blue) để mỗi điểm chỉ bắt một màu nhất định. Do các  
điểm ảnh được phủ các lớp lọc màu khác nhau và được đặt xen kẽ nhau nên màu  
nguyên thủy tại một điểm của hình ảnh thật sẽ được tái hiện bằng màu từ một điểm  
     
6
ảnh chính kết hợp với các màu bù được bổ sung từ các điểm xung quanh bằng  
phương pháp nội suy.  
Hình 1.8 Nguyên lý sensor CCD. Trong hình là 3 vi điểm ảnh  
Khi chụp ảnh, cửa chập mở ra (cửa đóng/mở hệ thống thấu kính của máy ảnh),  
ánh sáng qua ống kính sẽ được lưu lại lại bề mặt chip thông qua các điểm ảnh. Thông  
tin về ánh sáng (độ sáng, màu) của mỗi điểm ảnh được chuyển đổi thành sự khác nhau  
về điện áp và sẽ được chuyển lần lượt ra bộ phận đọc giá trị điện áp này. Sau đó các giá  
trị này sẽ đi qua bộ khuyếch đại tín hiệu, rồi đến bộ chuyển đổi tín hiệu tương tự sang  
tín hiệu số (A/D converter-bộ chuyển đổi tín hiệu tương tự analog thành tín hiệu số  
digital), rồi tới bộ xử lý để tái hiện lại hình ảnh đã chụp được.  
Việc phải đọc lần lượt thông tin là do tốc độ xử lý hoàn thiện một bức ảnh  
khá chậm, ảnh ở một số vùng hoặc dễ bị thừa sáng hoặc thiếu sáng. Để xử lý vấn đề  
này, một bộ đọc ảnh có kích cỡ bằng mạng lưới các hạt sáng được bổ sung xen kẽ  
để làm tăng tốc độ xử lý ảnh mà không bị suy giảm chất lượng. Sự cải thiện này đòi  
hỏi phải có thêm không gian nhớ trên chip. Để sản xuất chip CCD cần có những  
thiết bị, phòng lab chuyên dụng, khiến cho giá thành CCD đã đắt lại càng thêm đắt.  
Hình 1.9 Sensor CCD và sensor CMOS  
   
7
Sensor CMOS (Complementary Metal-Oxide-Semiconductor)  
Với sensor CMOS, cạnh mỗi một điểm bắt sáng trên cảm biến CMOS đều có  
một mạch bổ trợ, do đó người ta có thể tích hợp các quy trình xử lý ảnh như bộ  
chuyển đổi analog/digital, cân bằng trắng vào mạch bổ trợ này, giúp cho quá trình  
xử lý bức ảnh được thực hiện rất nhanh nhờ được thực hiện ngay tại từng điểm ảnh  
đơn lẻ. Các điểm ảnh đa chức năng này (vì thế ở CMOS thế hệ mới còn được gọi là  
các điểm ảnh chủ động APS – active pixel sensor) đều có khả năng tự làm việc.  
Cũng do khả năng này mà người ta có thể tương tác với một vùng pixel nhất định  
của chip cảm biến (ví dụ như zoom số - phóng to/thu nhỏ chỉ một phần của ảnh),  
điều không thể làm được đối với CCD vì CCD đã đọc là đọc hết toàn bộ bức ảnh.  
Với khả năng tích hợp cao, bảng mạch chính sẽ không bị mất thêm không gian (vì  
tất cả đã ở trên chip), không đòi hỏi thêm các chip bổ trợ. CMOS cũng tiêu thụ rất ít  
điện năng, việc sản xuất dễ dàng vì quy trình giống như quy trình sản xuất chip máy  
tính thông dụng ngày nay hay các chip trong các thiết bị điều khiển khác, không cần  
phải đầu tư thêm phòng lab mới. Giá thành sản xuất theo đó sẽ được giảm đáng kể.  
Tuy nhiên, do mỗi một điểm nhận ánh sáng trên CMOS lại có một mạch riêng  
nên khó có thể đảm bảo tính đồng nhất của mỗi mạch khi khuyếch đại. Điều này làm  
cho bức ảnh xuất ra luôn có một độ nhiễu nhất định (không mịn). Nếu như ở CCD, mỗi  
một điểm ảnh là một mặt bắt sáng khiến cho độ nhạy sáng của CCD cao hơn, dải màu  
thể hiện được nhiều hơn, độ phân giải cao hơn, thì mỗi một điểm ảnh của CMOS (bao  
gồm hạt bắt sáng và mạch khuyếch đại) khi bắt sáng sẽ có những phần ánh sáng rơi vào  
vị trí của mạch vì thế sẽ không được tái hiện. Điều này làm cho ảnh bị mất thông tin tại  
những vùng này dẫn đến độ phân giải của CMOS không cao.  
Hình 1.10 Sensor CMOS hiện tại  
 
8
Với công nghệ chế tạo chip cảm biến CMOS mới hiện tại, các vấn đề nhược  
điểm của sensor CMOS đã được khắc phục. Để giải quyết vấn đề các mạch khuyếch  
đại luôn tạo ra một độ nhiễu nhất định trên ảnh, người ta khắc phục bằng cách đọc  
ảnh trên cảm biến CMOS hai lần, mỗi lần chỉ trong vòng khoảng 10/1.000 giây. Lần  
1 đọc toàn bộ các giá trị bắt sáng của cảm biến, lần 2 chỉ đọc các giá trị của các  
mạch bổ trợ tại mỗi chip (giá trị gây nhiễu, hạt). Lấy giá trị lần 1 trừ đi giá trị lần 2  
sẽ được bức ảnh chất lượng cao, loại bỏ gần như hoàn toàn độ nhiễu. Để không bị  
mất phần thông tin ánh sáng rơi vào vị trí của mạch, người ta đã thêm vào bên trên  
của mạch một lớp chắn sáng, một vi thấu kính sẽ được phủ lên toàn bộ bề mặt của  
hạt bắt sáng và của mạch, lái ánh sáng tại mọi vị trí của điểm ảnh rơi vào vị trí của  
hạt bắt sáng.  
Nhờ vào các ưu điểm và việc khắc phục các nhược điểm như trên của cảm  
biến CMOS mà giờ đây cảm biến CMOS đang là lựa chọn của rất nhiều nhà sản  
xuất máy chụp hình/quay phim nổi tiếng trên thế giới. Nhờ những đột phá về công  
nghệ mới đã khiến cho chất lượng của CMOS hiện tại trở nên ngang bằng hoặc  
thậm chí là vượt qua cả tiêu chuẩn của CCD. Với nhiều tính năng được tích hợp sẵn  
hơn là CCD, cảm biến CMOS hoạt động hiệu quả hơn, cần ít điện năng hơn và chụp  
ảnh tốc độ cao tốt hơn CCD.  
1.2.2. Những thuận lợi khi áp dụng đếm bằng xử lý ảnh  
+ Dễ dàng tin học hóa, tự động hóa,  
+ Dùng được trong những trường hợp không thể dùng các phương pháp thủ  
công và cũng không dùng được các phương pháp đếm bằng cơ cấu cơ khí, đếm  
bằng sensor điện tử (ví dụ các trường hợp đếm thép cây trong nhà máy qua ảnh đầu  
bó thép, đếm hồng cầu qua ảnh thu được trên kính hiển vi điện tử).  
1.2.3 Khó khăn khi đếm đối tượng qua ảnh  
Những khó khăn khi đếm đối tượng qua ảnh là:  
+ Chất lượng ảnh phụ thuộc nhiều vào chất lượng ánh sáng khi tích hợp ảnh: Nếu  
cường độ sáng chiếu vào đối tượng mà nhỏ quá thì các các sensor không tác động  
hoặc cường độ điện áp ra thấp có nghĩa là ảnh không thấy gì hoặc chất lượng kém  
   
9
làm ảnh hưởng đến các khâu xử lý ảnh. Ngược lại khi ảnh được chiếu sáng quá mức  
hoặc bị ngược sáng thì cũng cho ảnh chất lượng xấu.  
Hình 1.11 Ảnh thiếu sáng chất lượng kém, bị mất không tin  
+ Ảnh của đối tượng bị dính (chạm) nhau hoặc chồng lên nhau.  
Hình 1.12 Ảnh hồng cầu bị chạm, chồng lên nhau  
+ Tác động của nhiễu khi tích hợp ảnh cũng là vấn đề lớn; nhất là các ảnh y học  
siêu âm khi tích hợp thường xuất hiện nhiễu đốm là một loại nhiễu khó loại bỏ.  
Trong hình 1.13. Với nhiệm vụ phát hiện, đếm ô tô nếu ta không khử được nhiễu thì  
không thể thực hiện các bước nhận dạng ô tô và đếm.  
Hình 1.13 Ảnh nhiễu và không nhiễu  
     
10  
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1  
Trong cuộc sống thực tiễn các nhu cầu đếm đối tượng có trong nhiều lĩnh  
vực. Để có thể tự động hóa việc đếm có thể sử dụng các bộ cảm biến (sensor) hoặc  
đếm qua xử lý ảnh. Rất nhiều trường hợp không thể sử dụng sensor do nhiễu hoặc  
không lắp đặt được sensor, khi đó phương pháp đếm bằng xử lý ảnh là giải pháp  
duy nhất. Tuy nhiên đếm bằng xử lý ảnh cũng có những khó khăn do bản chất của  
phương pháp là phụ thuộc ánh sáng và có thể có sai số khi các đối tượng bị  
dính/chạm nhau nếu chúng ta không có phương pháp loại trừ thích hợp.  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 76 trang yennguyen 13680 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Ứng dụng xử lý ảnh đếm các đối tượng có ảnh chạm nhau", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_ung_dung_xu_ly_anh_dem_cac_doi_tuong_co_anh_cham_nh.pdf