Luận văn Diễn biến của truyền dẫn tỷ giá tại Việt Nam: Đánh giá bằng phương pháp VARs

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH  
------  
B I TH  THU NG  
DIỄN BIẾN CỦ  TRUYỀN DẪN  
TỶ GIÁ TẠI VIỆT N M:  
ĐÁNH GIÁ BẰNG PHƢƠNG PHÁP VARs  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2013  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Tp.HCM  
-----------oOo----------  
B I TH  THU NG  
DIỄN BIẾN CỦ  TRUYỀN DẪN  
TỶ GIÁ TẠI VIỆT N M:  
ĐÁNH GIÁ BẰNG PHƢƠNG PHÁP V Rs  
Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân hàng  
Mã số: 60340201  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHO  HỌC:  
TS NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO  
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2013  
i
LỜI CẢM ƠN  
Để hoàn thành đƣợc luận văn này, tôi đã nhận đƣợc rất nhiều sự giúp đỡ  
từ thầy cô và bạn bè. Đầu tiên, tôi xin chân thành gởi lời cảm ơn đến thầy Quốc  
Bảo, ngƣời đã rất tận tình góp ý, động viên tôi trong suốt quá trình hƣớng dẫn tôi  
làm luận văn.  
Tôi cũng hết sức biết ơn các bạn học cùng lớp Tài chính doanh nghiệp  
Đêm 3 Khóa 19 Sau Đại học : Trƣơng Huệ Nam, Phan Thành Hƣng, Nguyễn Thị  
Linh, Thùy Anh; Nguyễn Hữu Tuấn - học viên cao học Khóa 17; em Nguyễn Anh  
Khoa - Super-Moderator at Master of Economics Forum, em Phú Khánh sinh viên  
đại học Khóa 35, cô Trần Thị Tuấn Anh- giảng viên khoa Toán Thống kê,… những  
ngƣời đã động viên , cung cấp một số tài liệu bổ ích giúp tôi hoàn thành luận văn.  
Tôi đặc biệt cảm ơn cô Tuấn Anh, em Khánh, Nguyễn Hữu Tuấn, đã hết sức nhiệt  
tình hỗ trợ tôi trong quá trình hiểu về mô hình VARs và phần mềm thống kê Eview  
trong một khoảng thời gian hạn hẹp để hoàn thiện cho luận văn.  
Cuối cùng, cho tôi xin gởi lời cảm ơn đến tất cả các quý thầy cô đã tận  
tình truyền đạt những kiến thức nền tảng trong hai năm tôi theo học cao học. Nhân  
đây tôi cũng có dịp bày tỏ lòng biết ơn của mình đến những ngƣời thân trong gia  
đình, những ngƣời đã dành những điều kiện tốt nhất giúp cho tôi có thể hoàn thành  
luận văn này.  
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2013  
Ngƣời viết  
Bùi Thị Thu Nga  
ii  
LỜI C M ĐO N  
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ  
từ Thầy Nguyễn Khắc Quốc Bảo. Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài  
này là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất cứ công trình nào.  
Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét,  
đánh giá đƣợc chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài  
liệu tham khảo. Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá  
cũng nhƣ số liệu của các tác giả khác, và đều có chú thích nguồn gốc sau mỗi trích  
dẫn để dễ tra cứu, kiểm chứng.  
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trƣớc nhà trƣờng về sự cam đoan này.  
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2013  
Ngƣời viết  
Bùi Thị Thu Nga  
iii  
D NH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
CPI:  
Consumer Price Index (Chỉ số giá tiêu dùng)  
Exchange Rate Pass-through (Truyền dẫn tỷ giá)  
Import Price Index (Chỉ số giá nhập khẩu)  
ERPT:  
IMP:  
IRF:  
Impulse Response Function (Hàm phản ứng đẩy)  
Nominal Effective Exchange Rate (tỷ giá hối đoái danh nghĩa hiệu dụng)  
Tỷ giá hối đoái  
NEER:  
TGHĐ:  
VAR:  
Vector Autoregression Model (Mô hình vecto tự hồi quy)  
DANH MỤC BẢNG  
Bảng 4.1:  
Bảng 4.2:  
Bảng 4.3:  
Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị  
Lựa chọn độ trễ tối ƣu cho mô hình  
Hệ số truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến các biến PRICE_OIL, IMP, CPI,  
REAL_IMPORT từ cú sốc NEER 1%  
Bảng 4.4:  
Kết quả phân rã phƣơng sai mức giải thích của các biến đến sự thay  
đổi của IMP:  
Bảng 4.5:  
Kết quả phân rã phƣơng sai mức giải thích của các biến đến sự thay  
Kết quả phân rã phƣơng sai mức giải thích của các biến đến sự thay  
đổi của CPI  
Bảng 4.6:  
đổi của REAL_IMPORT  
DANH MỤC HÌNH  
Hình 4.1:  
REAL_IMPORT do tác động của 1 độ lệch chuẩn cú sốc tỷ giá hối đoái  
Hình 4.2: Phản ứng xung của chỉ số giá tiêu dùng CPI do tác động của 1 độ lệch  
chuẩn cú sốc tỷ giá hối đoái  
Phản ứng xung của chỉ số PRICE_OIL, NEER, IMP, CPI,  
Hình 4.3:  
Phản ứng xung của chỉ số giá nhập khẩu IMP do tác động của 1 độ  
lệch chuẩn cú sốc tỷ giá hối đoái  
Hình 4.4:  
Kết quả phân rã phƣơng sai mức giải thích của các biến đến sự thay  
đổi của MPI  
iv  
Bảng 4.5:  
đổi của CPI  
Hình 4.6  
Kết quả phân rã phƣơng sai mức giải thích của các biến đến sự thay  
Kết quả phân rã phƣơng sai mức giải thích của các biến đến sự thay  
đổi của REAL_IMPORT  
MỤC LỤC  
v
7
TÓM TẮT  
Bài nghiên cứu đo lƣờng mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái bằng việc xem xét  
lại sự phát triển theo thời gian ảnh hƣởng của tỷ giá hối đoái tại Việt Nam lên mặt  
bằng giá cả thông qua giá cả nhập khẩu, chỉ số giá tiêu dùng trong nƣớc. Bằng cách  
sử dụng phƣơng pháp VAR (tự hồi quy vec tơ vector autoregression) , nghiên cứu  
này cho thấy tỷ giá truyền dẫn theo dòng thời gian đã thay đổi ra sao và bao nhiêu ?  
Thời kỳ mẩu là Tháng 01 năm 2001 đến Tháng 12 năm 2010  
Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ số truyền dẫn tỷ giá vào chỉ số giá nhập  
khẩu là -0.8502 sau 6 tháng kể từ tác động của cú sốc tỷ giá đầu tiên.  
Tƣơng tự, tỷ lệ truyền dẫn lên giá tiêu dùng trong nƣớc CPI có xu hƣớng  
tăng đều và đến kỳ thứ 11 , sau tháng thứ 11 thì giảm dần đến tháng thứ 24. Hệ số  
truyền dẫn tỷ giá vào chỉ số giá tiêu dùng trong nƣớc CPI là 0.6726 sau 11 tháng kể  
từ tác động của cú sốc tỷ giá đầu tiên, nhƣ vậy hệ số truyền dẫn vào giá tiêu dùng  
thì chậm hơn so với giá nhập khẩu 1 tháng và độ lớn cũng thấp hơn.  
Các con số ƣớc lƣợng này, mong rằng sẽ có đóng góp nhỏ trong công tác  
hoạch định chính sách vĩ mô khi công cụ tỷ giá hối đoái đƣợc sử dụng hiệu quả.  
8
PHẦN 1  
GIỚI THIỆU  
1.1. GIỚI THIỆU:  
Bài viết này xem xét lại sự phát triển theo chuỗi thời gian của biến động tỷ  
giá vào mặt bằng giá cả thông qua giá nhập khẩu, chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam  
trong ngắn hạn.  
Trong bài này, một tỷ lệ truyền dẫn đƣợc định nghĩa là một sự tƣơng ứng tỷ  
lệ phần trăm của giá hàng hóa trên thị trƣờng đích - thị trƣờng sau cùng (tức là, nơi  
nó đƣợc mua) đối với sự thay đổi tỷ lệ phần trăm trong tỷ giá hối đoái danh nghĩa.  
Nó cũng đƣợc ghi nhận trong các bài nghiên cứu là mức độ của truyền dẫn  
có thể có một kết quả quan trọng lên ảnh hƣởng của tiền tệ cũng nhƣ chính sách tỷ  
giá hối đoái.  
Ngƣời ta lƣu ý rằng, để có một cuộc thảo luận hữu ích về một cuộc cải cách  
của chế độ tỷ giá hối đoái , đầu tiên chúng ta phải có một đánh giá định lƣợng đáng  
tin cậy về mức độ truyền dẫn tỷ giá .  
Trong những năm gần đây , một số nghiên cứu chỉ ra rằng có một sự suy  
giảm trong truyền dẫn tỷ giá hối đoái , đặc biệt là lên giá cả nhập khẩu , trong khi  
những ngƣời khác đã bác bỏ khả năng này, và cuộc tranh luận đã bắt gặp nhiều sự  
chú ý từ các nhà hoạch định chính sách cũng nhƣ các nhà nghiên cứu. Đặc điểm  
chính đầu tiên của nghiên cứu này là nó sử dụng các phƣơng pháp VAR tham số  
thời gian khác nhau làm thế nào truyền dẫn tỷ giá tại Việt Nam đã phát triển theo  
thời gian.  
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:  
Bài viết đề cập đến cơ chế truyền dẫn tỷ giá đến mặt bằng giá cả trong ngắn  
hạn và các nhân tố vi mô, vĩ mô tác động đến mức truyền dẫn tỷ giá lên giá nhập  
khẩu , chỉ số giá tiêu dùng dựa trên cơ sở lý luận từ tổng hợp kết quả các bài nghiên  
cứu trƣớc đây.  
Nội dung nghiên cứu chính nhằm giải quyết vấn đề sau:  
       
9
Đo lƣờng mức độ truyền dẫn TGHĐ trong ngắn hạn vào mặt bằng giá  
cả tại Việt Nam thông qua giá nhập khẩu và giá cà tiêu dùng.  
Đo lƣờng hiệu ứng cú sốc kinh tế vĩ mô lên hiệu ứng truyền dẫn  
TGHĐ  
Qua phân tích định lƣợng, tác giả mong có một cái nhìn về việc đóng góp  
từ số liệu đến vấn đề hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô, bởi lẽ ƣớc lƣợng đƣợc  
thời gian và độ lớn của mức truyền dẫn tỷ giá vào giá cả sẽ giúp đƣa ra những quyết  
định cân nhắc hơn khi sử dụng công cụ tỷ giá của chính sách tiền tệ nhằm đảm bảo  
mục tiêu chung hƣớng đến bình ổn giá cả, ổn định kinh tế vĩ mô theo hoạch định  
kinh tế của nhà nƣớc.  
1.3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:  
Bài làm sử dụng các phƣơng pháp phân tích định tính, kết hợp với so sánh,  
tổng hợp, đối chiếu các kết quả nghiên cứu về mức truyền dẫn tỷ giá đến giá cả  
nhập khẩu, giá tiêu dùng trong nƣớc ; bên cạnh đó có sử dụng phân tích định lƣợng  
nhằm đo lƣờng hệ số truyền dẫn qua mô hình Tự hồi quy vecto - Vector  
autoregression model (VAR) phân rã phƣơng sai của mô hình này.  
Các bƣớc kiểm định, thực hiện ƣớc lƣợng của mô hình này sử dụng phần  
mềm định lƣợng thống kê Eview.  
1.4. KẾT CẤU CỦ  ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU:  
Kết cấu của bài phân tích đƣợc tổ chức nhƣ sau:  
-Phần đầu tiên giới thiệu về vấn đề nghiên cứu.  
-Phần 2 thảo luận về khung lý thuyết của truyền dẫn tỷ giá hối đoái.  
-Phần 3 trình bày phƣơng pháp nghiên cứu, lựa chọn mô hình, trình bày về  
mô hình VAR cùng những ƣu và nhƣợc điểm, giải thích các biến và nguồn dữ liệu  
dùng trong mô hình  
-Trong phần 4, trình bày kết quả đo lƣờng đƣợc từ mô hình thực nghiệm:  
Kiểm tra sự phát triển của truyền dẫn tỷ giá lên giá cả nhập khẩu, giá tiêu  
dùng trong nƣớc trong ngắn hạn  
Đo lƣờng hiệu ứng cú sốc kinh tế vĩ mô lên hiệu ứng truyền dẫn TGHĐ  
   
10  
-Phần 5 là kết luận của bài nghiên cứu về các kết quả đạt đƣợc, hạn chế của  
bài làm đồng thời gợi mở hƣớng nghiên cứu tiếp theo.  
 
11  
PHẦN 2  
THẢO LUẬN VỀ KHUNG LÝ THUYẾT  
CỦ  TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI  
Tầm ảnh hƣởng của truyền dẫn tỷ giá tác động đến cách thức nền kinh tế quốc  
nội phản ứng với những biến động trong tỷ giá.  
Từ khía cạnh nhập khẩu, khi đồng nội tệ bị đánh giá cao, nếu mức độ đƣợc  
phản ánh trong giá nguyên vật liệu thô nhập khẩu, thì sản phẩm trung gian đƣợc nhập  
khẩu và hàng hóa trong nƣớc đƣợc làm từ những nguyên liệu thô nhập khẩu với giá  
thấp (tức là tỷ giá truyền dẫn thấp), sẽ gây ra ít áp lực giảm phát hơn cho nền kinh tế  
trong nƣớc.  
Mặt khác, các hộ gia đình và công ty trong nƣớc sẽ không thể nhận đƣợc lợi  
ích nào từ giá thấp hơn của hàng hóa họ mua. Điều này ám chỉ rằng sự gia tăng trong  
số lƣợng hàng nhập khẩu sẽ bị giới hạn.  
Từ khía cạnh xuất khẩu, nếu các công ty xuất khẩu không thể truyền dẫn mức  
ảnh hƣởng cùa một đồng nội tệ mạnh đến giá cả hàng hóa nhập khẩu, khi đo lƣờng với  
một đơn vị tiền tề nƣớc ngoài (tức là tỷ giá truyền dẫn về phía xuất khẩu thấp), thì lợi  
nhuận trên một đơn vị hảng hóa xuất khẩu khi đo lƣờng bằng đồng nội tệ cũng sẽ thấp  
hơn. Trong khi đó một tranh luận cho rằng có một sự liên kết chặt giữa các đơn vị tiền  
tệ, thông qua việc gây ra sự đánh giá cao một đồng tiền, giá cả trong nƣớc thấp hơn,  
làm tệ hơn tài khoản vãng lai thông qua kích thích hàng nhập khẩu và không kích  
thích hàng hóa xuất khẩu. Vì vậy, các ảnh hƣởng xấu trên các sản phẩm đầu ra sẽ yếu  
trong trƣờng hợp tỷ giá truyền dẫn bị giới hạn.  
Mặc dù tầm quan trọng của truyền dẫn từ lâu đã đƣợc công nhận , những  
phát triển gần đây trong nghiên cứu học thuật của trƣờng phái Keaynes mới với các  
mô hình kinh tế vĩ mô mở ( hoặc " Các học thuyết mới về Kinh tế vĩ mô của nền  
kinh tế mở " ) đã đổi mới sự quan tâm của các chuyên gia trong chủ đề này.  
Không giống nhƣ các mô hình " Chu kỳ kinh doanh thực toàn cầu " mà đã  
đƣợc phát triển trƣớc đó , loại hình mô hình này đƣợc đặc trƣng bởi mức giá danh  
 
12  
nghĩa cố định cứng nhắc. Hậu quả là , tác động của các mô hình có thể thay đổi  
đáng kể tùy thuộc vào các giả định cơ bản về truyển dẫn tỷ giá hối đoái . Đáng chú  
ý nhất , tác động ban đầu trên tác động chính sách có thể bị ảnh hƣởng, phân tích lợi  
ích nhƣ vậy đã trở thành khả thi, chính xác bởi vì loại mô hình này bắt đầu với nền  
tảng vi mô vững chắc , trong đó bao gồm tận dụng hàm hữu dụng theo từng hộ gia  
đình.  
2.1. TỔNG QU N LÝ THUYẾT VỀ SỰ TRUYỀN DẪN CỦ  TỶ  
GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỨC ĐỘ TRUYỀN  
DẪN :  
2.1.1. Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và giá cả hàng hóa nhập khẩu  
_Luật một giá (LOP):  
Theo Luật một giá (LOP), các hàng hóa giống nhau đƣợc bán cùng một  
mức giá ở các quốc gia khác nhau khi tính chung một đồng tiền.  
Gọi P là giá hàng hóa theo đồng tiền của quốc gia A  
P* đại diện cho giá hàng hóa theo đồng tiền của quốc gia B  
E là tỷ giá hối đoái của đồng tiền của quốc gia A so với đồng tiền của quốc  
gia B.  
Nếu luật một giá là đúng với hàng hóa i thì giá của hàng hóa i là:  
Pi = E (1)  
Nếu LOP đúng với tất cả các loại hàng hóa ở tất cả các quốc gia thì lý  
thuyết hiệu ứng ngang giá sức mua trong điều kiện tuyệt đối tồn tại và thể hiện nhƣ  
sau:  
P = EP* (1’)  
Với P và P* là mức giá ở hai quốc gia A và B  
2.1.2. Cơ chế truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào chỉ số giá tiêu dùng  
(CPI):  
Theo Bailliu và Bouakez (2004), cơ chế truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào  
chỉ số giá tiêu dùng CPI gồm 02 bƣớc:  
     
13  
- Đầu tiên, sự thay đổi của tỷ giá hối đoái sẽ đƣợc truyền dẫn vào chỉ số giá  
nhập khẩu, mức độ và tốc độ của truyền dẫn vào chỉ số giá nhập khẩu phụ thuộc  
vào các yếu tố: kỳ vọng về thời điểm phá giá, chi phí của việc điều chỉnh giá cả và  
nhu cầu hàng hóa nhập khẩu…  
- Kế đến, sự thay đổi của chỉ số giá nhập khẩu sẽ ảnh hƣởng đến chỉ số giá  
tiêu dùng CPI. Mức độ chỉ số giá tiêu dùng CPI bị ảnh hƣởng thì phụ thuộc vào tỷ  
lệ của các hàng hóa nhập khẩu này trong rổ hàng hàng hóa tính chỉ số giá tiêu dùng  
CPI.  
Bên cạnh đó, mức độ truyền dẫn vào chỉ số giá tiêu dùng lại phụ thuộc vào  
các yếu tố: sự phá giá đồng nội tệ sẽ làm cho giá cả hàng hóa nhập khẩu cao, từ đó  
làm gia tăng nhu cầu hàng hóa nội địa.  
Điều này sẽ tạo sức ép tăng giá hàng hóa nội địa và tăng lƣơng, nếu giá cả  
hàng hóa và lƣơng tăng sẽ tiếp tục tạo sức ép lên chỉ số giá tiêu dùng trong nƣớc.  
Sự ảnh hƣởng của chỉ số giá nhập khẩu vào chỉ số giá tiêu dùng thể hiện  
qua 01 trong 02 cách sau, theo tác giả Bạch Thị Phƣơng Thảo (2011)  
_Khi hàng hóa nhập khẩu đƣợc dùng cho mục đích tiêu dùng cuối cùng, thì  
chỉ số giá nhập khẩu sẽ ảnh hƣởng đến chỉ số giá tiêu dùng.  
_Khi hàng hóa nhập khẩu là nguyên nhiên vật liệu đƣợc dùng cho quá trình  
sản xuất thì chỉ số giá nhập khẩu sẽ ảnh hƣởng đến chỉ số giá sản xuất và thông qua  
đó sẽ ảnh hƣởng đến chỉ số giá tiêu dùng.  
2.2. BẲNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN  
CỦ  TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI  
2.2.1. Bằng chứng thực nghiệm về mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối  
đoái trên thế giới:  
Obstfeld và Rogoff ( 1995), đi tiên phong trong toàn bộ vấn đề  
nghiên cứu học thuật này , phát triển một mô hình hai quốc gia theo giả định của  
truyền dẫn tỷ giá hối đoái hoàn hảo . Họ cho thấy rằng , trong mô hình của họ ,  
chính sách nới lỏng tiền tệ của một quốc gia luôn luôn cải thiện lợi ích của các quốc  
gia khác .  
   
14  
Đó là không có quốc gia nào nghèo với ủng hộ của các quốc gia giáng  
giềng . Mặt khác , Betts và Devereux (2000) phát triển một mô hình trong đó các  
công ty xuất khẩu , trong ngắn hạn , ấn định giá mà họ tính phí trong thị trƣờng đích  
trong các đơn vị tiền tệ của ngƣời mua . Nói cách khác, họ cho rằng truyền dẫn tỷ  
giá hối đoái là zero trong thời gian ngắn hạn. Kết quả cho thấy một sự mở rộng tiền  
tệ có thể cải thiện tình trạng trên. .  
Một lý do khác tại sao vấn đề truyền dẫn tỷ giá hối đoái đã thu hút nhiều sự  
chú ý trong nghiên cứu của lý thuyết kinh tế vĩ mô là, (tùy thuộc vào những gì  
ngƣời ta cho là nguyên nhân chính của sự sụt giảm truyền dẫn tỷ giá hối đoái theo  
thời gian từ báo cáo của nhiều nhà quan sát), ngƣời ta có thể rút ra tác động rất khác  
nhau đến kinh tế vĩ mô.  
Ví dụ, Taylor (2000) lập luận rằng, trong một môi trƣờng lạm phát thấp,  
các doanh nghiệp trở nên do dự hơn đối với các thay đổi của truyền dẫn trong chi  
phí sản xuất đến giá hàng hóa mà họ cung cấp.  
Phỏng đoán của Taylor cung cấp một ý nghĩa quan trọng đối với những sự  
phát triển giá cả trong tƣơng lai. Miễn là sự lạm phát thấp, ổn định đƣợc duy trì, sự  
truyền dẫn tỷ giá hối đoái vẫn còn thấp và sự lạm phát tiếp tục duy trì ở cấp thấp và  
ổn định. Điều này tạo nên một vòng luân chuyển giữa sự phát triển của giá cả và  
hành vi định giá của doanh nghiệp.Trong trƣờng hợp này, cam kết phát triển gía  
thấp và ổn định bởi ngân hàng trung ƣơng đƣợc củng cố bởi lịch sử của nó. Để  
khám phá sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào lạm phát trong tƣơng lai từ kinh tế vĩ  
mô, những nghiên cứu gần đây đã không tập trung vào định giá xuất khẩu của các  
công ty, đƣợc phân tích mạnh mẽ cho đến đầu những năm 1990, mà tập trung vào  
giá nhập khẩu của các quốc gia để ƣớc tính sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá  
nhập khẩu của các quốc gia.  
Gagnon và Ihrig (2004) phát triển điều này trong các tranh luận  
thêm. Họ đƣa ra giả thuyết rằng có một sự thay đổi chế độ chính sách tiền tệ, và cho  
rằng quan điểm chính sách này đã trở nên ngày càng mang tính kháng cự lạm phát.  
Họ cho rằng sự thay đổi này có thể có gây ra sự sụt giảm trong truyền dẫn tỷ giá.  
15  
Về phía các phân tích thực nghiệm , Campa và Goldberg (2005 ),  
trong số những nhà phân tích khác, có mối quan tâm cao trong việc phân tích truyền  
dẫn tỷ giá .  
Các nghiên cứu thuộc về dòng nghiên cứu này thƣờng lấy các giá cả trong  
nƣớc ( hoặc giá xuất khẩu hoặc giá nhập khẩu ) làm biến phụ thuộc , và sử dụng tỷ  
giá hối đoái tốt nhất có thể là nhân tố tác động giá cả, và ƣớc tính mô hình phƣơng  
trình hồi quy đơn .  
Tại Mỹ, Marazzi , Sheets, Vigfusson , Faust , Gagnon , Marquez ,  
Martin , Reeve và Rogers (2005) báo cáo rằng tỷ lệ truyền dẫn lên giá nhập khẩu  
(ví dụ , tỷ lệ phần trăm tăng bao nhiêu khi giá nhập khẩu tăng tƣơng ứng với tỷ lệ  
phần trăm sự mất giá trong tỷ giá hối đoái danh nghĩa) đã giảm từ khoảng 0,5 trong  
những năm 1980 xuống còn khoảng 0,2 .  
Ngƣợc lại, Hellerstein , Daly và Marsh (2006 ) lập luận rằng việc  
giảm này thấp hơn, đi xuống từ khoảng 0,56 đến xung quanh 0,51 .  
Đối với một số nƣớc Đông Nam Á, theo Takatoshi Ito và Kiyotaka  
(2006), sử dụng VAR phân tích những thay đổi của ảnh hƣởng truyền dẫn tỷ giá hối  
đoái trên giá trong nƣớc ở các nƣớc Đông Nam Á đƣợc xem xét sử dụng phân tích  
VAR bao gồm một số chỉ số giá cả và các biến kinh tế vĩ mô trong nƣớc cũng nhƣ  
tỷ giá hối đoái.  
Kết quả phân tích từ VAR cho thấy rằng (1) mức độ truyền dẫn tỷ giá hối  
đoái vào giá nhập khẩu là khá cao ở các nƣớc khủng hoảng kinh tế. (2) sự truyền  
dẫn đến chỉ số CPI nói chung là thấp, với một ngoại lệ đáng chú ý là Indonesia: và  
(3) ở Indonesia, cả hai phản ứng xung lực của sự biến đổi chính sách tiền tệ trƣớc  
những cú sốc tỷ giá hối đoái và truyền dẫn đến CPI đối với các cú sốc chính sách  
tiền tệ là tích cực, lớn và có ý nghĩa thống kê. Do đó, chính sách tiền tệ tích cực ở  
Indonesia cũng nhƣ mức độ cao sự đáp ứng chỉ số CPI với những thay đổi của tỷ  
giá hối đoái là yếu tố quan trọng dẫn đến những tác động leo thang của giá cả trong  
nƣớc và sự sụt giảm đáng kể, rõ ràng của tỷ giá hối đoái trong nƣớc trong giai đoạn  
hậu khủng hoảng.  
16  
Một ví dụ trong một bài nghiên cứu trong đó sử dụng các dữ liệu của  
Nhật Bản là Parsons và Sato (2008 ), các tác giả này sử dụng một bộ dữ liệu rất chi  
tiết về giá xuất khẩu của Nhật Bản. Ngoài ra, Otani , Shiratsuka , và Shirota  
(2003) phân tích sự phát triển lịch sử của truyền dẫn tỷ giá lên chỉ số giá cả nhập  
khẩu.  
Ngoài ra, Otani , Shiratsuka , và Shirota (2006) xây dựng một chỉ số giá  
nhập khầu, chỉ số này loại trừ ảnh hƣởng của dầu thô và tất cả các sản phẩm đầu  
vào khác , và kiểm định lại sự sụt giảm trong truyền dẫn tỷ giá.  
Một cách tiếp cận thực nghiệm quan trọng khác là phƣơng pháp ƣớc tính  
của mô hình vector - tự hồi quy (sau đây gọi tắt VAR) , có tính đến sự phụ thuộc  
song phƣơng có thể có giữa những biến giá cả và tỷ giá hối đoái. Bài nghiên cứu  
gần đây này cũng thuộc về dòng nghiên cứu thứ hai của nghiên cứu thực nghiệm .  
Trong phạm vi nghiên cứu học thuật này, bài nghiên cứu này có liên quan chặt chẽ  
với Ito và Sato (2008), cũng đã sử dụng dữ liệu từ các nƣớc châu Á để ƣớc tính  
VAR .  
Tƣơng ứng với mối quan tâm cao trong cả nghiên cứu học thuyết và cả  
trong thực nghiệm trong các nghiên cứu khoa học, vấn đề truyền dẫn thu hút sự  
quan tâm của các nhà hoạch định chính sách từ sự khởi đầu của việc nới lỏng tiền tệ  
gần đây trong nƣớc Mỹ .  
Nhƣ các Ban Đại diện Quỹ bắt đầu giảm lãi suất chính sách từ giữa năm  
2007 , một số đƣa ra một mối lo ngại rằng điều này có thể gây ra lạm phát trong  
nƣớc Mỹ thông qua sự mất giá của đồng đôla Mỹ .  
Mối lo lắng này một phần dựa trên sự gia tăng cổ phiếu của cả xuất khẩu và  
nhập khẩu trong GDP của Hoa Kỳ. Frederic S. Mishkin , ngƣời đã từng là một  
thành viên Hội đồng quản trị của Ban Đại diện Quỹ tại thời điểm đó , phản biện  
vấn đề này trong bài phát biểu của mình có tiêu đề " truyền dẫn tỷ giá hối đoái và  
chính sách tiền tệ " , vào ngày 07 Tháng Ba năm 2008 . Ông chỉ ra rằng sự sụt giảm  
trong truyền dẫn tỷ giá sẽ làm suy yếu ảnh hƣởng của biến động tỷ giá trên giá cả  
trong nƣớc .  
17  
Etsuro Shioji trƣớc đó đã kiểm tra sự biến động về dữ liệu lịch sử của  
truyền dẫn tỷ giá lên giá cả nhập khẩu tại Nhật Bản trong Shioji, Vu và Takeuchi  
(2007) . Khi chúng tôi chia toàn bộ thời gian mẫu thành hai phần, khoảng thời gian  
nghiên cứu sau năm 1990 đã chứng kiến sự giảm đáng kể trong tỷ lệ truyền dẫn, so  
với thời kỳ trƣớc năm 1990 . Mặt khác, không có sự khác biệt rõ ràng giữa hai mẫu  
giai đoạn phụ khi xem xét trên khía cạnh xuất khẩu.  
Shioji và Uchino ( 2009, 2010 ) kiểm tra lại robustness (độ bền vững)  
với các kết quả trƣớc đó , ví dụ , kiểm soát đối với các tác động của giá dầu, nhƣng  
kết quả về mặt định tính vẫn không có gì thay đổi . Một vấn đề với phƣơng pháp  
phân tích mẫu phụ VAR này là nó không thể biết tại thời điểm nào một sự thay đổi  
cơ cấu bắt đầu và quy trình này diễn ra nhanh nhƣ thế nào.  
Để khắc phục hạn chế này, trong bài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng  
phƣơng pháp tiếp cận TVP - VAR . Phƣơng pháp này cho phép các hệ số VAR (  
hình thức giảm) thay đổi theo thời gian. Ví dụ , điều này cho phép chúng tôi vẽ ra  
một đồ thị mô tả sự biến động của truyền dẫn tỷ giá từ tỷ giá hối đoái đến giá nhập  
khẩu . Bằng cách kiểm tra số liệu, có thể biết khi nào tỷ lệ truyền dẫn bắt đầu giảm,  
và liệu việc này xảy ra đột ngột trong một thời gian ngắn hoặc phải mất một thời  
gian dài. Bài nghiên cƣu này sử dụng phƣơng pháp này và nghiên cứu quá trình  
biến động lịch sử của tỷ suất truyền dẫn , không chỉ đối với xuất khẩu và giá nhập  
khẩu mà còn đến giá trong nƣớc. Vấn đề của truyền dẫn tác động đến giá cả hàng  
hóa Nhật Bản đã đƣợc nghiên cứu bởi Shioji và Uchino (2009) sử dụng phƣơng  
pháp VAR với việc chia mẫu, trong khi nghiên cứu này nhằm mục đích tiến hành  
một phân tích chi tiết hơn bằng cách sử dụng TVP -VAR .  
( Theo Shioji , một phƣơng pháp ƣớc lƣợng tham số thời gian khác nhau đã  
đƣợc áp dụng cho các vấn đề truyền động tỷ giá hối đoái đầu tiên của Sekine  
(2006))  
2.2.2. Bằng chứng thực nghiệm về mức độ truyền dẫn của tỷ giá ở Việt  
Nam:  
 
18  
Theo tác giả Võ Văn Minh (2009) đã đo lƣờng tác động của tỷ giá  
hối đoái truyền dẫn vào mặt bằng giá cả tại Việt Nam ,bằng việc sử dụng mô hình  
VARs, thông qua chỉ số giá nhập khẩu và tỷ lệ lạm phát trong nƣớc.  
Kết quả nghiên cứu của tác giả Võ Văn Minh cho thấy mức truyền dẫn tỷ  
giá hối đoái là 1.04 sau 6 tháng và 0.21 sau 12 tháng đối với chỉ số giá nhập khẩu.  
Và là con số âm sau 4 tháng , tích lũy sau 12 tháng là 0.13 (con số này là khá thấp  
so với các nƣớc trong khu vực) đối với chỉ số giá tiêu dùng.  
Vì thế, tác giả Võ Văn Minh cũng đã đề xuất cần có một sự linh hoạt hơn  
của cơ chế tỷ giá hối đoái , chẳng hạn nhƣ cho phép có sự biến động lớn hơn trong  
biên độ của tỷ giá hối đoái.  
Bài nghiên cứu về các yếu tố tác động đến lạm phát CPI tại Việt Nam  
giai đoạn từ 2000-2010 của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành  
(2010), cho ra kết quả đo lƣờng đƣợc là khi Ngân hàng nhà nƣớc tăng 1% tỷ giá  
chính thức USD/VND tạo áp lực gia tăng lạm phát, đồng thời tỷ giá hối đoái giải  
thích đóng góp 19% mức lạm phát CPI sau 12 tháng , 30% sau 17 tháng.  
Bài nghiên cứu này cũng kết luận tỷ giá hối đoái là yếu tố quan trọng trong  
biến động của lạm phát, nhƣng trong bài này lại sử dụng tỷ giá chính thức giữa  
đồng VND và USD (chứ không phải là tỷ giá hữu hiệu của đồng Việt Nam và đồng  
tiền của các đối tác thƣơng mại chính yếu với Việt Nam)  
Bài nghiên cứu của tác giả Bạch Thị Phƣơng Thảo (2011), bài này  
dùng phƣơng pháp VAR đo lƣờng mức độ truyền dẫn của cú sốc tỷ giá hối đoái  
danh nghĩa hiệu lực (NEER) lên các chỉ số giá tại Việt Nam trong giai đoạn từ Quý  
1-2001 đến Quý 2-2011 : bao gồm có chỉ số giá tiêu dung CPI, chỉ số giá sản xuất  
PPI, và chỉ số giá nhập khẩu IMP  
Kết quả của bài nghiên cứu đo lƣờng đƣợc là truyền dẫn tỷ giá hối đoái lên  
giá nhập khẩu IMP là lớn nhất, sau đó đến giá sản xuất PPI, và sau cùng là giá tiêu  
dùng CPI; con số cụ thể của mức độ truyền dẫn cú sốc tỷ giá vào giá cả tiêu dùng là  
0.13 sau 4 quý và 0.39 sau 5 quý  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 56 trang yennguyen 12720 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Diễn biến của truyền dẫn tỷ giá tại Việt Nam: Đánh giá bằng phương pháp VARs", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_dien_bien_cua_truyen_dan_ty_gia_tai_viet_nam_danh_g.pdf